Việt Nam thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc

Việt Nam thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc

Thời kỳ dựng nước và Bắc buộc của nước ta khá dài, kéo dài đến 1000 năm. Bài viết xin được tóm tắt theo trình tự thời gian để các bạn tiện theo dõi.

Xem thêm: Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Thời kỳ sơ khai

  • Thời kì đồ đá: cách đây 30 vạn năm, di tích núi Đọ (Thanh Hoá), người vượn Việt Nam, văn hoá Sơn Vi.
  • Thời kì đồ đá giữa: cách đây một vạn năm, văn hoá Hoà Bình, nghề nông xuất hiện.
  • Thời đại đề đá mới: cách đây 5 nghìn năm, văn hoá Bắc Sơn, văn hoá Bàu Tre.

Tiếp theo những nền văn hoá trên, những trung tâm văn minh của nhà nước sơ kỉ đầu tiên như: văn minh Đông Sơn, văn minh Sa Huỳnh, văn minh Ốc Eo… trên nền tảng của những nền văn minh này đã hĩnh thành nhà nước sơ kì đầu tiên cùa người Việt cổ mà truyền thuyết dân gian gọi là nước Văn Lang của các vua Hùng.

Thời kì vua Hùng bắt đầu dựng nước

Hùng Vương tôn 18 vị vua cách đây khoảng hơn 4000 năm. Theo sử cũ và truyền thuyết, bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt sống ở các vùng trung du, đồng bằng châu thổ và hồng chục bộ lạc Âu Việt sống chủ yếu ở vùng Việt Bắc. Các bộ lạc sống xen kẽ nhau hình thành các vùng dân cư. Do nhu cầu trị thuỷ và chống xâm lấn, thủ lĩnh bộ lạc Lạc Việt đứng ra thổng nhất các bộ lạc, dựng nước Văn Lang, ông xưng vua, sử gọi là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ), con cháu ông đời đời mang danh hiệu đó. Hàng năm hội đền Hùng mở vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, nhân dân quen gọi là ngày giỗ tổ.

Đời Hùng Vương thứ sáu, nước có giặc Ân. Vua sai người đi cầu hiền, phát hiện cậu bé làng Gióng, có tài ăn khoẻ, giỏi đánh giặc. Đánh tan giặc Ân, cậu bé làng Gióng trở về trời và được nhân dân gọi là Phù Đổng Thiên Vương hay Đức Thánh Gióng.

Nhà Thục thế kỉ thứ 3 trước công nguyên. Do sự suy yếu của triều đại Hùng Vương cuối cùng, Thục Phán- một thù lỉnh người Âu Việt ở miền núi đã hợp nhất nước Văn Lang của người Lạc Việt, dựng nước Âu Lạc tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh- Hà Nội).

Dưới thời An Dương Vương, người Âu Lạc đã chế ra hàng loạt mũi tên đồng, được gọi là nỏ thần và xây dựng thành Cổ Loa với 9 lớp xoáy trôn ốc- một kì công về kĩ thuật quốc phòng (nay còn di tích ở huyện Đông Anh- Hà Nội).

Nước Âu Lạc bị quân Tàn nhòm ngó, tướng của nhà Tàn là Triệu Đà đã cho con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôn vớì công chúa Mỵ Châu con gái vua An Dương Vương để đánh cắp nỏ thần. Câu chuyện tình lịch sử Mỵ Châu, Trọng Thuỷ đã để lại bài học cảnh giác cho các thế hệ đời sau. Nồm 179 trước công nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính, bắt đầu thời kỉ hơn một nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ.

Thời kỳ bắc thuộc - Khởi nghĩa hai bà Trưng
Thời kỳ bắc thuộc – Khởi nghĩa hai bà Trưng

Hơn một ngàn năm Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Trong hơn một ngàn nồm bị đô hộ bởi các triều đại phong kiến phương Bắc, người Việt cổ không ngừng đấu tranh đế giành độc lập tự do cho đất nước.

  • Năm 40- 43: khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa sớm nhất và cũng thành công nhất của cộng đồng ngưòi Việt dưới sự lãnh đạo của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị thuộc dòng dõi quý tộc thời Vua Hùng.
  • Năm 248: khởi nghĩa Bà Triệu. Bà tên là Triệu Thị Trinh, quê ô vùng núi  Thanh Hoá. Bà đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô và hi sinh lúc 23 tuổi.
  • Năm 542: khởi nghĩa Lí Bí. Ông quê ở Long Hưng (Thái Binh), có tài văn võ, làm quan với nhà Lương, sau bỏ quan về tập hợp lực lượng khởi nghĩa. Năm 544, cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, ông lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.
  • Năm 548: khởi nghĩa Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương). Sau khi được Lí Nam Đế trao quyền lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chóng quân Lương, Ông đưa quân về Dạ Trạch (Bãi Màn Trò, Hưng Yên) để tiếp tục cuộc kháng chiến. Năm 548, ông lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương, dân gian quen gọi ông là Dạ Trạch. Vương.
  • Năm 791- 802: khởi nghĩa Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) Ông xuất thân là hào trưởng đất Đường Lâm (Ba vì – Hà Tây Năm 791 ông cùng các tướng lĩnh bất ngờ tiến đánh thành Tống Bình (Hà Nội). Chiếm được thành, ông xây dựng cơ đồ và được nhân dân tôn vinh là Bố Cái Đại Vương. Đền thờ ông ngày nay còn ở Đường Lâm (Hà Tây).

Năm 938, khi quân Nam Hán ngấp nghé ngoài bờ cõi, Ngô Quyền người Đường Lâm (Hà Tây), được nhân dân ủng hộ đã tập hợp lực lượng tổ chức kháng chiến, ông bố trí, một trận địa cọc gỗ nhọn đầu bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi nước thuỷ triều lên, ông cho quân ta nhử thuyền địch tiến vào sông, chờ khi nước thuỷ triều rút, quân ta bắt đầu tấn công dữ dội, thuyền địch hoảng sợ tháo chạy va vào cọc nhọn đắm gần hết.

Dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền, chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 đã kết thúc hoàn toàn thời kì mất nước kéo dài hơn một nghìn năm và mở đầu một thời kỉ độc lập dân tộc.

Sau thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc là thời kỳ Việt Nam qua các triều đại phong kiến mời các bạn xem tiếp tại đây

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *