Loading

wait a moment

Việt Nam qua các triều đại phong kiến

Việt Nam qua các triều đại phong kiến kéo dài khoảng 1000 năm (từ đầu thế kỉ thứ X đến đầu thế kỉ XX).

Xem thêm:

Việt Nam thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc

Lịch sử Việt Nam thời kỳ sơ khai

Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Việt Nam qua các triều đại phong kiến
Việt Nam qua các triều đại phong kiến

Triều Ngô (939- 965)

Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền quyết định bỏ chức tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự xưng vương, đổng đô ở Cổ Loa- Kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời An Dương Vương.

Triều Đinh (967- 980)

Sau khi Ngô Quyền mất, em vợ là Dương lầm Kha cướp ngôi nhà Ngô, các tướng lĩnh không chịu thần phục, mỗi người cát cứ một phương hình thành 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh con nuôi của thủ lĩnh Trần Lãm, sứ quân Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Tràn Lãm chết, Đinh Bộ Lỉnh được trao quyền, đã dẹp xong loạn 12 sứ quân thu giang sơn về một mối, lập nên nhà Đinh. Ồng lên ngôi vua hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Triều Đinh gồm hai đời vua.

  1. Đinh Tiên Hoàng (968- 979)
  2. Đinh Phế Đế (Đinh Toàn, 979- 980) lên ngôi vua khi vừa 6 tuổi.

Triều Trần Lê (980-1009)

Lê Hoàn người làng Thọ Xuân Thanh Hoá. Dưới Triều Đinh ông được phong làm thập đạo tướng quân. Khi cha con Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết hại, Đinh Tòan mới 6 tuổi lên làm vua, nhân cơ hội đó, triều đình nhà Tống cho quân sang xâm lược nước ta. Vì lợi ích của dân tộc, Thái hậu Dương Vân Nga đã trao ngôi vua cho Lê Hoàn, ông là người tổ chức cuộc kháng chiến chống xâm lược Tống lần thứ nhất ở Ải Chi Lăng (Lạng Sơn) và trên sông Bạch Đằng năm 981. Ông lên ngôi vun là Lê Đại Hành, mở đầu triều Tiền Lê. Triều Tiền Lê gồm 3 đời:

  1. Lê Đại Hành (Lê Hoàn, 980-1005)
  2. Lê Trung Tồng (Lê Long Việt, 1005)
  3. Lê Ngoạ Triều (Lê Long Đĩnh, 1005-1009).

Triều Lý (1009-1225)

Khi Lê Ngoạ Triều mất, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra triều Lý. Năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định rời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Tại kinh thành Thăng Long, nhà Lý cho xây dựng nhiều lâu đài, cung điện, đền chùa và thành luỹ bảo vệ. Năm 1054 nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt năm 1070 cho xây dựng Văn Miếu, mở Quốc Tử Giám, năm 1075 mở khoa thi đầu tiên để tuyển lựa nhân tài và đào tạo quan lại cho đất nước.

Dưới thời Lý, Phật gĩáo được truyền bá rộng rãi, nhiều nhà sư tham gia triều chính. Đạo Phật, đạo Nho chi phối đời sống xã hội. Các hình thức nghệ thuật phát triển mạnh: tuồng, chèo, múa hát, xiếc, rối nước. Triều Lý gồm 9 đời vua:

  1. Lý Thái Tổ (Lý Công Uần, 1010-1928). ông là người quyết định rời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long.
  2. Lý Thái Tông (Lý Phật Mã, 1028-1054).
  3. Lý Thánh Tông (Lý Nhật Tồn, 1054-1072).
  4. Lý Nhân Tông (Lý Càn Đức, 1072- 1128) ông là con trưởng của Lý Thánh Tông, mẹ là bà Nguyên phi Ỷ Lan, lên ngôi lúc 7 tuổi. Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan phải buông rèm nhiếp chính. Nhà Tống coi đó là một thời cơ tốt, xúc tiến mạnh mẽ công việc xâm lược nước ta. Lý Thường Kiệt là người trực tiếp đảm nhiệm sứ mệnh tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược, ông cho xây dựng phòng tuyến sông Cầu và bố trí kế hoạch kháng chiến. Trong khí thế quyết đánh thắng kẻ thù xâm lược, Lý Thường Kiệt đã viết lên bài thơ bất hủ “Nam quốc sơn hà”. Bài thơ đã được ghi vào lịch sử như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta sau hơn một nghìn năm bị phong kiến nước ngoài đô hộ.
  5. Lý Thần Tông (Lý Dương Hoán, 1128-1188).
  6. Lý Anh Tông (Lý Thiên Tồ, 1138-1175).
  7. Lý Cao Tông (Lý Long Cán, 1176 -1219).
  8. Lý Huệ Tông (Lý Sẩm, 1211-1224).
  9. Lý Chiêu Hoàng (Phật Kim, 1224-1225).

Triều Trần (1226-1400)

Một triều đại rực rỡ, thịnh vượng trong lịch sử dân tộc. Triều Trần đã tổ chức 3 cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thắng lợi cùng với chiến công oanh liệt ở Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương… nhất là trận Bạch Đằng, đã tiêu diệt hàng chục vạn quân xâm lược, làm cho kẻ thù phải khiếp sợ không dám xâm phạm đến nước ta.

Nét đặc biệt của các ông vua đời Trần là không ở ngai vàng suốt đời, sau một thời giạn trị vì, các vị vua thường nhường ngôi cho con lui về làm Thái thượng hoàng. Triều Trần gồm 12 đời vua:

  1. Trần Thái Tồng (Trần Cảnh, 1225-1258), ông tổ chức cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông lần thứ 1 thắng lợi.
  2. Trần Thánh Tông (Trần Hoảng,1258-1278).
  3. Trần Nhân Tông (Trần Khâm, 1279-1293). Trong thời gian, 14 năm, ông đã tổ chức hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thắng lợi, đã là cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288). Sau năm 1288, nhà Nguyên thỉnh thoảng kiếm chuyện hạch sách hay đe doạ,nhưng ý chí xâm lược của kẻ thù về cơ bản đã bị đánh bại. Năm 1293, ông nhường ngôi cho con là Anh Tông, làm Thái thượng hoàng và lên Yên Tử tu và trở thành vị tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc lâm.
  4. Trần Anh Tông (1298 – 1814)
  5. Trần Minh Tông( 1329) 6, Trần Hiến Tông (1320 – 1341)
  6. Trần Dụ Tông (1341-1369)
  7. Trần Nghệ Tông (1370- 1372)
  8. Trần Duệ Tông (1373- 1377)
  9. Trần Phố Đế (1377-1388)
  10. Trần Thuận Tông (1388- 1398). Trong những năm ông trị vì, việc nước hoàn toàn nằm trong tay bố vợ là Hồ Quý Ly. Tháng 8-1388 Hồ Quý Ly ép Thuận Tông nhường ngổi cho con là Trần Ấn đổ đi tu.
  11. Trần Thiếu Đế (Trần Áng, 1398-1400). Trần Thiếu Đế lên ngôi khi 3 tuổi, quyền hành nằm trong tay Hồ Quý Ly. Năm 1400, Hồ Quý Ly bức Thiếu Đế nhường ngôi, lập ra vương triều mới – Triều Hồ.

Dưới Triều Trần có nhiều vị vua anh hùng như: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và nhiều nhân vật nổi tiếng khác: Trần Hưng Dạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư… Trong lĩnh vực tư tưởng, văn học cố những học giả xuất sác như: Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Nguyễn Thuyên. Về y học có danh y Tuệ Tĩnh là một nhà y học, dược học lỗi lạc đã nghiên cứu thành công nhiều loại cây cỏ trong nước để chữa bệnh.

Triều Hồ (1400 -1407)

Nhà Hồ cho phát hành tiền giấy, cải cách chế độ thi cử, lập quãng tế tự chữa bệnh cho dân. Về quân sự tăng cường đội quân thường trực, xây dựng các phòng tuyến phòng thủ, lập xưởng đúc binh khí. Lấy cớ Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, quân Minh đã sang xâm lược nước ta. Tháng 6-1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Quý Ly.

Cuộc đấu tranh chống ách đô hộ nhà Minh (1407-1427)

Năm 1407, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo bị thất bại nhưng đã xuất hiện nhiều cuộc khởi nghĩa trong số có các cuộc khởi nghĩa lớn như: khởi nghĩa Trần Ngoi (Giản định Đế 1407  – 1409), cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng (1409- 1413),.. Các ông tập hợp được một số quý tộc yêu nước được nhân dân ủng hộ, đã tiến hành cuộc khởi nghĩa chống quân Minh. Nhưng do uy tín và năng lực hạn chế của những người lãnh đạo nên cuộc khởi nghĩa không phát triển và cuối cùng thất bại. Tuy nhiên cũng do những cuộc khởi nghĩa trên mà nhà Minh phải mất 7 năm sau (1407-1414) mới thiết lập xong chính quyền đô hộ ở nước ta.

Trong những cuộc khởi nghĩa lớn phải kể đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo (1418 -1428). Sau mười năm chiến đấu bền bỉ, gian khổ, ngoan cường, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã thắng lợi vẻ vang, đập tan ý chí xâm lược của nhà Minh, nền độc lập của đất nước nhờ đđ được giữ vững gần 4 thế kỉ (đầu thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII), không bị nạn ngoại xâm của phong kiến phương Bắc đe doạ.

Triều Lê (1428-1527)

Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi lên làm vua lấy hiệu là Lê Thái Tổ. ông ban bố bản Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi soạn thảo). Bình Ngô đại cáo được coi như bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của dân tộc. Dưới triều Lê, các nghề thủ công phát triển. Đất nước được ổn định trong suốt nửa thế kỉ. Vua Lê Thánh Tồng (vị vua thứ 4 của Triều Lê) có công trong việc xây dựng kỉ cương quốc gia và phát triển văn hoá rất lớn, bộ luật Hồng Đức được ban hành. Đây là bộ luật đầy đủ nhất của nước ta dưới chế độ quân chủ. Triều Lê gồm 10 đời vua.

  1. Lê Thái Tổ (Lê Lợi, 1428-1433)
  2. Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long, 1433-1442). ông lên ngôi vua năm 11 tuổi. Năm 1442, nhân lúc đi tuần ở miền Đông, ông cố ghé về lệ Chi Viên nghỉ và mất tại đó lúc 20 tuổi. Vụ án lệ Chi Viên đã bị bọn gian thần lợi dụng vu cho Nguyễn Thị Lộ, người thiếp yêu của Nguyễn Trãi ám hại vua, chúng kết án “tru di tam tộc” Nguyễn Trãi. Đến đời vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi mới được minh oan.
  3. Lê Nhân Tông (Bang Cơ, 1442-1459).
  4. Lê Thánh Tông (Tư Thành, 1460- 1497). Dưới thời vua Lê Thánh Tông, ông hết lòng chăm lo việc nước, mở khoa thi kén chọn hiền tài. Coi trọng việc bảo vệ biên giới quốc gia, bản đồ biên giới quốc gia Đại Việt được hoàn thành dưới triều Lê Thánh Tông, ông còn ban hành bộ luật Hồng Đức- bộ luật hoàn chỉnh và có nhiều điểm tiến bộ nhất dưới thời phong kiến nước ta. Lê Thánh Tông còn lập ra hội Tao Đàn gồm 28 ông tiến sĩ giỏi văn thơ gọi là “Tao Đàn nhị thập bát tú”.
  5. Lê Hiến Tồng (Lê Tăng, 1498-1504).
  6. Lê Túc Tồng (Lê Thuần, 6.6.1504-7.12.1504).
  7. Lê Uy Mục (Lê Tuấn, 1505-1509).
  8. Lê Tương Dực (Lê Oanh, 1509-1516).
  9. Lê Chiêu Tông (Lê Ý, 1516-1522).
  10. Lê Cung Hoàng (Lê Xuân, 1522-1527).

Mặc Đăng Dung một tướng của nhà Lê đã cướp ngôi nhà Lê vào năm 1527.

Triều Mạc (1527-1592)

Trong những năm Triều Mạc trị vì, những phe phái phong kiến núp dưới chiêu bài khôi phục nhà Lê đã nổi lên chống đối ở nhiều nơi dẫn đến cuộc xung đột Lê – Mạc hay còn gọi là xung đột Nam Bắc triều. Một viên tướng của Triều Lê là Nguyễn Kim tập hợp các thế lực chống lại họ Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim đưa Lê Duy Ninh lên ngôi vua gọi là triều “Lê Trung Hưng”. Năm 1540 được Nguyễn Kim giúp, triều Lê Trung Hưng đã chiếm giữ vùng đất từ Thanh Hoá trở vào gọi là Nam triều. Họ Mạc chiếm giữ vùng Bắc Bộ gọi là Bắc Triều.

Năm 1545 Nguyễn Kim chết, quyền hành lọt vào tay con rể là Trịnh Kiểm.

Năm 1592 Nam triều thắng Bắc triều. Như vậy họ Mạc truyền ngôi được 5 đời, tổng cộng 65 năm gồm các triều vua và thời gian, như sau:

  1. Mạc Đăng Dung (1527-1529)
  2. Mạc Đăng Doanh (1530-1540)
  3. Mạc Phú Hải (1541-1546)
  4. Mạc Phúc Nguyên (1546-1561)
  5. Mạc Mậu Hợp (1561- 1592)

Tuy vậy, các thế lực còn lại của nhà Mạc theo lời khuyên của Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) đã rút lên Cao Bằng làm cán cứ, đến năm 1677 mới bị tiêu diệt hẳn. Nhà Mạc kéo dài được 150 năm.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc triều kết thúc, nhưng đã hình thành một cơ sở cát cứ mới và nhen nhóm một ngọn lửa chiến tranh còn ác liệt hơn, kéo dài hơn. Đó là cuộc cát cứ của tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn.

Triều Lê Trung Hưng (1533- 1788)

Gồm 16 đời vua, tổng cộng 255 năm kể từ vua Lê Trang Tông (Lê Duy Minh) đến vua Lê Chiêu Thống. Tuy mang danh là triều Lê Trung Hưng nhưng thực chất quyền hành ở trong tay Nguyễn Kim và sau này là họ Trịnh.

Sau khi Nguyễn Kim chết, Trịnh Kiểm có âm mưu chiếm đoạt quyền hành và thế lực của họ Nguyễn, vì thế, Nguyễn Hoàng con trai của Nguyễn Kim phải nhờ chị gái (vợ Trịnh Kiểm) xin với anh rể vào trấn thủ đất Thuận Hoá và kiêm trấn thủ Quảng Nam để xây dựng lực lượng cát cứ.

Quan hệ giữa hai dòng họ này trở nên căng thẳng, dẫn đến cuộc xung đột kéo dài từ năm 1627 đến 1672. Cuộc nội chiến không phân thắng bại buộc phải chia đôi đất nước làm giang sơn riêng của hai dòng họ. Lấy sông Gianh làm giới tuyến, phía Bác thuộc họ Trịnh gọi là Đàng Ngoài, phía Nam thuộc họ Nguyễn gọi là Đàng Trong. Thời kì này, các cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tiếp nổ ra, trong đổ phải kể đến cuộc khởi nghĩa Tầy Sơn năm 1771 do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ chỉ huy.

Triều Tây Sơn (1778-1802)

Từ một cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Quy Nhơn, phong trào Tây Sơn đã lan rộng ra cả nước, nhanh chóng trở thành phong trào quật khởi của cả dân tộc lật đổ nền thống trị của chúa Nguyễn, chúa Trịnh, vua Lê bước đầu thống nhất đất nước sau hai thế kỉ bị chia cắt và tiến hành hai cuộc kháng chiến thắng lợi chống Xiêm (1784- 1785), Thanh (1788- 1789) bảo vệ độc lập dân tộc.

Quang Trung một lãnh tụ phong trào nông dân đã trở thành anh hùng dân tộc kiệt xuất, một thiên tài quân sự, một danh tướng trăm trận trăm thắng.

Năm 1778, quân Tây Sơn diệt được chúa Nguyễn Đàng Trong, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế lập lên triều đại tây Sơn, đặt niên hiệu Thái Đức.

Năm 1787, Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung ương Hoàng Đế đóng đô ở Quy Nhơn, Nguyễn Huệ được phong là Bắc Bình Vương cai quản miền đất từ Quảng Nam ra Nghệ An, Nguyễn Lữ giữ chức Đông Định Vương cai quản đất Gia Định.

Sau khi đánh thắng hơn 29 vạn quân Thanh Nguyễn Huệ lên ngôi vua, hiệu là Quang Trung. Quang Trung đã ra sức phục hồi kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, nhưng ồng mất sớm khi mới 39 tuổi (16- 9-1792) nên những chính sách cải cách chưa đem lại kết quả gì lớn.

Năm 1793, Quang Bản con trưởng của vua Quang Trung lên ngôi vua khi mới 10 tuổi.

Tháng 7-1802, Nguyễn Ánh có sự ủng hộ của Pháp đã diệt xong nhà Tây Sơn, lên ngôi vua đặt niên hiệu Gia Long.

Triều Nguyễn (1802- 1945)

Triều Nguyễn đống đô ở Huế, tiếp tục thống nhất quốc gia về mặt hành chính, đẩy mạnh khai hoang và phát triển văn hoá chính thống. Truyện Kiều, tác phẩm văn học lớn ra đời vào thời kì này. Hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, nhưng chính thức Quốc hiệu Việt Nam ra đời từ năm 1804- triều Gia Long. Triều Nguyễn có 13 đời vua gồm:

  1. Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh, 1802-1820).
  2. Minh Mạng (Nguyễn Phúc Đảm, 1820-1840).
  3. Thiệu Trị (Nguyễn Miên Tồng, 1841-1847).
  4. Tự Đức (Nguyễn Hồng Nhậm, 1848- 1883).
  5. Dục Đức (Nguyễn ưng Chân lên ngôi từ 1883, được 3 ngày).
  6. Hiệp Hoà (Nguyễn Hồng Dật, lên ngôi từ 1883, được 4 tháng).
  7. Kiến Phúc (Nguyễn Ưng Đãng, 1833-1884).
  8. Hàm Nghi (Nguyễn Ưng Lịch, 1885 -1886). ông đã phê chuẩn chiếu Cần Vương, kêu gọi cả nước chống giặc Pháp. Thực dân Pháp không mua chuộc nổi đã đưa vua Hàm Nghi an trí tại Angiêri.
  9. Đồng Khánh (Nguyễn Ưng Xung, 1886-1888).
  10. Thành Thái (Nguyễn Bửu Lân, 1889-1907). Thành Thái có ý thức tự cường dân tộc và cố dự định cách tân đất nước nhưng bị thực dân Pháp cản trở. Năm 1907 ông bị Pháp quản thúc ở Cáp Xanh Giắc (Vũng làu), đến năm 1916 thì đày ra đảo Rêuyniông.
  11. Duy Tân (Nguyễn Vĩnh San, 1907-1916). Cuối năm 1916, ông cùng Trần Cao Vân và Thái Phiên bàn mưu khởi nghĩa đánh Pháp. Cuộc khởi nghĩa bị bại lộ, ông bị đi đày sang đảo Rêuyniông.
  12. Khải Định (Nguyễn Bửu Đảo, 1916-1925).
  13. Bảo Đại (Nguyễn Vĩnh Thuỵ, 1926-1945).

Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Pháp do triều Nguyễn lãnh đạo đã bị thất bại. Năm 1884, đất nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, nhưng khắp từ Bắc chí Nam, nhân dân Việt Nam liên tục chống lại ách thống trị thuộc địa. Ngay trong quân đội của triều đình cũng cđ nhiều gương chiến đấu dũng cảm như Nguyễn Tri Phương đã hi sinh bảo vệ thành Hà Nội năm 1873, tiếp đổ là Hoàng Diệu năm 1882. ơ miền Nam là cuộc chiến đấu của Trương Định và Nguyễn Trung Trực. Lời tuyên bố của Nguyễn Trung Trực “Bao già nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hét người Nam đánh Tấỵ” đã thể hiện ý chí giành độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam. Có thể chia các cuộc vận động đấu tranh cứu nước ra làm những giai đoạn chính như sau:

Phong trào đấu tranh cuối thế kỉ XIX

Nổi bật trong thòi kì này là phong trào Cần Vương chống Pháp do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Phan Đỉnh Phùng ở Hà Tỉnh; Ba Đình ở Thanh Hoá, Bãi Sậy ở Hưng Yên.

Phong trào đấu tranh ở thế kỉ XX

  • Phong trào yêu nước mang tính chất dân tộc – dân chủ như: phong trào Đông Du (1904-1908) của Phan Bội Châu; Đông Kinh. Nghĩa Thục (1907) của Lương Văn Can; phong trào Duy Tân cải cách dân chủ (1906-1908) của Phan Chu Trinh.
  • Phong trào đấu tranh vũ trang: khởi nghĩa Yên Thế (1885-1913) của Hoàng Hoa Thám, khởi nghĩa Thái Nguyên (Ỉ917-1918) do Đội Cấn lãnh đạo, khởi nghía Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng (1930).

Các cuộc khởi nghĩa trên đều thất bại. Năm 1930, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi vào tháng 8-1945.

Xem thêm bài viết về thời kỳ tiếp theo Kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *