Loading

wait a moment

Trường Quốc Tử Giám (Huế)

Quốc Tử Giám (Huế) là trường đại học quốc gia ngày xưa do triều đình mở ra để đào tạo nhân tài phục vụ cho chế độ quân chủ. Dĩ nhiên, cơ quan giáo dục cao nhất trong nước ấy bao giờ cũng thiết lập tại Kinh đô. Ở Việt Nam, trường Quốc Tử Giám đầu tiên đã được thành lập chính thức vào năm 1076 đầu thời nhà Lý tại Thăng Long. Trải qua các triều Trần, Lê, trường vẫn hoạt động tại vị trí cũ nằm sau lưng Văn Miếu Hà Nội hiện nay. Đến đầu triều Nguyễn, khi chọn Huế làm Kinh đô, trường Quốc Tử Giám ấy không còn lý do để tồn tại nên được dùng làm Khải Thánh Từ. Trường Quốc Tử Giám mới được mở ra tại Huế và hoạt động mãi cho đến gần cuối triều Nguyễn.

Thật ra, theo Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục và Phan Huy Ích trong Dụ Am ngam lục, một ngôi trường thuộc loại ấy đã có tại Phủ Xuân muộn lắm cũng vào năm 1770 dưới thời vị chúa Nguyễn cuối cùng và triều Tây Sơn (1788 – 1801). Nhưng đến đầu triều Nguyễn, khi cả nước đã thật sự thống nhất thì nó mới thật sự trở thành một ngôi trường lớn của cả nước.

Sử sách và văn bia triều Nguyễn chỉ nói ngôi trường bấy giờ ở tại địa phận làng An Ninh Thượng, phía tây Kinh Thành, chứ không cho biết rõ nằm vị trí cụ thể nào. Nhưng qua một bản vẽ của Nội Các, chúng tôi thấy trường Quốc Tử Giám lúc ấy đã tọa lạc ở khu đất sát phía tây Văn Miếu hiện nay. Dưới thời Gia Long, trường ốc còn tương đối đơn giản. Qua thời Minh Mạng, người đi học ngày càng dông, quy mô của trường ngày càng to lớn, đẹp đẽ.

Vì trường ở hơi xa Kinh Thành, đi lại bất tiện, nên vào năm 1908, triều đình cho dời về bên trái Hoàng Thành như chúng ta đang thấy hiện nay.

Vị trí trường Quốc Tử Giám

Ở vị trí mới, trường Quốc Tử Giám chiếm một diện tích rất rộng, mỗi bề trên dưới 200m. Mặt bằng kiến trúc chia ra hai khu vực (cách nhau bằng đường Lê Trực hiện nay). Giữa khu vực chính (ở trước) là Di Luân Đường. Giữa khu vực phụ (ở sau) là Tân Thơ Viện (thư viện của trường). Theo một nhà nghiên cứu bấy giờ, hai tòa nhà cổ kính này vốn là Minh Trưng Các và điện Long An từ cung Bảo Định (xây thời Thiệu Trị) dời đến dựng lại vào hai năm 1908 và 1909 (A.Sallet, Musée Khai Dinh – Le pavillon: ses origines et son histoire, B A.V.H., 1929, trang 78-84). Hai bên mặt sau Di Luân Đường xây 2 phòng học. Hai bên sân trước tòa nhà ấy xây hai dãy cư xá cho học viên. Còn hai bên Tân Thơ Viện thi dựng hai ngôi nhà ở dành cho quan Tế Tửu (Hiệu trưởng) và quan Tư Nghiệp (Hiệu phó). Trong phạm vi khu vực này còn có mấy ngôi nhà khác nhau dành cho các giáo quan (thầy dạy) và nhân viên ăn ở. Hiện nay phần lớn các công trình kiến trúc ấy đều còn tại chỗ.

Riêng Di Luân Đường là một tòa nhà bằng gỗ có giá trị rất cao về kiến trúc và trang trí. Tòa nhà này được xây dựng theo kiểu trùng thiềm điệp ốc. Bên trên chính doanh là một cái gác đẹp mà phần trang trí nội, ngoại thất đều tỉ mỉ, công phu. Hầu khắp các bộ phận gồ trong tòa nhà được chạm trổ rất tinh tê và khắc khảm thơ văn ngự chế cùng xác hình ảnh cổ điển theo lối nhất thi nhất họa.

Các học viên của trường Quốc Tử Giám

Các học viên trong trường được chia ra làm 4 thành phần:

  • Tôn sinh: con em trong hoàng tộc.
  • Âm sinh: con các đại thần trong triều đình.
  • Học sinh: các thanh niên thông minh, tuấn tú trong cả nước.
  • Các “thầy tú”: những người đã thi đỗ tú tài trong các kỳ thi hương ở các tỉnh xin về học để tiếp tục thi cử nhân, tiến sĩ.

Dù 4 thành phần ấy thuộc vào các giai cấp khác nhau trong xả hội, những khi cùng học tại trường này, họ được gọi chung bằng một từ là Giám sinh (tức sinh viên Quốc Tử Giám).

Nội dung học

Sau khi được chọn lựa và thi tuyển vào học ở trường, họ được cung cấp nơi ăn chốn ở, tiền gạo, dầu đèn và lễ phục. Dù thuộc thành phần nào, nếu họ học tập lười biếng thì phạt bằng các hình thức và mức độ khác nhau, như giảm học bổng, đánh bằng roi mây, đuổi khỏi trường. Ngược lại, ai chăm học và có đức hạnh đều được khen thưởng.

Từ khi mới thành lập, Giám sinh phải học trong nhiều năm, cho đến khi thi đỗ, hoặc đến khi triều đình cần, thì bổ dụng làm việc nước. Về sau, thời gian học được ấn định là 3 năm. Trước kia, Giám sinh chỉ được nghỉ Tết khoảng nửa tháng. Từ thời Thành Thái trở đi, họ còn được nghỉ lễ, nghỉ hè.

Về nội dung của chương trình học tập, vào đầu triều Nguyễn, người ta dạy về Tứ Thư, Ngũ Kinh là những quyển sách gối đầu giường của Nho học. về sử, Giám sinh học Bắc sử (chủ ỵếu lẩ bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên) và Nam sử (chủ yếu là bộ Đậi Việt Sử Ký Toàn Thừ), về thơ văn thì học Đường thi, Tống thi, các học thuyết của Bách Gia chư tử… Ngoài ra, còn học Bộ luật Gia Long. Nói chung, họ học cả bốn loại: kinh, sử, tử, tập. Bên cạnh đó, họ còn học cách làm thơ, phú, đối, chiếu, biểu, văn sách…

Đến những thập niên đầu thế kỷ này, dưới thời Pháp thuộc, chương trình giáo dục ở trường thay đổi nhiều. Những môn học mang tính “tầm chương trích cú” dần dần được thay thế bằng những môn khoa học như toán, lý, hóa, sinh, Việt văn, Pháp văn… và từ năm 1914, trong trường còn xây thêm phòng thể thao thể dục để Giám sinh luyện tập cơ thể hàng ngày.

Tóm lại, Quốc Tử Giám là một cơ quan giáo dục cấp Nhà nước được tổ chức tương đối có kỷ cương với những công trình kiến trúc bề thê mang giá trị nghệ thuật cao. Chỉ tiếc là chương trình đào tạo của triều Nguyễn không theo kịp đà phát triển khoa học kỹ thuật của nhiều nước trên thế giới.

Dù sao, trường Quốc Tử Giám ở Huế cũng là ngôi trường đại học duy nhất của thời quân chủ còn lại tương đối nguyên vẹn trên đất nước ta. Đây là một di tích lịch sử và văn hóa rất quý cần được tôn tạo, bảo dưỡng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *