Phong tục cưới hỏi của người Việt

Phong tục cưới hỏi của người Việt

Trong cuộc sống ngày xưa cũng như ngày nay, phong tục cưới hỏi của người Việt chính là biểu hiện của nếp sống xã hội của nền văn hóa dân tộc. Nó vừa kế tục phong tục tập quán của dân tộc vừa được cách tân ngày càng văn minh theo sự phát triển của thời đại.

Từ xa xưa, người Việt vốn đã coi trọng lễ cưới, đó được coi là việc hệ trọng nhất của cuộc đời một người. Đám cưới của người Việt Nam mang đập bản sắc  văn hóa của phương Đông. Trong xã hội ngày nay, mặc dù tiếp thu nhiều cái mới, đặc biệt giới trẻ thích những lễ cưới hiện đại, tiện nghi nhưng những nghi thức quan trọng nhất của một lễ cưới thì không hề thay đổi. Bởi nó là nét văn hóa riêng của ngàn đời người Việt. Lễ cưới là một sự kiện quan trọng, nhằm công bố với xã hội sự hình thành của 1 gia đình mới.  Với người Việt Nam, đám cưới là một sự kiện trọng đại trong đời, đặc biệt đối với nam giới. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà trong 3 việc ấy thật là khó thay. Ngày cưới là ngày vui của đôi nam nữ và cũng là ngày vui của địa gia đình 2 bên. Đối với đôi trai gái yêu nhau, lễ cưới mang ý nghĩa rất thiêng liêng sâu sắc. Đây là mốc son thể hiện 2 người đã trở thành vợ chồng, cùng nhau vun đắp xây dựng cuộc sống. Và nhất là ở mỗi người phải có ý thức thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội.

Phong tục cưới hỏi của người Việt – Đám cưới thôn quê
Phong tục cưới hỏi của người Việt – Đám cưới thôn quê

Hôn nhân ngoài mục đích chính xây dựng cuộc sống lứa đôi, còn có ý nghĩa nhắc nhở đôi vợ chồng có ý thức xây dựng bảo tồn giống nòi, bảo tồn thuần phong mỹ tục, gìn giữ nề nếp truyền thống của ông cha ta.

Trong đám cưới ngoài đôi tân lang, những người làm cha mẹ là những người hạnh phúc nhất. Ngày vui của con cái cũng chính là ngày vui của bố mẹ. Vậy là sau thời gian dài nuôi dưỡng con lớn khôn, bây giờ cũng là lúc đứa con thân yêu có thể tự lo cho bản thân và lo cho gia đình riêng của mình. Từ khi người con lập gia đình bậc làm cha mẹ mới yêu lòng.

Có thể khằng định rằng, đã từ lâu, việc tổ chức lễ cưới là một phong tục không thể thiếu trong cuộc sống cộng đồng. Mà ý nghĩa xã hội của nó thể hiện ở nhiều khía cạnh, kinh tế xã hội, đạo đức, văn hóa. Lễ cưới thường là sự ghi nhận sự trưởng thành của đôi thanh niên nam nữ. Có thể thấy việc cưới xin của người Việt ta đã thay đổi rất nhiều từ xưa đến nay. Nhưng rõ ràng nhất là việc hạnh phúc của các đôi nam nữ đã tự họ quyết định, không còn cảnh cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy như ngày xưa nữa.

Theo nhiều nghiên cứu văn hóa cho thấy,phong tục cưới hỏi xuất hiện từ cách đây 3500 năm đến 4000 năm. Lễ cưới được xác lập cùng chế độ phụ quyền và dần trở thành phong tục tập quán của người Việt. Theo phong tục cổ xưa, một lễ cưới hỏi từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, phải trải qua 6 lễ chính. Đầu tiên là lễ nạp tài. Đây là lễ nhà trai đánh tiếng sang nhà gái tỏ ý nhận cô gái về làm dâu nhà mình. Tục xưa các cụ gọi là lễ chạm mặt hay dạm vợ. Sau đó là lễ vấn danh. Lễ  do nhà trai có người mối lái hỏi ngày sinh tháng đẻ của cô gái, để nhà trai xem có hợp tuổi với con mình hay không. Tiếp theo là lễ nạp cát, mang ý nghĩa báo điềm tốt cho đôi lứa và báo cho nhà gái biết. Sau đến lễ thỉnh kỳ. Nhà trai định ngày giờ tốt, báo với nhà gái. Sau lễ thỉnh kỳ là nạp lễ. Nhà trai mang lễ vật sang nhà gái và đón dâu. Đời sau, những phức tạp của nghi lễ cưới xin dần được xóa bỏ và được thiết lập thứ tự giản đơn hơn. Trước hết, nhà trai nhờ bà mối đi lại bàn bạc với nhà gái rồi định lễ cầu thân, lễ dẫn cưới. Chọn ngày đẹp làm lễ đón dâu. Ngày hôm sau chào cha mẹ vợ. Ngày thứ 3 đi lễ nhà tổ của nhà trai. Không được để nhà trai dẫn cưới đến 3-4 năm rồi mới đón dâu. Theo tiến bộ của xã hội các nghi lễ có thay đổi. Tuy nhiên vẫn có các nghi lễ chính được giữ đến tận bây giờ. Đó là 4 lế: lễ chạm ngõ,lễ ăn hỏi, lễ xin dâu, lễ cưới. đây là những nghi thức quan trọng, đòi hỏi phải tuân theo trình  tự. Lễ ăn hỏi và xin dâu là nghi lễ quan trọng nhất, mang giá trị tinh thần cao và bộc lộ nét dấu ấn văn hóa Việt.Chạm ngõ là lễ tiếp xúc đầu tiên và cũng là lễ chính thức của hai gia đình nhà trai và nhà gái. Với lễ chạm ngõ, người con gái được xem là đã có nơi có chốn. Sau lễ chạm ngõ là lễ ăn hỏi. Thông thường lễ ăn hỏi gồm 3 lễ: lễ đằng nội, lễ đằng ngoại, lễ tại gia. Lễ tại gia được chia ra và đi kèm với người được mời cưới. Dù là tầng lớp nào thì cũng không thể thiếu được cơi trầu. Với người dân Việt Nam, miếng trầu là đầu câu chuyện. Nên không thể thiếu trong các lễ ăn hỏi.

Trong lễ ăn hỏi trong phong tục cưới hỏi của ông cha ta xưa kia, kèm theo trầu cau còn có lễ vật. Như bánh xu xê, mứt sen, chè, rượu, thuốc lá. Dù lễ vật nhiều hay ít không thể thiếu bánh phu thê, một số địa phương gọi là bánh xu xê. Loại bánh này là biểu tượng của đôi vợ chồng duyên phận vẹn toàn. Những lễ vật ăn hỏi thường được đựng trong những quả chap, sơn son thiếp vàng. Những thanh niên chưa vợ, khăn áo chỉnh tể, khi đưa lễ sang nhà gái. Nếu nhà trai ở gần nhà gái, đám hỏi thường đi bộ. Trường hợp nhà trai xa nhà gái, dù là xe xích lô, xe đạp hay bây giờ là ô tô, thì phải dừng xe ở gần nhà gái, sắp xếp đội ngũ chỉnh tề rồi mới vào nhà gái. Với nghi lễ này chính thức có sự thay đổi. Cô gái chính thức trở thành vợ tương lại, trở thành con dâu tương lai trong gia đinh. Lễ ăn hỏi cũng thể thiện sự biết ơn của nhà trai đối với công lao dưỡng dục của nhà gái và thể hiện sự tôn trọng của nhà trai đối với con dâu tương lai. Bời vậy lễ ăn hỏi thường có sự góp mặt của các bậc cao niên – những người có địa vị trong gia tộc. Các lễ vật được lấy ra mỗi thứ 1 ít bày lên bàn thờ. Khi nhà trai đi về, nhà gái cũng một phần biếu lại. Lễ ăn hỏi cũng chính thức báo với bà con làng xóm, với xã hội rằng cô gái này đã có nơi có chốn, có người chính thức xin hỏi về làm vợ, không ai được đặt vấn đề hôn nhân nữa. Đồng thời tạo sự giám sát của cộng đồng  của chàng trai với các cô gái khác cũng như cô gái với các chàng trai khác. Dân gian ta có một câu nói rất thú vị, đây gọi là ngày bỏ rào tức là cô gái đã có chồng rồi, xin đừng đến nữa. Cùng trong ngày này, hai họ định luôn ngày cưới cho đôi trai gái. Mặc dù hai bên gia đình đã quy ước ngày giờ và thành phần đón dâu, nhưng để đề phòng sự bất trắc và các tin thất thiệt nên cha ông ta đã định ra lễ xin dâu. Biểu hiện sự thận trọng trong hôn lễ. Thành phần xin dâu là mẹ chồng, cô di, chú , bác thường mang 1 cơi trầu và báo trước ngày giờ sẽ đến. Nghi lễ này có ý nghĩa sâu sắc, để khẳng định với nhà gái là sẽ chắc chắn đón dâu. Nếu khi có trở ngại về thời tiết hoặc giao thông, nhà gái thông cảm và chủ động. Trường hợp hai gia đình quá gần hoặc quá xa, thì có thể miễn lễ này. Hoặc nhập lễ xin dâu vào lễ ăn hỏi làm một.

Thời gian sau khi ăn hỏi theo đúng phong tục cưới hỏi là đến lễ cưới, thông thường là dưới 10 ngày. Lễ rước dâu ngày xưa có rất nhiều thủ tục. Đi đầu đám rước là những người  giàu có, có địa vị trong làng xã. Khi đón dâu ra đến đầu làng còn có lễ chăng dây, đầu làng hoặc đầu phố, muốn đi qua phải đưa  một ít tiền. Đám cưới bắt đầu xuất hiện thiệp báo hỉ, khi đưa thiệp mới cưới thì đưa thêm chè và hạt xen. Đến nay tục này một số nơi còn được giữ lại.

Một số lễ trong cưới xin, xét ở khía cạnh nào đó cũng thể hiện được ý nghĩa nhất định. Biểu hiện truyền thống đạo đức, hiếu thảo với tổ tiên, chân trọng tình cảm vợ chồng, có trách nhiệm với làng xóm quê hương. Chính vì lý do đó , đều cho chúng ta những cảm xúc khó tả. Niềm hạnh phúc của đôi tân nương tân lang như lan tỏa đến mọi người xung quanh.

Trong các nghi thức  của đám cưới, không thể thiếu được việc thắp hương tổ tiên thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và biết ơn công sinh thành của cha mẹ. Mỗi ngày diễn ra lễ ăn hỏi và lễ cưới đều làm một mâm cơm để báo với tổ tiên. Những mâm lễ và nhà trai mang đến cũng phải dâng lên bàn thờ để tỏ long thành kình và nhớ ơn sinh thành của cha mẹ. Đó là một nét đẹp trong phong tục cưới hỏi của người Việt.

Thời xưa đôi trai gái không có quyền lựa chọn người bạn đời, không có quyền tự do kết hôn mà cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Ông bà ta xưa, khi dựng vợ gả chồng cho con, quan tâm đến việc môn đăng hậu đối của hai gia đình. Tức là sự tương đồng về kinh tế, quan hệ xã hội, tuổi tác, trình độ học vấn của hai bên cha mẹ. Đặc biệt là tung tích , gốc gác của gia tộc được đưa lên hàng đầu. Sắc đẹp của cô dâu cũng không phải là quan trọng nhất. Mà điều quan trọng là tâm tính, đạo đức của cô gái. Đến nay điều cốt lõi nhất là đôi nam nữ được tự do tìm hiểu và đi đến hôn nhân mà không bị gả ép. Tiếp nối những đám cưới truyền thống lâu đời của ông cha ta, ngày nay đám cưới được tổ chức đơn giản và nhanh gọn hơn.

Tuy rằng mỗi nơi đều có cách thể hiện riêng, nhưng đều thể hiện sự mong muốn của đôi bên gia đình có được sự khởi đầu thuận lợi. Mong cho cuộc sống vợ chồng ấm no hạnh phúc, gia đình bền vững.

Trước khi con gái về nhà chồng, cha mẹ thường gửi cho con món đồ hồi môn. Những người khách khi đến chung vui với đôi vợ chồng thường mang những món quà để chúc phúc cho họ.

Sau lễ thành hôn, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái, mang theo lễ vật để tạ ơn gia tiên gọi là lễ lại mặt. Lễ này hiện nay một số đám cưới bỏ qua. Từ sau lễ lại mặt bố mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu không được đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường được tiến hành vào ngày thức hai hoặc thứ tư sau lễ cưới.

Trong đám cưới cổ xưa, cô dâu chú rể thường mặc áo dài, khăn xếp. Ngày nay, tuy có sự cách tân nhưng nhiều gia đình vẫn muốn trở lại phong tục cưới hỏi như xưa. Trang phục cưới giờ đây cũng có sự du nhập phương tây. Các cô dâu trong ngày cưới khoắc trên mình bộ váy cưới trắng tinh, thể hiện sự tinh khiết trong trắng.

Nghi lễ trong đám cưới, không chỉ thể hiện nét dân sinh mà còn thể hiện đậm nét văn hóa trong đám cưới. Nhiều người nước ngoài lấy vợ hoặc chồng là người Việt đều tỏ ra thích thú, bởi lễ cưới là cả một sự kết tinh văn hóa của cả một dân tộc. Tạo nên nét riêng biệt mà không một quốc gia nào có được. Những giá trị văn hóa dân gian ấy được giới trẻ tiếp nối mãi muôn đời.

Lễ cưới là việc trọng đại, nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của mỗi người, tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau mà đám cưới có thể được tổ chức những cách khác nhau. Các trình tự đám cưới có thể đơn giản hóa hay tổ chức cầu kỳ. Có đám cưới mâm cao cỗ đầy vinh hoa phú quý. Có đám cưới chỉ có cô dâu chú rể với sự chứng kiến của tổ tiên. Nhưng tất cả đều thể hiện thành quả của tình yêu chin muồi, trọn vẹn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *