Rước Chúa gái – Phong tục hôn lễ thời Hùng Vương

Trong kho tàng những huyền thoại Việt Nam, câu chuyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh hay chuyện tình Ngọc Hoa đã trở thành quen thuộc với nhiều người, nhiều thế hệ.

Ở đó chẳng những phần nào thấy được thiên nhiên, buổi hồng hoang trong lịch sử dân tộc với lụt lội, ác thú, núi cao rừng rậm, chiến tranh, giặc dã…và sức mạnh phi thường của nhân dân chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, trị thuỷ bảo vệ mùa màng, cuộc sống; mà ở đó ta còn thấy được cả tục lệ hôn lễ trong thời đại Hùng Vương.

Xem thêm:

Lễ hội Lồng tông của dân tộc Tày

“Tăng cẩu” (Lễ búi tóc )- Nét đẹp trong văn hóa người Thái đen

Trải qua bao đời nay, hình ảnh đám cưới của Sơn tinh và Công chúa Ngọc Hoa vẫn còn giữ được trong ký ức của nhân dân. Qua thế hệ này đến thế hệ khác, dưới hình thức hội làng và cúng tế thần linh người ta đã truyền tục và phản ánh hình ảnh của ký ức đó. Trước khi làm lễ cầu hôn, Sơn Tinh và Thuỷ Tinh phải làm lễ ra mắt, rồi trổ hết tài năng của mình cho Vua Hùng với tư cách là cha của Ngọc hoa cùng dân làng xem xét. Sơn Tinh khi thắng cuộc thì được đón Ngọc Hoa về làm vợ, Thuỷ Tinh thua cuộc thì uất hận đến ngàn đời quyết tâm dâng cao nước gây lụt lội, nhưng có tài rồi vẫn chưa đủ mà Sơn Tinh và Thuỷ Tinh còn phải có đủ đồ thách cưới như: “Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, 100 bánh chưng, 100 bánh dầy”…”Ai đem đến trước mới được mời vào trao duyên cùng công chúa”, khi được chấp nhận rồi đám cưới mới được tổ chức. Cũng đón dâu và múa hát cùng nhiều trò vui nhộn.

Rước Chúa gái - Phong tục hôn lễ thời Hùng Vương
Rước Chúa gái – Phong tục hôn lễ thời Hùng Vương

Khảo sát thực tế lễ hội mùa xuân của một số vùng xung quanh Đền Hùng, chúng ta sẽ có dịp được thấy một số diễn xướng dân gian khá sinh động. Đó là lễ hội làng He với trọng tâm là lễ hội rước Chúa Gái. Đó còn là trò diễn bách nghệ khôi hài của dân làng Vi – Trẹo. Chuyện xưa kể rằng hàng năm vào tháng Chạp, các cụ già của 2 làng Vi – Trẹo tụ họp tại đình Cả để bàn việc tổ chớc lễ hội mùa xuân và bàn việc rước Chúa Gái. Chúa Gái được chọn lựa kỹ càng trong đám thanh nữ vừa độ tuổi trăng tròn (15 – 16 tuổi). Đó là một cô gái chưa chồng xinh đẹp, thuỳ mị, nết na, nghĩa là nếu theo quan niệm phong kiến phải có đủ cả công, dung, ngôn, hạnh. Con nhà phong quang không có tang chế, bố là người có chức sắc, dẫu không là quan trong làng thì cũng phải là người sang trong họ. Trước ngày rước một tuần dân làng phải đến trang trí nhà Chúa Gái cho thật đẹp đẽ, sang trọng, chăng đèn, kết hoa trong nhà ngoài sân lộng lẫy. Mọi sinh hoạt của Chúa Gái được khép kín trong phòng. Tất cả các cô gái khác cùng trong độ tuổi phải phục vụ. Ngày rước Chúa Gái cũng chính là ngày lễ hội làng He (làng He ngày xưa gồm 2 thôn Vi – trẹo, 2 thôn này thuộc 2 xã Chu Hoá và Hy Cương và hội làng He chính là hội Đền Hùng ngày nay).

Ngày xưa đã có câu:

“Sơn Tây vui nhất hội chùa Thầy
Vui thì vui thật chẳng tày hội He”

Vì vậy, trong ngày hội rước Chúa Gái, dân làng tổ chức nhiều trò vui như: Săn lơn, chạy địch, chạy Tùng dí và diễn trò bách nghệ khôi hài…

Hội làng He được được tổ chức thành 2 phần riêng biệt, phần lễ và phần hội. Phần lễ được tiến hành trọng thể tại ngôi đình làng. Đó là sự biểu đạt phần đời thường của con dân trước các thiên thần và các nhân thần đã có công dựng nước và bảo vệ xã tắc. Phần hội được tổ chức vui tươi lành mạnh đó là sự biểu đạt nhu cẩu thưởng ngoạn của cuộc đời mỗi con người. Tất cả các trò vui được diễn trong hội làng He chỉ nhằm mục đích sao cho Chúa Gái vui tươi. Vì theo quan niệm của dân làng nếu Chúa Gái vui cười thật nhiều thì năm ấy cả làng sẽ làm ăn thuận lợi hơn.

Theo các cụ già trong làng kể lại thì, thực chất cuộc rước Chúa Gái trong hội làng He được mô phỏng theo tích Tản Viên đón vợ. Vì sau khi Ngọc Hoa đã kết hôn cùng Sơn Tinh, nàng đã trở về với bố đẻ mà không về ở với chồng, nên Sơn Tinh dã phải đem lễ lại mặt đến đón vợ về. Vì thương cha nhớ mẹ nên sắp ra khỏi cổng làng, Công chúa Ngọc Hoa không đi nữa, dân làng phải làm đủ mọi trò vui, trò bách nghệ khôi hài để nàng vui lòng lên kiệu về với chồng bên quê hương Núi Tản – sông Đà (Ba Vì – Hà Tây). Ngày nay, khi tìm hiểu toàn bộ diễn trình của các lễ hội dân gian trong làng xã quanh đất cổ Phong Châu, khảo sát câu chuyện tình sử giữa công chúa Ngọc Hoa và Tản Viên Sơn Thánh, ta sẽ ghi nhận được dung diên phong tục hôn nhân thời cổ đại khi các Vua Hùng dựng nước Văn Lang. Đó là tục hôn nhân một vợ một chồng, và việc kén chọn để “lấy vợ xem tông, lấy chồng xem họ..”, đó cũng là tục thách cưới, tục cưới xin có tổ chức trò vui và tục đón dâu, lại mặt…

Qua tất cả các phong tục hôn nhân thời ấy đã phản ánh rõ nét đời sống, xã hội thời Hùng Vương là một xã hội phát triển khá cao. Chuyện tình công chúa Ngọc Hoa đã phản ánh chế độ hôn nhân trong xã hội có gia đình ở giai đoạn phụ quyền, nghĩa là “Thuyền theo lái, gái theo chồng”. Sự lựa chọn chàng rể và tục thách cưới dường như là phong túc được bảo lưu ở rất nhiều địa phương thuộc tỉnh Phú Thọ cho đến ngày nay.

“Tăng cẩu” (Lễ búi tóc )- Nét đẹp trong văn hóa người Thái đen

Người Thái có nhiều nhóm: Thái đen, Thái trắng, Man Thanh, Tày Mười, Tày Thanh… với dân số hơn 1 triệu người, phân bố ở nhiều vùng đất nhưng nhiều nhất vẫn là ở vùng Tây Bắc (Lai Châu, Sơn La, Hoa Bình, Nghệ An). Dân tộc Thái có vốn ; văn học cổ truyền quý báu với kho tàng thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao có nhiều điệu múa (khắp) độc đáo: xoè Thái, múa sạp. Văn hoá của người Thái rất phong phú thể hiện ở nhiều nghi lễ kháe nhau như: cúng trời đất, cúng bản mường, nghi lễ cầu mùa, đám ma được gọi lá lễ tiễn người chết về “mường trời”, người dân tộc Thái ở nhà sàn, riêng người Thái đen làm nhà có hình mai rùa và được trang trí theơ phong tục xưa. Nhưng tục búi tóc (tăng cẩu) lại chỉ phổ biến ở nhóm người Thái đen. Hôn nhân của người Thái đen là hôn nhân theo kiếu phụ hệ, nhưng từ trước tới nay, tập người này vẫn duy trì tục ở rể, gửi rể.

"Tăng cẩu" (Lễ búi tóc )- Nét đẹp trong văn hóa người Thái đen
“Tăng cẩu” (Lễ búi tóc )- Nét đẹp trong văn hóa người Thái đen

Khi chàng trai người Thái đen đến tuổi lấy vợ (trước đây là 13 – 14 tuổi), nay mười tám, đôi mươi sẽ tự đi tìm người con gái mà mình ưng ý hoặc do bố mẹ “nhắm cho”. Tiếp đến, nhà trai nhờ một ông Mối (tiếng Thái gọi là Phòlam) đến nhà cô gái để làm mối. Nếu được gia đình cô gái ưng ý, chàng trai sẽ bắt đầu cuộc đời ở rể.

Xem thêm: Trang phục dân tộc Thái

Chọn ngày lành, tháng tốt, nhà trai chuẩn bị cho con trai một số sính lễ để đến ở rể. Lễ vật gồm: một chiếc áo, một con gà mổ sẵn, một gói cơm, một chai rượu và một cái “Tô ống bai” là cái đựng vía (khoắn) được làm bằng một sợ dây mây một đầu được cuộn xoắn lại (theo như lời người Thái đen cho biết thì vật này để cho vía chú rể trú ngụ ở đó), ông Mối sẽ là người trực tiếp đưa chàng trai đến nhà cô gái. Sau khi kiểm xong lễ vật, nhà gái để mọi thứ lên bàn thờ để báo cho tổ tiên biết nhà đã có chàng rể. Trong thời gian ở rể chàng trại được đối xử như một thành, viên mới của gia đình.

Nhưng do phải có thời gian thử thách nên anh ta phải chăm chỉ, lao động cật lực, cùng ăn với cả gia đình vợ chỉ có điều anh ta chưa được ngủ cùng cô gái, mà phải ngủ ở vị trí dành cho khách (người Thái gọi là khơi). Trong ngôi nhà sàn của người Thái, ngoài các buồng thông thường, ở hai phía đầu hồi còn có hai phần được sử dụng với từng mục đích khác nhau, một đầu là khan dùng để làm công việc bếp núc. Đây là phần đầu hồi ở phía sau, để nước và làm bếp. Nơi này thường là chỗ sinh hoạt của phụ nữ. Khơi (trong tiếng Thái là rể, lục khơi là con rể), là phần đầu hồi nhà ở phía trước, phía cầu thang chính lên nhà. Đây là phần dùng để tiếp khách và nếu gia đình nào có chàng rể đang trong giai đoạn thử thách thì sẽ ngủ ở đây…

Sau thời gian ở rể có thể chỉ 3 tháng hoặc kéo dài cho đến khi chàng rể được nhà cô gái chấp nhận. Để đôi uyên ương được ngủ chung với nhau thì hai gia đình phải tiến hành làm lễ “tăng cẩu” (búi tóc), chính thức công nhận họ là vợ chồng. Búi tóc của người phụ nữ Thái đen từ thời điểm này được coi như là một dấu hiệu thông tin cho mọi người biết họ đã có chồng. Để làm lễ này, nhà trai lại phải mang tới nhà gái một số lễ vật. Theo tục lệ, lễ “tăng cẩu” được thực hiện ở gian gần bếp. Người ta chuẩn bị một chậu nước lá thơm, đại diện phía nhà trai gội đầu, chải tóc và búi tóc cho cô dâu. Tóc được búi lên, cuộn lại bằng một dây xà tích bằng bạc và cài một chiếc trâm bạc giữ cho tóc không bị xô ra. Trong lúc búi tóc cho cô gái, đại diện hai nhà cùng uống rượu và hát đổi đáp “khắp tóc”. Nội dung của các bài khắp nói lên hoàn cảnh của mỗi nhà và những lời dặn dò đôi trai gái.

Sau lễ “Tăng cẩu”, chàng trai và cô gái được ngủ chung với nhau, cũng từ đó cô gái phải luôn búi tóc vừa để làm đẹp vừa như là một dấu hiệu thông báo cho các chàng trai khác biêt họ đã có chồng. Về nguyên tắc, lễ cưới có thế được tổ chức bất kỳ lúc nào mà hai gia đình muốn, sau lễ “tăng cẩu”.

Bàn về thành ngữ “Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống”

Theo các cụ ngày xưa thì: “Nòi nào giống ấy”, “Cây nào quả ấy”, “Giỏ nhà ai quai nhà ấy”, “Con nhà công chẳng giống lông cũng giống cánh”, ‘Tìm nơi có đức gửi thân”, ai chẳng muốn có trai hiền gái đảm, rể thảo dâu hiền. Thời nay, một số bạn trẻ coi thường cho là phong kiến lạc hậu. Có những đôi trai gái mới chỉ gặp nhau trên một đoạn đường đã vội đính ước, tính chuyện vuông tròn, thậm chí họ đã biết rõ cả: “Ngọn nguồn lạch sông”. Đành rằng cũng có trường hợp “Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên duyên”, song thành công là cá biệt, thất bại là phổ biến.

Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống

“Tìm tông, tìm họ” không có nghĩa là tìm chốn sang giàu, khinh người nghèo khó, mà chủ yếu là tìm nơi có gia giáo, có đức độ.

“Cha mẹ hiền lành để đức cho con”, “Đợi cha ăn mặn, đời con khát nước”. Con người sinh ra lớn lên do nhiều yếu tố xã hội chi phối, nhưng nam nữ thanh niên mới lớn lên, trường đời chưa từng trải, giáo dục gia đình là yếu tố quan trọng và chủ đạo. Hôn nhân là việc hệ trọng, tác động cả đời, mà con người rất dễ mù quáng trong tình yêu. Qua tuần trăng mật không phải mọi việc trong quan hệ vợ chồng đều suôn sẻ. Khi có những việc khó khăn, trục trặc trong cuộc sống, ai cũng muốn tìm điều hay lẽ phải để giải quyết cho thoả đáng. Lúc đó cần dựa vào “Tông”, vào họ hàng, tìm những tình cảm chân thành và tri thức đúng đắn.

Xem thêm các bài viết về văn hóa dân gian:

Vai trò của người mai mối trong hôn nhân xưa

“Tam tòng tứ đức” là gì?

Các nghi lễ trong lễ cưới truyền thống

“Môn đăng hộ đối”, tức là tìm nơi hai gia đình, hai bên thân thuộc, có những mặt cân đổi phù hợp với nhau, chứ không phải bắc bậc leo thang, kẻ khinh người trọng.

Ngoài ra còn một yếu tố nữa: Tính đến gien di truyền. Ngày xưa trong một vài hoàn cảnh đặc biệt có ông chồng thoả thuận ngầm với vợ đi “xin nòi”, cần lưu ý rằng: những người đàn bà đó không thuộc loại lẳng lơ, mà cũng chỉ cần biết nói nhỏ với nhau và nhấn mạnh “hoàn cảnh đặc biệt”!

Vai trò của người mai mối trong hôn nhân xưa

Trong hôn nhân cũ phải kể đến vai trò của người mai mối. Bởi vì theo lễ giáo: “Nam nữ thụ thụ bất thân”, nghĩa là trai gái không được phép gần nhau, nên không có khả năng hiểu biết về nhau. Do đó, việc tìm hiểu tin đi tin lại, để hai bên nam nữ là hai gia đình biết được những điều cần biết về nhau, tức là hai bên gia đình biết được những thông tin cơ bản, bắt buộc phải thông qua một người trung gian. Người đó được gọi là người làm mối. Thông thường việc này ở do các bà đảm nhận (xã hội gọi họ là bà mối), nhưng đôi khi có cả ông mối. Thời xưa trong một làng, xã có khoảng vài ba người làm công việc xe duyên này. Họ là những người có rất nhiều thông tin về các gia đình và sẵn sàng giúp đỡ bất kỳ ai nhờ cậy. Có những người chuyên làm nghề này (chuyên nghiệp), nhưng cũng có đám do “nhờ” mà làm, làm giúp.

Khi nhà có việc, người ta thường chọn mời những ông mối hoặc bà mối có tuổi, tính tình vui vẻ, hoạt bát. Người này càng thân thiện và có uy tín với nhà gái càng tốt. Nhưng trước hết phải là người có gia đình toàn vẹn (còn đủ vợ chồng) hoà thuận, về đường con cái là có nếp có tẻ (có trai, có gái).

Vai trò của người mai mối trong hôn nhân xưa
Vai trò của người mai mối trong hôn nhân xưa

Vai trò của các ông mối, bà mối xưa quan trọng tới mức xã hội phải thừa nhận: “Đẹp như rối không mối không xong”. Trong nhiều trường hợp, người mai mối là người có công trong việc chắp mối lương duyên cho đôi trai gái nên vợ nên chồng.

Xem thêm : “Tam tòng tứ đức” là gì?

Tuy nhiên, cách mai mối xưa, cũng có trường hợp người ta lừa nhau bằng cách đánh tráo người. Chẳng hạn về phía nhà trai, khi đi hỏi thì để cậu em nhanh nhẹn, mặt mũi sáng sủa đóng vai rể. Nhưng hôm cưới thì lại là cưới cho ông anh chậm chạp, xấu xí. Ngược lại, bên nhà gái đánh tráo người. Cô em xinh đẹp, trẻ trung đóng vai cô dâu. Nhưng ngày cưới, người chị lại là cô dâu về nhà chồng (trường hợp này là do cô chị tuổi đã quá lứa, không người “hỏi han”). Nhưng sự đã rồi, biết làm sao?

“Tơ hồng Nguyệt lão thiên tiên” dựa theo tích Vi Cố gặp ông lão trong một đêm trăng, ngồi kiểm sách hướng về phía mặt trăng, sau lưng có cái túi đựng đầy dây đỏ. ông lão bảo cho biết đây là những văn thư kết hôn của toàn thiên hạ. Còn những dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cô vào chợ gặp một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua. Bỗng ông già lại hiện lên cho biết đứa bé kia sẽ là vợ anh. Vi Cố giận, bảo đày tớ tìm giết đứa bé ấy đi. Người đầy tớ lẻn đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Mười bốn năm sau, quan Thứ sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con gái dung nhan tươi đẹp, giữa lông mày có đính một bông hoa vàng. Vi Cố gạn hỏi, vợ mới bảo: Thuở còn bé, một bà vú họ Trần bê vào chợ bị một tên cuồng tặc đâm phải. Vi Cố hỏi: Có phải bà vú đó chột mắt không? người vợ bảo: Đúng thế! Vi Cố kể lại chuyện trước, hai vợ chồng càng quý trọng nhau cho là duyên trời định sẵn.

Xem thêm: Các nghi lễ trong lễ cưới truyền thống

Ngoài ra còn có những câu chuyện vui về sự tích “Ông Tơ bà Nguyệt” như sau:

… “Tâu Thượng đế, theo hạ thần thì thượng đế không cần đòi lại trí khôn của con người, làm như thế không khỏi mang tiếng là trời nhỏ nhen. Điều mà thượng đế nên làm là hạn chế trí khôn của con người.”

  • “Bằng cách nào”?
  • “Chỉ có tình yêu – Không có gì làm con người lú lẫn đi như trong tình yêu. Trời chỉ cần phái một vị thần mang vòng dây xuống trần, cứ đôi trai gái nào ở gần nhau thì quăng cho một vòng. Người nào càng thông minh thì cần quăng thêm cho nhiều vòng. Con người chỉ luẩn quẩn trong những vòng ấy mà chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện lên quấy nhiễu nhà trời nữa”.

Trời khen: “Thật là diệu kế!”, bèn truyền cho ông tiên già mang những chiếc vòng của trời xuống trần gian.

Từ ngày bị ông tiên già khoác vào người mình những vòng dây tình ái, con người chỉ luẩn quẩn với nhau, không còn nghĩ tới chuyện đánh nhau với trời nữa. Ông tiên già ấy được gọi là ông Tơ .

“Tam tòng tứ đức” là gì?

Lễ giáo xưa còn kén dâu theo tam tòng, tứ đức.

Tam tòng

Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải tuân theo, đó là: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (ở nhà phải theo cha, đi lấy chồng phải theo chồng, chồng chết phải theo con). Cũng từ ý này mà người ta khẳng định: ở nhà thì phải nghe lời cha, đi lấy chồng phải nghe lời chồng, chồng chết phải nghe lời con. Như vậy, ở bất cứ nơi đâu người phụ nữ đều bị lệ thuộc. Rõ ràng tam tòng là hoàn toàn xa lạ vối lối sống xã hội hiện đại, với bình đẳng nam nữ trong xã hội văn minh.

"Tam tòng tứ đức" là gì?
“Tam tòng tứ đức” là gì?

Tứ đức gồm: Công, dung, ngôn, hạnh.

Công

Công là sự khéo léo tinh tế về tay chân và nghề nghiệp của người con gái. Như lao động giỏi trên đồng ruộng với những đường cày thẳng tắp, với cấy lúa thẳng hàng, biết nội trợ, biết lo toan sắp xếp mọi công việc của người phụ nữ trong gia đình. Từ việc lo “cái mặc” như việc trồng dâu, chăn tằm, kéo sợi, dệt vải, rồi vá may, thêu thùa… phải thông thạo. Đến việc lo “cái ăn” như việc cấy hái, trồng trọt, cơm nước, nấu nướng cho bữa ăn hàng ngày, biết lo chu tất cho mâm cỗ, bánh trái cho ngày giỗ, ngày tết. Có thế khi “ra ở riêng” mới gánh vác nổi “Giang sơn nhà chồng”. Chữ công đó sau này trở thành chuyên ngành nữ công gia chánh của phụ nữ.

Xem thêm: Các nghi lễ trong lễ cưới truyền thống

Dung

Dung là nhan sắc, là sắc đẹp với vẻ đẹp bên ngoài hiền dịu. Dung ở đây chỉ có nghĩa là con người vừa phải, không có khuyết tật gì trên cơ thể gây biến dị khó coi. Chứ thực ra các cụ đã nói: “Sông nào sào ấy”, con trai nhà mình nếu giàu có, tài năng, đẹp đẽ thì mới có quyền chọn lựa một nàng dâu xứng ý toại lòng.

Mặt khác, tục ngữ cũng nói: “Cái nết đánh chết cái đẹp”, hoặc đôi khi còn sợ sắc đẹp sẽ gây sắc dục có hại cho sức khỏe cho người đàn ông. Vì thế, tục ngữ đã răn đe: “Tốt mái hại trống”, hoặc “Vợ đẹp càng tổ đau lưng”… Do đó, sắc đẹp tức chữ dung chỉ là chuyện tương đối. Tuy nhiên, người con gái đẹp, dân ta cũng đã có những tiêu chuẩn nhất định như: khuôn mặt trái xoan, như “cái răng, cái tóc”, nó là “một góc con người”; hàm răng đều chằn chặn, lại được nhuộm đen hạt huyền, hạt na; làn tóc dài óng ả lại bỏ đuôi gà duyên dáng.

Thời xưa, các cô gái thường mặc yếm, váy bằng lụa tơ tằm, đi với chiếc thắt lưng màu hoa đào hoặc hoa lý. Rồi dây xà tích bằng bạc với đôi khuyên tai vàng óng ánh làm duyên trong ngày hội. Tất cả, hoàn thiện bằng chiếc nón quai thao và đôi dép cong cong, tạo nên một dáng đẹp mẫu mực.

Ngôn

Ngôn là lời nói, là cách phát ngôn trong ứng xử hàng ngày, với mọi thứ bậc và mọi mối quan hệ gia đình, xã hội như: ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô dì, chú bác, chồng con, xóm giềng… Nếu trong các mỗi quan hệ ấy, việc sử dụng ngôn từ tỏ ra biết phải trái, biết điều hay điều dở, để phân biệt đối xử và ứng xử, khiến ai cũng vừa lòng và nể trọng. Người như thế được xem là người có văn hoá, có giáo dục. Thật ra mối quan hệ này vô cùng phức tạp và tế nhị. Bởi thế tục ngữ thường răn:

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Hoặc:

Kim vàng ai nỡ uốn câu

Người ngoan ai nỡ nói nhau nặng lời

Thực ra, trong dân gian người ta vẫn định chuẩn rằng: Cô gái biết nói năng mạch lạc, biết thưa gửi rành rẽ. Lời nói điềm đạm, lễ độ, ngọt ngào, biết trên biết dưới với bố mẹ, với anh em nhà chồng bà con họ mạc và bè bạn. Đối với chồng thì:

Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười tủm tỉm rằng anh giận gì?

Rồi đợi lúc nào chồng nguôi giận, vợ chồng bên nhau, người vợ mới tỉ tê nhỏ to “góp ý”. Chỉ có thế mới giữ được tổ ấm gia đình.

Hạnh

Hạnh là đạo đức, là đức hạnh của người con gái. Trong sự đánh giá toàn diện về con người, xã hội ta thường coi trọng đạo đức hơn cả. Thế mà không hiểu tại sao trong trật tự này, người ta lại xếp Hạnh vào hàng cuối.

Có lẽ, Hạnh ở đây, người xưa muốn đề cập đến vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Bởi họ có ảnh hưởng rất lớn trong việc nuôi dạy con cái. Nếu con hư, trách nhiệm đầu tiên xã hội quy về người mẹ: “Con hư tại mẹ”. Nếu nhà có nền nếp kỷ cương, xã hội cũng quy công cho người mẹ: “Phúc đức tại mẫu”.

Hạnh ở đây chính là đạo làm người. Trong đó bao hàm phần đạo lý với các bổn phận và nghĩa vụ với ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cháu, họ hàng, xóm giềng và các mối quan hệ xã hội khác. Đạo đức người phụ nữ là phải thể hiện được lòng tôn kính, tính hoà thuận, lòng nhân ái, đức bao dung… Tuy đặt xuống hàng thứ tư trong thứ tự phẩm hạnh của người phụ nữ, nhưng thực tế xã hội coi Hạnh là bao trùm. Xưa đã thế, nay cũng vẫn vậy.

Xem thêm : Quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” theo người xưa

Theo giải thích của Huỳnh Tịnh Của trong Đại Nam quốc âm tự vị thì Tứ đức như sau:

Phụ công: Sự khéo léo thành thậo trong gia chính (việc trong nhà).

Phụ dung: Thái độ, tư thế nhẹ nhàng, đoan trang, nghiêm chỉnh

Phụ ngôn: Nói năng lễ độ, kín đáo, ôn hoà.

Phụ hạnh: Cư xử nết na, đằm thắm.

Theo Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục thì giải thích Tứ đúc mang tính “dân gian” hơn:

Phụ công: Là nghề khéo của người đàn bà, nghề khéo thì chẳng qua trong nghề vá may thêu dệt và biết buôn bán mà thôi.

Phụ dung: Là dáng người đàn bà, dáng phải chính đính hoà nhã, nhưng cũng phải chải chuốt cho gọn gàng sạch sẽ.

Phụ ngôn: Là lời ăn tiếng nói của người đàn bà, ăn nói phải khoan thai, dịu dàng; đừng cẩu thả mà cũng đừng the thé, quý hồ mềm mỏng cho ai cũng dễ nghe.

Phụ hạnh: Là nết na người đàn bà, nết na thì đến trên kính, dưới nhường, ở trong nhà chiều chồng thương con và lấy nết hiền hậu mà ở với anh em họ hàng nhà chồng. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn, không hợm hĩnh mà cũng không cay nghiệt với ai.

Đấy là tứ đức, có đủ chừng ấy mối là người đáng khen.

Thực ra tứ đức này cũng chỉ ở các gia đình quyền quý, thì các cô con gái mới có được sự giáo dục đầy đủ và có điều kiện đế thực hành những khuôn mẫu văn hoá ấy. Còn ở tầng lớp trung lưu và dân thường, đặc biệt là nông dân thì tứ đức lại được hiểu một cách cụ thể hơn (thậm chí thô thiển hơn, ví dụ: chữ ngôn chẳng hạn, người ta hiểu rằng: Phụ nữ mà giọng khàn hoặc chua thì ngôn coi như hỏng; hoặc như chữ dung thì thường được hiểu nghiêng về khía cạnh sắc đẹp của người phụ nữ như: khuôn mặt trái xoan, thắt đáy lưng ong, răng đen hạt huyền…)

Trong xã hội phong kiến, chữ trinh là một tiêu chuẩn quan trọng đối với việc chọn dâu (mặc dầu không ai, không sách nào giải thích chữ trinh, nhưng đây lại là tiêu chuẩn đứng trên tất cả, thậm chí còn bao trùm cả tứ đức). Đây là một tiêu chuẩn vô cùng khắc nghiệt của xã hội cũ, thậm chí trước đây ta còn bắt chước lệ Tàu là: lễ lại mặt bao giờ cũng có một con lợn béo. Nếu con lợn này có đủ bộ vị (đầu, đuôi, chân, tai) thì nhà gái rất hãnh diện với bà con thân thuộc, xóm làng vì sự trinh tiết của con gái mình. Nhưng nếu đôi tai của chú lợn mà bị xẻo đi (do nhà trai xẻo) thì thật là vô phúc cho nhà gái, vì điều đó có nghĩa là cô dâu đã bị mất trinh. Lúc ấy thì ông bà nhạc cùng anh chị em nhà gái chỉ còn cách chui xuống đất cho thiên hạ khỏi mỉa mai, tệ hơn nữa là các cô con gái còn lại của nhà này coi chừng phải “ế’ suốt đời vì không chàng trai nào dám cưới họ về làm vợ nữa.

Các nghi lễ trong lễ cưới truyền thống

Người ta nói vợ chồng là đầu ngũ luân (năm mối quan hệ: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn). Lập gia đình là một hình thức củng cố xã hội, sinh sản cho nòi giống vững mạnh. Lễ cưới là gốc của vạn phúc. Vì vậy, xã hội nào, gia đình nào cũng mong tổ chức lễ cưới thật chu đáo.

Theo hôn nhân truyền thống ở nước ta từ xưa, tục cưới hỏi phải trải qua 6 lễ:

  • Lễ nạp thái.
  • Lê vấn danh.
  • Lễ nạp cát.
  • Lễ nạp chính, còn gọi là lễ nạp tệ.
  • Lễ thỉnh kỳ, tức là lễ xin cưới.
  • Lễ thân nghinh (có nơi còn gọi là thành nghênh).
Các nghi lễ trong lễ cưới truyền thống
Các nghi lễ trong lễ cưới truyền thống

Nội dung các lễ đại thể như sau:

Lễ nạp thái

Sau khi mai mối tin đi tin lại, hai nhà thấy việc thăm hỏi nhau có thể tiến hành. Nhà trai xin được đặt một cái lễ, gọi là lễ nạp thái. Lễ này dân gian thường gọi là lễ chạm ngõ. Tuy là một lễ, nhưng lễ chạm ngõ rất sơ sài. Nhà trai có thể đưa sang nhà gái vài bao trà, ít cau trầu để điểm xuyết cho câu chuyện.

Đúng ngày, giờ đã thoả thuận (tất nhiên là ngày, giờ tốt), bà mối dẫn đầu đoàn của nhà trai sang thăm nhà gái. Đoàn thường gồm các bậc cô, dì, chú, bác… của chú rể. Tuy số lượng đoàn không đông, nhưng những người này có óc quan sát sắc sảo, có tài trò chuyện đối đáp với bên nhà gái. Tất nhiên là trong đoàn phải có chú rể.

Nội dung của lễ này là hai bên gia đình trao đổi, thăm dò. Đúng ra đây là lễ xem mặt. Trong khi hai bên trò chuyện, nhà gái kín đáo cho cô gái mà bên nhà trai ướm hỏi ra chào khách Thường là cô gái ra mời trầu, nước. Cô gái chỉ xuất hiện một rồi lui về buồng riêng. Đó cũng là dịp để cho chú rể tương lai và họ hàng bên nhà trai quan sát cô gái. Thường bà mối yêu cầu cha mẹ cô gái cho trang điểm giản dị, nhưng nhất thiết không được đội khăn vuông mỏ quạ che kín gáy và hai tai. Bởi nhà trai không chỉ xem mặt mà còn xem cả tướng mặt cô gái. Bởi vì xem tướng thì phải nhìn rõ tam đình, ngũ nhạc, tức là mắt, mũi, tai mồm…

Khi mọi người quan sát cô gái từ nét mặt, dáng đi, giọng nói và cử chỉ của cô, thì trong đoàn họ nhà trai cũng có một hai bà ra ngoài quan sát từ sân, ngõ, bếp núc, chuồng lợn, chuồng trâu… Bởi những nơi đó gọn gàng, sạch sẽ hay bừa bãi, nhếch nhác, đủ nói lên tính cách của cô gái. Nếu họ nhà trai được mời ở lại dùng cơm, thì đó còn là dịp để nhà gái khoe tài làm bếp của cô con dâu tương lai. Đây chính là cơ hội để bên nhà trai thẩm định một cách kỹ càng nhất về công – dung – ngôn – hạnh của đối tượng chọn lựa.

Về bản chất, lễ này là cơ hội để nhà trai xem gia cảnh cũng như gia phong của nhà gái (tránh tình trạng người mối nói sai sự thật), từ đó đi đến quyết định dứt khoát việc hôn nhân của đôi trai gái.

Nhiều trường hợp sau lễ chạm ngõ, hai nhà trở nên khăng khít và các lễ cứ tuần tự được tiến hành cho tới cuộc “thân nghinh”. Song cũng không ít trường hợp, sau lễ chạm ngõ thì bên nhà trai từ bỏ ý định cầu hôn. Vì vậy, đối với nhà gái, khi đã chấp nhận lễ chạm ngõ là phải qua các bước giáo dục con gái, sửa sang nhà cửa, tập dượt hết sức chu đáo sao cho cuộc ra mắt của con gái mình gây được thiện cảm với người trong đoàn đại biểu họ nhà trai. Việc này bà mối phải ý tứ thăm dò, phải biết cá tính, sở trường của từng người để giúp nhà gái có cách cư xử tót nhất. Ngược lại, bà mối cũng giúp nhà trai khắc phục những nhược điếm để không vì thế mà nhà gái từ chối.

Nếu nhà gái bằng lòng nhận lễ, thì chặng đầu tiên của cuộc hôn nhân coi như xong. Tuy nhiên, về lý thì lễ này chưa có tác dụng ràng buộc hai bên (hứa hôn). Thực ra, đây chỉ là cuộc thăm viếng bình thường, chưa có chuyện hôn nhân gả bán gì được bàn tính trong lễ này. Nếu một trong hai bên không bằng lòng tiếp tục, thì chỉ cần nói qua bà mối. Vì rằng: “Cơi trầu chạm ngõ là cơi trầu bỏ đi”.

Về phương diện văn hoá, các nhà nghiên cứu cho rằng lễ chạm ngõ với lễ vật chính là trầu cau, là một lễ khởi đầu trong hệ thống hôn lễ ở Việt Nam, đã mang đậm nét bản sắc văn hoá của dân tộc ta.

Lễ vấn danh

Đúng như tên của lễ: Vấn danh là hỏi họ tên, là hai bên trao đổi danh thiếp. Lễ này cũng đơn giản, chưa phải là bước quyêt định của hôn nhân.

Nhà trai thông qua người mối, cử một đoàn vài ba người với lễ vật gồm chè, rượu, trầu, cau. Chủ yếu của lễ này là nhà trai biết được ngày, tháng, năm sinh của cô gái, để về xem tuổi (còn gọi là so tuổi).

Khi nhà trai đến thì nhà gái đưa ra một tờ giấy đã ghi rõ họ, tên, ngày tháng năm sinh của cô gái; đôi khi cả giờ sinh nếu bên nhà trai có yêu cầu. Như trong truyện Kiều, khi Thúc Sinh gặp Thuý Kiều, có ý định chuộc nàng ra khỏi thanh lâu. Nhưng việc đầu tiên Thúc Sinh làm không phải là thương lượng vối Tú Bà, mà là cần biết tên, tuổi nàng. Vì vậy, Nguyễn Du viết: “Hãy đưa danh thiếp trước cầm làm ghi”.

Có những trường hợp, chủ nhân nhà trai là người cẩn thận, có chữ nghĩa còn gửi thư (qua đoàn nhà trai) sang bên nhà gái, bày tỏ lễ nghĩa và lòng thành tâm của mình (xin ghi lại để chúng ta cùng biết phong cách của một thời).

Nhà gái tiếp nhận lễ rồi, dâng thư cùng lễ vật lên bàn thờ kính cáo từ đường (có bài cáo). Để ứng lại với phép lễ nhà trai, nhà gái có phục thư, tức là viết thư đáp lại, đưa họ nhà trai và tiễn về.

Ý nghĩa của danh thiếp là để so tuổi, xem đôi bên có hợp nhau không. Nếu mệnh hai người tương sinh thì rất hợp. Ví như chồng mệnh Kim, vợ mệnh Thủy; Kim sinh Thuỷ là tương sinh. Trái lại, chồng mệnh Kim, vợ mệnh Mộc, Kim khắc Mộc là tương khắc. Đây là tính theo Âm dương Ngũ hành. Lại phải tính sự hợp, xung theo hệ Can, Chi nữa.

Thật ra đây là thói quen tin vào thuật số, chứ thực đã có nhiều người ăn ở với nhau rất hạnh phúc mà họ không cần so tuổi, chọn ngày để tiến hành hôn lễ.

Lễ nạp cát

Lễ này trong dân gian gọi là lễ ăn hỏi. Sau lễ vấn danh, bên nhà trai thấy đôi trẻ hợp tuổi, liền đánh tiếng để xin làm lễ ăn hỏi. Tất nhiên phải chọn ngày lành, tháng tốt. Bên nhà trai thường hỏi ý kiến bên nhà gái các chi tiết cụ thể và số lễ vật. Nhà gái nếu muốn lễ to thì nói ý tứ: Họ hàng nội, ngoại đông, bạn bè giao du rộng, nhà trai xem đó mà biện lễ.

Ngày xưa lễ này ở nông thôn thường có một vài buồng cau to độ ba, bốn trăm quả (đủ số cau biếu, mỗi phần 3 quả, ít đi là 1 quả không bao giờ 2 quả – vì cho đó là thô tục); dăm chai rượu trắng; một mâm xôi gấc; một cái thủ lợn. Ở thành phố thì xôi gấc, lợn quay, trà, rượu mầu và bánh trái, trầu, cau… Sau này người ta bỏ bớt xôi gấc, lợn quay, mà thay vào đó là các loại bánh dân tộc như: bánh chưng, bánh dầy, bánh cốm, bánh phu thê. Bánh cốm gói lá chuối xanh mướt buộc hai chiếc lạt nhuộm đỏ hình chữ thập rất đẹp. Các nhà sang trọng ở Hà Nội hoặc các tỉnh thường chuộng bánh cốm Nguyên Ninh – là nhà hàng bánh cốm nối tiếng. Bánh cốm phải kèm với bánh phu thê làm bằng loại bột lọc, nhuộm màu vàng trong như ngọc. Bánh cốm có hình vuông tượng trưng cho âm, bánh phu thê tròn tượng trưng cho dương (cũng biểu thị nam và nữ, trời và đất). Bánh cốm, bánh phu thê lại thêm mứt sen, chè cân loại hảo hạng, cau tươi và trầu không, sao cho tương xứng với số bánh trái trên, cùng với dăm ba chai rượu màu.

Việc dẫn lễ ngày xưa thường có bà mối, mẹ hoặc cha chú rể. Cũng có thể là chú, bác, những người có tư cách đại diện cho cha mẹ chú rể. Dăm bảy, thậm chí mười cháp quả đựng lễ vật trên phủ vải điều hoặc khăn xatanh đỏ do các cô gái 16 – 17 tuổi mặc áo dài đẹp, đội trên đầu. Các nhà giàu xưa thường thuê xe tay kéo gọng đồng rất sang, cũng có nhà dùng xe song mã.

Chú rể đi kèm với vài người bạn trai cùng tuổi, những người này sẽ là người phù rể vào lễ cưới.

Bên nhà gái trong dịp này thường mời bà con thân cận nhất đến dự và có làm cơm thết nhà trai. Lễ vật nhiều nhưng chỉ đặt tượng trưng lên bàn thờ. Khi nhà trai ra về, nhà gái thu xếp trả lại tất cả các cháp quả đựng lễ vật. Trong mỗi cháp quả đều để lại mỗi thứ một ít, gọi là “lại quả” cho nhà trai.

Sau lễ ăn hỏi, nhà gái chia quà biếu cho họ hàng, bạn bè, xóm giềng như để thông báo chính thức với mọi người rằng: Con gái tôi đã đính hôn, con gái tôi sắp đi lấy chồng! Vì vậy, lễ ăn hỏi có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định hôn nhân.

Sau lễ ăn hỏi, chàng rể được thừa nhận như con cái trong nhà Phải thường xuyên thăm hỏi gia đình bên vợ, săn sóc khi có người nhà ốm đau, giúp việc khi nhà có công việc, coi như đây là việc nhà mình. Các nhà nho xưa gọi chàng rể lúc này là “bán tử chi tình” (tình cảm như nửa con trai).

Ngày xưa, từ sau lễ ăn hỏi đến lễ cưới kéo dài hàng năm, thậm chí vài ba năm. Đám nào cưới gấp sau khi ăn hỏi người ta cho là khiếm nhã, hoặc thường bị dân làng dị nghị và nghi là phía con gái có chuyện không bình thường. Khôn nỗi thế gian lại rằng:

Hỏi vợ thì cưới liền tay

Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha

Trong thời gian từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới, người con rể phải theo đủ các lễ sêu tết trong năm. Tức là mùa nào thức ấy, đủ các tháng trong năm, người rể chưa cưới áy phải có quà lễ biếu cha mẹ vợ một cách chu đáo, chân thành, cẩn thận. Ớ vùng đồng bằng Bắc bộ thời ấy thường: tháng 3 sêu vải (theo âm lịch); tháng 5: đậu xanh, ngỗng; tháng 7: na, nhãn lồng; tháng 9: cốm, hồng, gạo mới, chim ngói; tháng chạp: cam, mứt; Tết Nguyên đán thì phong phú hơn, sang hơn.

Cũng có nơi, có nhà hiếm con, bắt chàng trai sau lễ ăn hỏi phải đến ở rể từ một đến ba năm, rồi mới được cưới. thời gian ở rể cũng là thời kỳ thử thách: từ lao động đến cung cách làm ăn, thái độ đối nhân xử thế… Đây cũng là thời kỳ chàng rể sẵn sàng làm việc không tiếc sức, lại phải khiêm tốn, vui vẻ không chỉ để lọt “mắt xanh” của nàng, mà chính là làm vừa lòng bố mẹ vợ, thậm chí phải bỏ qua nhiều chuyện dù có thấy “chướng ta gai mắt”. Vì thế người ta nói: “Ớ rể như chó nằm gầm chạn” là vậy.

Tục ở rể phổ biến và chắc gây phiền hà trong mối quan hệ xã hội, trở thành hủ tục (thời gian kéo dài, chàng rể bị lợi dụng quá lâu), nên Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) phải ra điều ngăn cấm: “Khi đã có lễ xin cưới rồi, thì cấm không được để đến 3 – 4 năm mới cho rước dâu. Sau khi nhận lễ hỏi phải chọn ngày cưới”.

Lễ nạp chính (cũng gọi là lễ nạp tệ)

Một vài mùa lúa đã trôi qua, nhà trai sêu tết đều đặn, chu dáo. Mối quan hệ ràng buộc hai nhà cũng đã khăng khít. Nhà trai xem tuổi, định năm cưới. Tập quán xưa: “Cưới vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông”. Phải bấm xem tuổi tốt xấu của cô dâu tương lai. Thường chuyện này người ta đã tính từ trước. Khi đã chọn được năm, tháng, ngày tốt, nhà trai nhờ người mối mai tới báo cho nhà gái biết, để xin ý kiến và cùng lo lắng. Cũng trong dịp này, người mối mai cũng hỏi chính thức xem nhà gái cần những gì để “dẫn cưới”.

Đúng như tên gọi, “nạp tệ” tức là nộp tiền. Đây chính là kết quả sau cuộc nghị hôn giữa hai bên gia đình. Trong cuộc họp bàn này, nội dung chủ yếu xem bên nhà gái đòi hỏi nhà trai phải nạp những gì. Xưa cuộc bàn bạc này gọi là “thách cưới”. Trong đó nhà gái đòi đủ thứ. Từ các đồ quý về trang sức như: vòng, xuyến, hoa tai, xà tích, quần áo mớ ba mớ bảy… Bạc trắng, tiền giấy, rượu, gạo, lợn… Đã gọi là “thách” thì bên nhà gái thường nói đội lên những yêu cầu rất cao về các đồ sính lễ. Nhà trai tuỳ khả năng có thể mà đáp ứng. Có khi bên nhà gái đòi mười, bên nhà trai chỉ có hai, ba, Thậm chí còn “Cò kè bớt một thêm hai”.

Có những trường hợp bên nhà trai không thể đáp ứng được đầy đủ, việc cưới đành phải tạm hoãn. Thường thì đã đến nước này, họ nhà trai phải cố gắng, vì: “Trồng cây đã tới ngày ăn quả”, lo vay mượn ngược xuôi, không nên trì hoãn nữa, nếu không định doãi ra. Những trường hợp như vậy, dù sao về tình cảm hai bên cũng có ít nhiều tổn thương. Nếu gặp phải bà mẹ chồng khó tính thì, sau này cô dâu “khốn khổ với bà”. Gương cũ để lại chuyện này không hiếm.

Cũng có những trường hợp, hai bên đi lại nhiều năm, đã hiểu nhau, thông cảm với nhau, cùng nhau hợp lực vun đắp cho hạnh phúc lứa đôi, nhưng cũng không thể mang tiếng là “cho không”. Ông bố vợ từng trải sẽ nói cho bên nhà trai và chàng rể rõ, lối sống thanh bần và mối dây liên kết hai nhà bền lâu mới là chuyện đáng quý. Với ông thì “Giá thú bất luận tài”.

Xem thêm: Phong tục cưới hỏi của người Việt

Còn đối với nhà nghèo, chuyện lại đơn giản hơn nữa. Người ta chỉ lưu ý đến những cái tối thiểu về lễ nghi, đạo đức. Thường là cần ba lễ mặn, nhưng là lễ mặn nhà nghèo, không cao lương mỹ vị, không giò, nem, ninh, mọc, mà mỗi lễ chỉ gồm đĩa xôi và con gà luộc, kèm theo trầu, cau, rượu là được. Đây là ba lễ với tổ tiên không được quên dù nghèo, đó là:

  • Lễ nhà tộc trưởng bên vợ;
  • Lễ tại nhà thờ cậu của vợ;
  • Lễ gia tiên tại nhà.

Khi cúng xong thì “kiến tự” tức hạ xuống hưởng lộc.

Lễ thỉnh kỳ

Tức là hẹn ngày xin cưới. Sau lễ nạp tệ, tức là các đồ dẫn cưới nhà trai đã đưa sang nhà gái, thì nhà trai xin hẹn ngày, giờ đón dâu với nhà gái. Lễ này diễn ra hết sức đơn giản và không có gì cản trỏ.

Lễ thân nghinh

Là lễ đón dâu. Người con gái về nhà chồng là ngày cưới, ngày vui, ngày hạnh phúc nhất của đòi người, nên nghi lễ đón dâu rất trang trọng. Người ta còn gọi là “rước dâu” (người con trai phải thân đến nhà gái rước cô dâu về).

Lễ thân nghinh còn gọi là lễ nghênh hôn phải kiêng kỵ một số điều:

  • Bản thân cô dâu, chú rể không ở trong thời kỳ đại tang (tức cha mẹ đẻ chết chưa hết tang).
  • Ngày giờ cưới phải tránh các ngày giờ “không vong”, “sát chủ”… Đồng thời phải tránh “tháng ngâu” – tháng 7 âm lịch.

Theo tập quán của dân ta: Tuy gọi là 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông song thực ra ở nước ta chỉ có hai mùa rõ rệt là mùa mưa (ưốt, ẩm, từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch) và mùa khô ráo (khô, lạnh, mát mẻ, từ tháng một đến tháng tư năm sau). Thực ra người ta có thể tổ chức lễ cưới vào bất cứ tháng nào nếu tính thấy tốt và không ngại nóng (mùa nắng), không ngại ướt (mùa mưa). Song, có một tháng mà ai cũng phải kiêng – đó là tháng bảy (mưa ngâu).

Mưa ngâu nhắc một truyền tích Ngưu Lang, Chức Nữ: Ngưu Lang (Kiên Ngưu) là một ngôi sao, chăn trâu phía Tây sông Ngân, yêu Chức Nữ cũng là một ngôi sao – con gái Thượng đế. Đây là hai ngôi sao nằm trong 28 ngôi sao nổi tiếng (Nhị thập bát tú). Thượng đế nhận Ngưu Lang làm rể. Nhưng từ khi có chồng, Chức Nữ lười biếng nên bị Thượng đế phạt, đầy Chức Nữ sang bờ Đông sông Ngân và lệnh cho mỗi năm hai người chỉ được gặp nhau một lần vào ngày Thất tịch (mồng 7 tháng 7). Bởi thế, lúc gặp được nhau ấy, hai người khóc rả rích như mưa. Mưa rả rích tháng 7 gọi là mưa ngâu (tức Ngưu). Tình lứa đôi lỡ dở như vậy, nên dân ta thường ngại, không tổ chức lễ cưới vào tháng này.

Trước ngày cưới một ngày, cả hai nhà đều làm lễ cáo gia tiên và thổ công. Nhà gái xin phép (gia tiên và thổ công) cho con xuất giá, làm con nhà người. Nhà trai xin phép được báo là có thêm người và sẽ có thêm con cháu nối dõi tông đường.

Tuy hai gia đình đã thoả thuận với nhau ngày, giờ cưới rồi, nhưng trước khi lễ đón dâu vài ba tiếng đồng hồ (nếu hai nhà ở gần, nếu ở xa thì trước một ngày) nhà trai lại cử người đến nhà gái với chút lễ mọn: cơi trầu để “xin dâu”. Cơi trầu này phải xếp đủ 12 miếng trầu cánh phượng, mười hai miếng cau cánh tiên, đến nhà cô dâu báo xin giờ đón dâu. Tại sao phải là 12? Vì các cụ cho hay là 12 tượng trưng cho 12 bà mụ (chăm sóc việc sinh đẻ sau này của cô dâu), 12 giờ trong một ngày, 12 tháng trong một năm và 12 vị thần (quan hành khiển) thay phiên nhau trông nom đời sống con người.

Vì sao lại phải đến xin dâu khi hai gia đình đã thoả thuận rồi? Vì trước đây có những cuộc tình duyên ép buộc, cô gái kiên quyết chống lại, nên thường bỏ trốn vào phút chót; hoặc do tai biến bất thường như ốm đau hoặc tai nạn. Việc xin dâu vào lúc áp ngày, giờ cưới, mục đích nhằm đảm bảo cho lễ cưới suôn sẻ, tránh điều tai tiếng có thể xảy ra đối với họ hàng, quan khách: Đám cưới không có cô dâu.

Định xong ngày, giờ đón dâu rồi, chủ hôn cử người mang lá trầu, quả cau đi mời ông cầm hương. Ông là người sẽ cầm bó hương dẫn đầu đám rước dâu. Thường người ta chọn người đứng tuổi, phúc hậu, gia đình nền nếp, vợ chồng song toàn, không tang chế, con cháu đông vui, hoà thuận. Như vậy ông là có phúc, có lộc mời ông giúp đám cưới, ông sẽ chia sẻ phúc lộc cho đôi trẻ sau này. Còn đối với ông, ông tự coi đây là một vinh dự vì ông là tượng trưng cho sự hoàn hảo, đầy đủ, dân làng quý trọng Ông. Ông cầm hương, mặc áo dài đỏ, quần tơ tằm vàng (màu đỏ tượng trưng cho sự sống). Ông cầm hương nhai miếng trầu, dùng một tuần trà, chờ đợi thực hiện nghi lễ. Các cụ truyền lại rằng: Hương thơm chứng tỏ đám rước dâu thanh sạch, hương thơm cũng đuổi ma quỷ (theo đám cưới để quấy nhiễu) gặp trên đường.

Quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” theo người xưa

Đây là câu nói cửa miệng, quen dùng chỉ môi quan hệ nam nữ theo quan niệm của nhà Nho. Người đàn ông và người đàn bà ngàỵ xưa trao cho nhau cái gì, nhận của nhau cái gì, đều không trực tiếp tận tay. Hai chữ “thụ thụ” trái ngược nghĩa: một chữ “thụ” là trao cho, một chữ “thụ” là nhận.

Quan niệm "nam nữ thụ thụ bất thân" theo người xưa
Quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” theo người xưa

Hai người muốn mời nhau ăn trầu, thì người chủ têm trầu xếp vào cơi trầu, đặt giữa bàn, khách tự nhặt lấy mà ăn. Lễ giáo phong kiến thật khắt khe, việc tỏ tình yêu trực tiếp khó mà thực hiện được, họa chăng chỉ còn đôi mắt thầm lén nhìn nhau!

Xem thêm: Tập tục cúng mụ và lễ đầy tháng cho trẻ

Người châu Âu từ nhỏ đến già, theo phép lịch sự bắt tay nhau, nhảy với nhau là chuyện thường, Nhưng người Việt Nam và người Á Đông nói chung, nam nữ vô ý chạm vào da của người khác giới thì coi như có cử chỉ không đứng đắn.
Người đàn ông có thái độ suồng sã sẽ bị đàn bà xa lánh, nhưng không đáng lo bằng người con gái lẳng lơ, bị xã hội dèm pha thì khó mà lấy được tấm chồng cho đáng tấm chồng. Vì vậy các nhà quyền quý thường “cấm cung” con gái.

Ngay từ tuổi thơ đã sớm hình thành sự ngăn cách giới tính. thời phong kiến xưa, chỉ những người có tư tưởng tân tiến mới cho con gái đi học, và có đi học thì con trai ngồi riêng con gái ngồi riêng. Trai gái đi cùng nhau, vui chơi cùng nhau bị bạn bè cùng lứa chế nhạo. Có hội hè đình đám cũng phải phân biệt đàn ông đứng bên trái, đàn bà đứng bên phải.

Xem thêm : Tục lệ ghi tên vào gia phả ( Sổ họ)

Ở thành thị, vợ chồng nằm ngủ với nhau một giường là chuyện bình thường. Nhưng ở nông thôn đàn bà nằm nhà trong, đàn ông nhà ngoài đã trở thành nếp. Ngày xưa, phổ biến mọi nơi đều như vậy. Ngày nay lệ đó vẫn còn ở nhiều vùng, nhiều nhà.

Tục lệ ghi tên vào gia phả ( Sổ họ)

Thời xưa, đối với cộng đồng: ngõ, xóm, làng xã, dòng họ… khi đặt tên cho con (đã được nhận giấy khai sinh), bố mẹ đứa trẻ phải làm lễ trình gia tiên, rồi sửa một lễ nhỏ tối trương họ xin ghi tên con vào sổ họ (tộc bạ).

Tên được ghi trong gia phả

Tất nhiên chỉ có đứa trẻ là con trai mới được thực hiện lễ thức này; còn đứa trẻ là con gái thì không được ghi tên vào sổ họ, coi như “nữ nhân ngoại tộc”- con gái thuộc họ khác, xa lạ (!) – vì sau này khi đi lấy chồng, người đàn bà được ghi tên vào gia phả nhà chồng (cũng có gia đình bên chồng cũng không ghi tên người vợ, mà chỉ ghi họ và chữ đệm, bên cạnh tên chồng. Ví dụ: chồng là Nguyễn Văn An, Vợ: Bùi Thị. Đó cũng là thiệt thòi rất phi lý cho phụ nữ ngày xưa).

Sổ họ cũng tức là tộc phả. Trong sổ này mỗi người được ghi rõ họ và tên (gồm họ, chữ đệm, tên) vào đúng từng vị trí: là con thứ mấy của bố nào, mẹ nào (bố mẹ cũng được ghi đủ cả họ, chũ đệm và tên) và gia đình ấy thuộc chi thứ mấy (tức là anh em chi trên, chi dưới, ngành nào). Những việc làm kể trên gọi là “vào họ”.

Tục lệ ghi tên vào gia phả ( Sổ họ)
Tục lệ ghi tên vào gia phả ( Sổ họ)

Từ ngày vào họ, đứa trẻ phải chịu sự đóng góp cho họ vào các dịp giỗ họ hoặc các việc công ích của họ (số tiền đóng góp không lớn, vì đây là suất trẻ con chỉ khoảng 1/3, 1/4 so với người lớn, rồi điều chỉnh tăng dần theo tuổi lớn của đứa trẻ, cho tới năm 18 tuổi thì đóng đủ một suất).

Các làng quê Việt Nam xưa đều chia thành các xóm, mỗi xóm lại chia thành nhiều ngõ. Các đơn vị này tồn tại trong một tổ chức của làng. Tuy nó không được xét về mặt hành chính, nhưng về tâm linh và tình cảm thì ngõ, xóm lại trực tiếp củng cố tình nghĩa láng giềng giữa những người làng với nhau. Trong cuộc sống thường nhật, họ giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt: “Tối lửa tắt đèn có nhau”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần”… đã trở thành những câu thành ngữ độc đáo của người Việt.

Ngoài việc vào họ, bố mẹ còn phải có cơi trầu tới ông trưởng ngõ, trưởng xóm xin cho con mình vào “hàng ngõ”, “hàng xóm”; rồi được ghi tên vào sổ của ngõ, xóm. Từ đó, đương nhiên đứa trẻ cũng bắt đầu có nghĩa vụ với ngõ, xóm và sẽ được hưởng mọi quyền lợi mà một thành viên của ngõ, xóm được hưởng.

Ở nông thôn xưa còn có tổ chức Giáp. Giáp là một tổ chức đặc thù bền vững của làng quê Bắc bộ. Giáp là một thứ tổ chức của nam giới ở nông thôn xưa. Giáp có trách nhiệm quản lý sổ đinh của làng, giúp các chức sắc của làng đôn đốc tạp dịch, sưu thuế ở nông thôn mà trai đinh phải gánh chịu. Làng nào đinh nhiều thì lực lượng sản xuất mạnh, lực lượng bảo vệ làng tốt (bảo vệ làng chống cướp lúa ngoài đồng, chống trộm cướp ở trong làng), bảo vệ an ninh cho làng.

Xuân thu nhị kỳ làng mở hội thì giáp chịu trách nhiệm toàn diện về tồ chức lễ hội: từ việc cúng tế, lễ lạt cho đến các trò chơi trong hội.

Làng mạnh hay yếu là tùy thuộc một phần quan trọng ở sổ đinh nhiều hay ít. Vì thế, đẻ con trai không chỉ là niềm vui của gia đình, dòng họ, mà còn là niềm vui của giáp, của làng.

Như vậy, các em bé trai sau khi ghi tên vào ngõ, xóm bố mẹ chúng còn phải trình giáp để xin cho cháu vào sổ đinh của hàng giáp. Tiếp đó lại phải vào làng để được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ của người dân trong làng. Thực ra, tuy ghi tên từ lúc sơ sinh, nhưng chỉ tới khi 18 tuổi thì người thanh niên mới thực sự hưởng quyền lợi và chịu nghĩa vụ đầy đủ của một trai làng.

Không phân biệt nam nữ

Ngày nay, trong chế độ mới xã hội chủ nghĩa, con người ở làng quê cũng như đô thị đều sống và làm việc theo pháp luật, xã hội được tổ chức chặt chẽ và văn minh: Gia đình nào sinh con thì trong khoảng thời gian quy định (từ 3 – 7 ngày) phải khai sinh, nhập hộ khẩu gia đình theo một trình tự nhất định. Cháu bé sinh tại bệnh viện hoặc trạm xá phải có giấy chứng sinh, nếu sinh tại gia đình cũng được thông báo với ngõ, xóm, làng xã; rồi thực hiện thủ tục khai sinh tại ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

Trong chế độ xã hội mới, các cháu bé ra đời không phân biệt trai hay gái, đều được bình đẳng và được xã hội quan tâm chăm lo sức khỏe (tiêm chủng định kỳ, uống vắc xin theo lứa tuổi, khám và chữa bệnh không mất tiền…)*Những kiêng cữ không khoa học cũng được giảm dần, cháu bé ra nhập với cộng đồng cùng với mạng lưới y tế – giáo dục – văn hoá phát triển mạnh mẽ từ thành thị đến nông thôn và kể cả vùng sâu, vùng xa.

Vấn đề này đã có lệ từ xưa, không có gì mới mẻ. “ Họ nào đã có nề nếp sẵn thì cứ theo lệ cũ tiến hành”.

Đối với những họ mới phục hồi lại việc họ, chưa vào nền nếp, chúng tôi xin mách một vài kinh nghiệm:

Yết cáo tổ tiên: Theo lệ cũ chỉ sau khi đối chiếu gia phả, kiêng kỵ các trường hợp phạm huý (đặt tên trùng với tên huý của tố tiên và thân nhân gần gũi nhất, kế cả nội ngoại) mới chính thức đặt tên huý cho trẻ sơ sinh, yết cáo tổ tiên và xin vào sổ họ. Ngày nay phải làm thủ tục khai sinh kịp thời. Trường hợp ở xa quẽ, không kịp về đối chiếu gia phả, lỡ trùng tên huý tổ tiên trực hệ thì tìm cách đôi hoặc tránh gọi thường xuyên trong nhà. Lễ yêt cáo tồ tiên rất đơn giản, nén hương, cơi trầu, chén rượu cũng xong, thường kêt hợp lễ tê tổ hàng năm mà yết cáo chung tất cả con cháu trong họ sinh trong năm cùng một lượt. Lễ vào sổ họ cũng đơn giản, côt sao cho gia đình nghèo nhất trong họ cũng không gặp phải điểu gì phiền phức.

Vào sổ họ: Thứ tự sổ họ ghi theo năm sinh, ai sinh trước ghi trưóc, sinh sau ghi sau. Trường hợp nhiều năm bị phế khoáng nay mới lập lại sổ họ thì phải thống kê theo đơn vị hộ gia đình hoàn chỉnh cả họ, sau đó mới lập số tiếp đỗì với những trẻ sơ sinh.

Mẫu số: Họ Tên (Tên Huý. Tên thường gọi) con ông bà, thuộc đòi thứ mấy, chi thứ mấy? Con trưởng hay con thứ mấy? Ngày tháng, năm, sinh, ngày vào sổ họ.

Con gái vào sổ họ: Bất cứ trai hay gái, sau khi sinh đều có yết cáo tổ tiên, đã được tổ tiên phù trì phù hộ. Nhưng nhiều họ ngày xưa không vào sổ họ đối với con gái, cho rằng: “Nữ nhân ngoại tộc”, con gái là con người ta, lớn lên đi làm dâu lo cơ nghiệp nhà chồng vì thế không công nhận con gái vào họ. Tuy vậy, ngay trước Cách mạng tháng Tám 1945 một số họ đã xoá bỏ điều bất công đó, con gái cũng có mọi quyền lợi nghĩa vụ như con trai.

Ngày nay, trong phong trào khôi phục việc họ, các họ đặc biệt quan tâm đến con gái và nàng dâu của họ, họ nào coi trọng vai trò phụ nữ và coi trọng vai trò người mẹ, người vợ, người cô, người chị, thì họ đó mới vững mạnh. Cả nước đang ra sức vận động kế hoạch hoá gia đình, con gái cũng như con trai, vậy nên vận dụng phong tục cũng phải phù hợp với tư duy thời đại.

Các đặt tên nam, nữ theo văn hóa xưa

Thông thường cách đặt tên nam nữ thì tên đầy đủ của mỗi người (nam cũng như nữ) đều gồm 3 từ: họ, chữ đệm (lót) và tên. Ví dụ: Lê Văn Phán, Nguyễn Hùng Cường, Trương Công Thành (đối với nam); Nguyễn Thị Đào, Chu Thị Hiền, Cao Thị Thực (đối với nữ). Tuy nhiên, đối với một số trường hợp người ta không dùng chữ đệm (lót), mà chỉ dùng họ và tên như: Lê Ban, Trương Tân, Vũ Duy… (thường là đối với nam giới). Cũng có người dùng tới 4 từ: Họ, chữ đệm và tên (2 từ): Hoàng Thị Anh Đào, Trương Thị Vân Thu, Phan Thị Bích Hằng… (đối với nữ giới). Một vài dòng họ ở Huế có những người dùng họ và tên không chỉ 4 từ mà còn đến 5 – 6 từ: Công Tằng Tôn Nữ Thị Phương Ly, Công Huyền Tôn Nữ Ái Vân…

Các đặt tên nam, nữ theo văn hóa xưa
Các đặt tên nam, nữ theo văn hóa xưa

Có một số trường hợp người ta dùng chữ đệm (lót) bằng họ mẹ: Nguyễn Trần Phan (với nam); Nguyễn Trương Hà Mi, Lê Hoàng Khánh Thi… (với nữ).

Đặt tên nam nữ để phân biệt cùng huyết thống

Như vậy, mỗi con người phải có họ để biết sự truyền nối giữa các thế hệ, mối quan hệ huyết tộc với nhau. Đối với người Việt Nam, nếu nam nữ cùng dòng họ, hoặc cùng một chi họ thì không thể kết hôn với nhau được.

Như vậy, đối với người Việt Nam để có đủ họ và tên thường phải có ba thành tố như đã trình bầy ở trên thì mới dễ phân biệt, được các cá thế khác nhau. Trong đời sống xã hội có nhiều người trùng tên, thậm chí còn trùng cả chữ đệm, nên chỉ còn phân biệt nhau ở họ. Tuy nhiên, dòng họ trong xã hội cùng một giai đoạn lịch sử hoặc khác thời đại, vẫn có hai hoặc ba người trùng tên, trùng họ, trùng chữ đệm. Ví dụ: nhà sử học Lê Quý Đôn thời trước và ông Lê Quý Đôn (Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 1994 – 1999) thời nay. Nếu trong trường hợp cùng thời đại mà hai người lại trùng họ, trùng tên, trùng chữ đệm thì người ta truy tìm đến nguyên quán từng người thì sẽ giải mã được điều bí ẩn trên.

Trường hợp đổi tên họ

Thông thường và kể cả mặt pháp lý thì con đều lấy họ cha. Hạn hữu, hoặc bởi một lý do đặc biệt nào đó thì con mới lấy họ mẹ. Ví dụ: “Con sinh ngoài giá thú” mà người mẹ không muốn cho con biết tên người cha đích thực của con, hoặc người mẹ cũng không biết cụ thể.

Cũng có trường hợp khi mẹ không có anh em trai, bố và ông bà ngoại đồng ý để một người con trai của mẹ lấy họ mẹ để chịu trách nhiệm thờ phụng bên ngoại. Trường hợp như vậy thì phải đổi họ, mà ngày nay pháp luật vẫn cho phép thông qua một số thủ tục hành chính nhất định.

Trong thực tế lịch sử dân tộc cũng có nhiều lý do khác nhau mà người ta đổi họ. Ví dụ:

  • Một người vì hoàn cảnh hoặc ý thích nào đó, muốn mai danh ẩn tích.
  • Một dòng họ bị suy vong trong lịch sử mà phải chuyển sang họ khác, tránh bị truy lùng để phục thù (Ví như nhà Mạc sau khi phải rời kinh đô chạy lên Cao Bằng. Lúc đó một số người hoặc chi họ Mạc đổi sang họ Nguyễn để được sống bình yên trong chế độ đương thời.
  • Trường hợp thân nhân những người tù tội (tử hình) muốn tránh tai tiếng cuộc đờ
  • Trường hợp nhà bị chu di tam tộc (án tử hình cả ba họ), con cháu trốn chạy phải đổi họ mới yên ổn.
  • Những người có công với triều đình, được vinh dự nhà vua ban cho quốc tính (lấy họ của vua). Ví dụ: Trần Bình Trọng gốc là họ Lê.
  • Đồng bào dân tộc Vân Kiều được lấy họ Hồ (Bác Hồ).
  • Những trường hợp con nuôi có khi bỏ họ cha đẻ, theo họ cha nuôi…

Tóm lại

Nhìn chung, chữ đệm của nam giới thường là Văn, nối liền họ và tên (đó là chữ đệm thông thường và quen thuộc). Nhưng chữ đệm cũng được phát triển phong phú như: Hữu, Đình, Thọ, Trọng, Trung, Thế, Duy… hoàn toàn tuỳ thuộc vào từng người hoặc từng chi họ. Nhưng chữ đệm của nữ giới thì gần như cố định, hầu như duy nhất là Thị. Tuy nhiên, vài thập kỷ gần đây cũng đã có những biến đổi phong phú, nhưng người ta vẫn có khả năng đoán ra, khi không có chữ Thị. Vì những tên đệm này rất dịu hiền, êm ái, giàu nữ tính. Ví dụ: Nguyễn Mộng Trúc, Trương Vân Thu, Trương Yến Nhi, Trần Thu Hà, Nguyễn Bích Vân…

Hội làng Bát Tràng

Bát Tràng là một làng cổ nằm ở bờ Bắc của sông Hồng, nay thuộc xã Bát Tràng huyện Gia Lâm Hà Nội. Hơn 600 năm trước, có người họ Nguyễn từ Vĩnh Ninh (Thanh Hóa) đến đây lập nghiệp.

Khai hoang lập làng Bát Tràng

Tiếp đó, 5 cụ họ Lê, Trần, Vương, Phạm, Nguyễn đem gia đình đến vùng 72 gò đất trắng lập phường sản xuất gốm gọi là Bạch Tho phường.Trải qua các thế kỷ, nghề gốm ngày càng phát đạt và những người ở Bồ Bát (Ninh Bình) tìm ra lập nghiệp ngày càng đông.

Vào thời cuối Lê, làng Bát Tràng đã có 20 họ. Cùng với sản xuất gốm sứ, làm ruộng, buôn bán, việc học ở làng cũng được người dân coi trọng. Trong hơn 5 thế kỷ, dưới thời học chữ Nho, Bát Tràng có 364 người đỗ đạt, trong đó có Trạng nguyên Giáp Hải (1506 – 1586), 8 người đậu tiến sĩ cùng nhiều quan võ khác.

Hội làng Bát Tràng
Hội làng Bát Tràng

Thời gian đầu, làng chỉ có một ngôi miếu nhỏ làm bằng tranh tre ở ngoài bãi sông Hồng, Năm 1720, đình được làm với quy mô lớn hơn. Đình xây kiểu chữ nhị, phía trong là tòa hậu cung 3 gian; phía ngoài là tòa đại bái 5 gian 2 chái. Cột đình được làm bằng gỗ lim có đường kính lớn. Gian giữa thấp bày hương án. Các gian bên đều lát gỗ thành bục cao. Mặt đình hướng ra phía sông Hồng. Trong kháng chiến, đình đã bị bom Mỹ phá hủy. Năm 1993, dân làng đã góp tiền của dựng lại đình theo kiến trúc truyền thống. Tại đình còn giữ được một số đồ tế khí như: Ngai thờ, bát bửu, chuông đồng, kiệu bát cống, hai biển gỗ tạo vào thời Minh Mạng, cùng nhiều hoành phi, câu đối cỡ lớn, mỗi chữ có thể coi là một tác phẩm thư pháp độc đáo. Đình Bát Tràng đến nay còn giữ được 50 đạo sắc phong Thần có niên đại từ thời Lê, thời Tây Sơn, thời Nguyễn.

Bát Tràng là một điểm tụ cư, vì thế ngoại Thành Hoàng bản địa, nhân dân nơi khác đến cũng rước Thành Hoàng cũ của mình đến thờ làm phong phú hơn truyền thông văn hóa. Đó là Thần Bạch Mã Đại Vương; Trang Thuận Nghi Dung; Phan Đai Tướng

Hội làng Bát Tràng

Trước đây, Bát Tràng vào hội từ ngày 15 – 22 tháng hai âm lịch. Trước Tết, vào ngày 25 tháng Chạp, làng đem lễ vật đen làng Đuốc (làng kết chạ với Bát Tràng) xin chặt tre làm cây nêu. Ngày 7 tháng Giêng làm lễ hạ nêu. Cây tre làm nêu dược dùng để chẻ tăm, vót đũa sử dụng hàng ngày. Trước khi vào hội khoảng 10 ngày, làng tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng để bao sái bài vị Thần ở ngôi miếu bên sông. Sau đó, dân làng rước bài vị Thần ra đình tế lễ. Khi tế, các họ được rước Tổ của mình ra phối hưởng. Họ Nguyễn Ninh Tràng (họ đầu tiên đến làng Bát Tràng sinh sống) được rước bát hương có lọng che màu vàng đi ở giữa. Các họ khác rước bát hương có lọng che màu xanh đi sang hai bên. Khi tế, chỉ có các vị khoa mục (những người đỗ đạt cao trong dòng họ) mới được vào đình, còn các hào mục (những chức dịch trong làng) đứng bên ngoài hầu lễ. Bát Tràng còn lệ giữ nghiêm ngôi thứ. Tại đình trải 4 chiếu rộng. Có chiếu dành cho các vị đậu tiến sĩ, có chiếu dành cho võ quan được phong tước công, có chiếu dành cho các cụ thọ từ 100 tuổi trở lên. Có năm không đủ người, chiếu nào trống thì làng đặt một cây đèn, chai rượu, đĩa trầu cau vào giữa chiếu để thờ vọng. Hàng năm vào ngày Rằm tháng hai (15 – 2), ngày đầu tiên vào hội, làng biện lễ cúng Thành Hoàng gồm một con trâu tơ béo, thui vàng, sau đó đặt lên một chiếc bàn lớn sơn son, kèm theo 6 mâm cỗ và 4 mâm xôi. Tế xong, các quan viên chức sắc, đại diện 20 dòng họ cùng thụ lộc.

Hội Bát Tràng có nhiều trò diễn, độc đáo nhất là trò chơi cờ người và hát thờ. Theo lệ, trước hội, làng chọn lấy 2 bà tướng cờ là những người phẩm hạnh, giàu có nhất trong làng. Mỗi bà tướng nhận 16 thiếu nữ tuổi từ 10 – 15 xinh đẹp, nết na nuôi ăn uống và may cho áo quần thật đẹp. Các cô được rèn tập làm quân cờ trong một tháng mới được ra biểu diễn thi đấu ở sân đình vào ngày hội.

Công việc chuẩn bị cho hát thờ cũng rất độc đáo và công phu. Làng tổ chức 3 chầu thi và 4 chầu cầm để bọn bài, người vào hát thờ.Sau đó, mời các hội đàn hát ở các làng xung quanh đến tập để chọn giọng. Đội nào vượt lên nhất qua 4 chầu cầm sẽ được hát thờ trong lễ hội năm đó.

Cùng với nghi lễ rước nước, tế lễ và các trò chơi dân gian, làng nghề sẽ trưng bày những sản vật gốm đặc sắc nhất của mình tại chợ gốm Bát Tràng nằm ở vị trí trung tâm của làng.