Việt Nam thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc

Thời kỳ dựng nước và Bắc buộc của nước ta khá dài, kéo dài đến 1000 năm. Bài viết xin được tóm tắt theo trình tự thời gian để các bạn tiện theo dõi.

Xem thêm: Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Thời kỳ sơ khai

  • Thời kì đồ đá: cách đây 30 vạn năm, di tích núi Đọ (Thanh Hoá), người vượn Việt Nam, văn hoá Sơn Vi.
  • Thời kì đồ đá giữa: cách đây một vạn năm, văn hoá Hoà Bình, nghề nông xuất hiện.
  • Thời đại đề đá mới: cách đây 5 nghìn năm, văn hoá Bắc Sơn, văn hoá Bàu Tre.

Tiếp theo những nền văn hoá trên, những trung tâm văn minh của nhà nước sơ kỉ đầu tiên như: văn minh Đông Sơn, văn minh Sa Huỳnh, văn minh Ốc Eo… trên nền tảng của những nền văn minh này đã hĩnh thành nhà nước sơ kì đầu tiên cùa người Việt cổ mà truyền thuyết dân gian gọi là nước Văn Lang của các vua Hùng.

Thời kì vua Hùng bắt đầu dựng nước

Hùng Vương tôn 18 vị vua cách đây khoảng hơn 4000 năm. Theo sử cũ và truyền thuyết, bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt sống ở các vùng trung du, đồng bằng châu thổ và hồng chục bộ lạc Âu Việt sống chủ yếu ở vùng Việt Bắc. Các bộ lạc sống xen kẽ nhau hình thành các vùng dân cư. Do nhu cầu trị thuỷ và chống xâm lấn, thủ lĩnh bộ lạc Lạc Việt đứng ra thổng nhất các bộ lạc, dựng nước Văn Lang, ông xưng vua, sử gọi là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ), con cháu ông đời đời mang danh hiệu đó. Hàng năm hội đền Hùng mở vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, nhân dân quen gọi là ngày giỗ tổ.

Đời Hùng Vương thứ sáu, nước có giặc Ân. Vua sai người đi cầu hiền, phát hiện cậu bé làng Gióng, có tài ăn khoẻ, giỏi đánh giặc. Đánh tan giặc Ân, cậu bé làng Gióng trở về trời và được nhân dân gọi là Phù Đổng Thiên Vương hay Đức Thánh Gióng.

Nhà Thục thế kỉ thứ 3 trước công nguyên. Do sự suy yếu của triều đại Hùng Vương cuối cùng, Thục Phán- một thù lỉnh người Âu Việt ở miền núi đã hợp nhất nước Văn Lang của người Lạc Việt, dựng nước Âu Lạc tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh- Hà Nội).

Dưới thời An Dương Vương, người Âu Lạc đã chế ra hàng loạt mũi tên đồng, được gọi là nỏ thần và xây dựng thành Cổ Loa với 9 lớp xoáy trôn ốc- một kì công về kĩ thuật quốc phòng (nay còn di tích ở huyện Đông Anh- Hà Nội).

Nước Âu Lạc bị quân Tàn nhòm ngó, tướng của nhà Tàn là Triệu Đà đã cho con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôn vớì công chúa Mỵ Châu con gái vua An Dương Vương để đánh cắp nỏ thần. Câu chuyện tình lịch sử Mỵ Châu, Trọng Thuỷ đã để lại bài học cảnh giác cho các thế hệ đời sau. Nồm 179 trước công nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính, bắt đầu thời kỉ hơn một nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ.

Thời kỳ bắc thuộc - Khởi nghĩa hai bà Trưng
Thời kỳ bắc thuộc – Khởi nghĩa hai bà Trưng

Hơn một ngàn năm Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Trong hơn một ngàn nồm bị đô hộ bởi các triều đại phong kiến phương Bắc, người Việt cổ không ngừng đấu tranh đế giành độc lập tự do cho đất nước.

  • Năm 40- 43: khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa sớm nhất và cũng thành công nhất của cộng đồng ngưòi Việt dưới sự lãnh đạo của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị thuộc dòng dõi quý tộc thời Vua Hùng.
  • Năm 248: khởi nghĩa Bà Triệu. Bà tên là Triệu Thị Trinh, quê ô vùng núi  Thanh Hoá. Bà đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô và hi sinh lúc 23 tuổi.
  • Năm 542: khởi nghĩa Lí Bí. Ông quê ở Long Hưng (Thái Binh), có tài văn võ, làm quan với nhà Lương, sau bỏ quan về tập hợp lực lượng khởi nghĩa. Năm 544, cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, ông lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.
  • Năm 548: khởi nghĩa Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương). Sau khi được Lí Nam Đế trao quyền lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chóng quân Lương, Ông đưa quân về Dạ Trạch (Bãi Màn Trò, Hưng Yên) để tiếp tục cuộc kháng chiến. Năm 548, ông lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương, dân gian quen gọi ông là Dạ Trạch. Vương.
  • Năm 791- 802: khởi nghĩa Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) Ông xuất thân là hào trưởng đất Đường Lâm (Ba vì – Hà Tây Năm 791 ông cùng các tướng lĩnh bất ngờ tiến đánh thành Tống Bình (Hà Nội). Chiếm được thành, ông xây dựng cơ đồ và được nhân dân tôn vinh là Bố Cái Đại Vương. Đền thờ ông ngày nay còn ở Đường Lâm (Hà Tây).

Năm 938, khi quân Nam Hán ngấp nghé ngoài bờ cõi, Ngô Quyền người Đường Lâm (Hà Tây), được nhân dân ủng hộ đã tập hợp lực lượng tổ chức kháng chiến, ông bố trí, một trận địa cọc gỗ nhọn đầu bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi nước thuỷ triều lên, ông cho quân ta nhử thuyền địch tiến vào sông, chờ khi nước thuỷ triều rút, quân ta bắt đầu tấn công dữ dội, thuyền địch hoảng sợ tháo chạy va vào cọc nhọn đắm gần hết.

Dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền, chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 đã kết thúc hoàn toàn thời kì mất nước kéo dài hơn một nghìn năm và mở đầu một thời kỉ độc lập dân tộc.

Sau thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc là thời kỳ Việt Nam qua các triều đại phong kiến mời các bạn xem tiếp tại đây

Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Khi các tộc người trên đất nước Việt Nam vươn lên định hình với những nền văn minh và nhà nước đầu tiên thì cũng là lúc ở phương Bắc một đế chế hùng mạnh đã bắt đầu thành lập và bành trướng xuống phương Nam. Vì thế lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh liên tục để dành độc lập tự do. Có thể tạm chia thành mấy thời kì như sau:

–        Thời kì Bắc thuộc

–        Thời kì xây dựng và giữ vững nền độc lập

–        Thời kì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội .

Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ
Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Thời kì Bắc thuộc

Thời kì này kéo dài một nghìn năm. Đây là một trong những thời kỉ thử thách ác liệt nhất trong tiến trình lịch sử của các tộc người trên dải đất Việt Nam. Dưới ách đô hộ và chính sách đồng hoá của các triều đại phong kiến Trung Quốc, người Việt Nam vẫn giữ được bản sác dân tộc. Về văn hoá, tiếng Việt vẫn giữ được cấu trúc riêng, những phong tục tập quán co từ thời Lạc Việt vẫn được bảo tồn. Về chính trị, các cuộc khởi nghĩa giành độc lập nổ ra gần như liên tục: khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, khởi nghĩa Lí Bí… với chiến tháng Bạch Đằng lịch sử năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo, nhân dân Việt Nam đã giành lại được độc lập cho dân tộc.

Xem thêm bài viết chi tiết về thời kỳ bắc thuộc

Thời kì dựng và giữ nền độc lập

Thời kỉ này kéo dài khoảng gần một nghìn năm (đầu thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX), Đây là kỉ nguyên phục hưng của dân tộc và phát triển rực rỡ dưới các triều đại: Triều Lý (1010-1225), Triều Trần (1226-1440), Triều Lê (1428-1527), mà thành tựu tiêu biểu là nền văn minh Đại Việt, nền văn hoá Thăng Long.

Thời kì này, kinh đô dời về Thăng Long (Hà Nội ngày nay), đạo Phật, đạo Nho chi phối đời sống tư tưởng xã hội. Quốc Tử Giám – Trường đại học đầu tiên của Việt Nam được mở. Thành quách, đền đài, chùa chiền, cung điện cũng lần lượt được xây dựng. Về văn hoá, chữ Nôm được phổ biến và vận dụng trong sáng tác văn học. Nguyễn Trãi là người đã nêu cao tiếng Việt và vận dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học, tập thơ Quốc âm thi tập gồm 250 bài thơ của ông là một trong những tập thơ nôm xưa nhất còn lưu truyền đến ngày nay. Nghề thủ công cùng các hình thức nghệ thuật dân gian phát triển mạnh, tuồng, chèo, múa hát, rối nước, đấu vật…

Trong thời kỉ này, dân tộc Việt Nam cũng nhiều lần chống trả quyết liệt sự xâm lăng của kẻ thù bên ngoài: Cuộc kháng chiến chống quân Tống thế kỉ XI, ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỉ XIII và cuộc kháng chiến chống quân Minh thế ki XIV.

Xem thêm bài viết : Việt Nam qua các triều đại phong kiến để nắm rõ hơn về thời kỳ này

Cuối thế kỉ XVII, chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tỉnh trạng khủng hoảng, đất nước bị chia cất. Cuộc khỏi nghĩa Tầy Sơn cuối thế kỉ XVIII tháng lợi, bước đầu thống nhất đất nưởc.

Nửa đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn tiếp tục củng cố và thống nhất quốc gia. Nhưng vì bảo thủ nên nhà Nguyễn để đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, lạc hậu. Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Cuộc kháng chiến chống Pháp do triều Nguyễn lãnh đạo đã bị thất bại bi thảm. Từ năm 1884, nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.

Sau khi đặt được nền thống trị trên cả nước, chính quyền cai trị Pháp đả phải đối phó với nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân từ miên Bác đến miền Nam, từ miền xuôi đến mfên ngược, từ quan lại, si phu đến những người nông dân nơi thôn dẫ đổ là phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX rồi đến những phong trào có xu hướng dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX nhưng đều thất bại. Nãm 1930, vói sự thành lập Đàng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, cách mạng Việt Nam đă giành được thấng lợi vào mùa thu tháng 8-1945.

Kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay

Ngay sau khi cách mạng vừa giành được chính quyền, nhân dân Việt Nam đã phải cầm vũ khí đứng lên làm cuộc kháng chiến trưòng kì ròng rã hơn 30 năm để bảo vệ độc lập, tự do tổ quốc. Nhân dân ta đã đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghía thực dân mới.

Xem thêm bài viết chi tiết hơn về thời kỳ này tại : Việt Nam kỷ nguyên độc lâp 1945 đến nay

Cuộc kháng chiến lần thứ nhất kết thúc bằng trận Điện Biên Phủ vang dội năm 1954. Cuộc kháng chiến làn thứ hai kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và đại thắng mùa Xuân 1975. Ngày nay, dân tộc Việt Nam đang bước vào thòi ki mới mở cửa và hội nhập cùng các nước trong khu vực, đưa đất nước đi lên và đứng vào hàng ngũ của các nước phát triển.

Lịch sử Việt Nam thời kỳ sơ khai

Căn cứ vào những di chỉ khảo cổ học tìm thấy ở Núi Đọ (Thanh Hoá), Hang Gòn, Dầu Giây (Đồng Nai), những chiếc răng của người vượn tìm thấy trong hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), các nhà khảo cổ học đã định rằng cách đây hàng chục vạn năm trên lãnh thổ Việt Nam đã cổ cuộc sống của con người. Việt Nam được coi là nơi loài người xuất hiện sớm.

Lịch sử sơ khai Việt Nam

Kèm theo là những di chỉ tìm thấy ở Sơn Vi huyện Lầm Thao  theo giới khảo cố học gọi là nền vân hoá sơ khai. Văn hóa này thuộc  hậu kì thời đại đá cũ, có niên đại cách đầy xấp xỉ 18 nghìn năm. Từ văn hoả Sơn Vì phát triển lên văn hoá Hoà Bình Bắc Sơn thuộc thời kì đá mới. Tồn tại cách đây dưới 1 vạn năm với vản hoá Hoà Bình Bắc Sơn con người đã biết trồng trot, đánh dấu bước chuvển từ kinh tế khai thác (hái lượm, sán hát; sang kinh tế sản xuất trông trọt, chăn nuôi). Các cư dân nguyên thủy sống chủ yếu trên các miền đồi núi đã chuyển đần xuống chinh phục các miên châu thổ sống định cư, phát triển nghề trồng lúa nước và các câv trồng khác kết hợp với việc chăn nuôi, tôn bán, bắt cá và phát triển nghề thủ công- hình thành những làng, xóm.

Vua Hùng dựng nước Văn Lang và những trung tâm văn minh đầu tiên.

Vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước công nguyên, trên lãnh thổ Việt cổ dần xuất hiện 3 trung tâm vân minh đầu tiên gắn với nhà nước sơ kì đó là:  Văn minh của người Việt cổ ở lưu vực sông Hồng Mã, sông Lam phát triển, bằng chứng tiêu biểu nhất của văn  minh Đông Sơn là  trống đồng Đông Sơn nổi tiếng. Trên nền tảng của nền văn minh này này, một hình thái nhà nước sơ kì của người Việt cổ đã hình thành  mà trong truyền thuyết dân gian nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, Các vua Hùng đóng đô ở Phong Châu (Vĩnh Phú), kế theo là nước Ẳu Lạc đờl An Dương Vương đổng đô ở Cố Loa (Đông Anh Hà Nội). Đây là mội thời đại đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết Lạc Long Quân lấy Âu Cư sinh ra bọc trẳm trứng, nở ra trăm con được gọi là tổ tiên chung của dân tộc Viết Nam Truyền thuyết về Sơn Tinh, Thuỳ Tinh, Thánh Gióng đã phản ánh cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai vả chống giặc ngoại xâm trong quá trình đựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam thời cổ đại.

Lịch sử Việt Nam sơ khai

Văn minh Sa Huỳnh ở ven biển miên Trung vào khoảng thiên niên kỉ thứ 1, 2 trước công nguyên. Đó là nền văn minh đầu tiên của người Chăm cổ và là cơ sở dẫn đến sự thành lập nhà nước Champa vào đầu công nguyên.

Văn minh Ốc Eo là nền vần hoá nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam với nhiều di tích trải rộng từ miền tây Hậu Giang qua vùng Đồng Tháp Mười đến thượng lưu sông Đồng Nai. Văn hoá ốc Eo tồn tại từ đầu công nguyên đến thế kỉ VI, VII. Đó là dấu tích của vương quốc một thời thành đạt được sử sách ghi chép với tên gọi là nước Phù Nam.

Nền văn minh Đông Sơn cùng Sa Huỳnh, Ốc Eo là 3 trung tâm văn minh sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam thời cổ đại. Những nước Văn Lang-Âu Lạc, Champa, Phù Nam trải nhiều biến thiên của lịch sử đã hội nhập vào thành một nước Việt Nam ngày nay.

Giới thiệu sơ lược về địa hình Việt Nam

Ba phần tư lãnh thồ Việt Nam là đồi núi, trừ một vài vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn, khấp nơi đều có thể nhìn thấy cảnh núi rừng trùng điệp. Đặc biệt suốt chiều dài miền Trung, rừng núi và đồng bằng xen kẽ nhau làm thành một tổng thể hài hoà. Việt Nam có bốn vùng núi chính, mỗi vùng mang một sắc thái riêng.

Kết quả hình ảnh cho địa hình việt nam

Địa hình các vùng

Vùng núi Đông Bắc hay Việt Bắc, kéo dài từ thung lũng sông Hồng ra đến Vịnh Bắc Bộ, có nhiều danh thắng nổi tiếng như: động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn) hang Pắc Bó, thác Bản Giốc (Cao Bàng), hồ Ba Bể (Bắc Cạn), núi Yên Tử, vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). Đỉnh núi Tây Côn Lĩnh cao nhất.

Vùng Đông Bắc: có 248 núi gồm dân tộc Tày, Nùng, Dao H’Mông sinh sống

Vùng núi Tây Bắc :Từ biên giới phía Bắc, cứ Các dân tộc Thái, Mường, Dao sinh sống.

Vùng Trường Sơn Bắc chạy theo hướng Tây Bắc Đông Nam kéo dài từ miền tây Thanh Hoá đến đèo Hải Vân, cổ động Phong Nha kì thú (Quảng Bình) và những đường đèo nổi tiếng như: đèo Ngang (Hà Tĩnh), đèo Hải Vân (Đà Nẵng). Đặc biệt cổ đường mòn Hồ Chí Minh được thế giới biết đến bởi những kì tích của người Việt Nam trong cuộc kháng chiến vĩ đại lần thứ hai.

Vùng Trường Sơn Nam, nằm ở phía Tây các tỉnh Nam Trung Bộ. Sau những khối núi đồ sộ là một vùng đất rộng lớn được gọi là Tây Nguyên (cao nguyên phía Tầy). Vùng đất Tây Nguyên đày huyền thoại này còn chứa đựng bao điều bí ẩn về thực vật động vật cũng như về sự sống của các dân tộc ít người như Ba Na,  Xơ Đăng, Vân Kiều, Êđê, Cơho, M’nông…, có thành phố Đà Lạt được phát hiện cách đây trên 100 năm là nơi nghỉ mát lí tưởng của Việt Nam.

Động thực vật

Rừng và đất rừng ở Việt Nam chiếm khoảng 50% diện tích, là nơi hội tụ nhiều loài thực vật, động vật của miền Đông Nam Á và thế giới trong đó có nhiều loại gỗ quý: lát hoa, đinh, lim, sến, táu, pơmu… Ngoài gỗ, rừng Việt Nam có nhiều đặc sản có giá trị xuất khẩu: cánh kiến đỏ, nhựa thông, hồi, trẩu..,

Các khu rừng quốc gia được nhà nước bảo vệ có kế hoạch phát triển du lịch sinh thái bền vững như rừng quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), rừng Ba Vỉ (Hà Tây), rừng Cát Bà (Hải Phòng), rừng Cát Tiên (Đồng Nai), rừng Cồn Đảo rừng ngập mặn ở Bạc Liêu, Cà Mau, những khu rừng quý này được thiên nhiên phân bổ cho nhiều địa phương trong cả nước.

Khoáng sản

Dưới mảng đất rừng có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, kẽm. bạc, vàng, đá quý, than, dầu mỏ, khí đốt, suối khoáng vv… Nguồn nước khoáng thiên nhiên ở Việt Nam rất phong phú: suối khoáng Quang Hanh (Quảng Ninh); suối khoáng Hội Vân (Bình Định), suối khoáng Vĩnh Hảo (Ninh Thuận), suối khoáng Dục Mỹ (Nha Trang), suối khoáng Kim Bôi (Hoà Bỉnh)…

Đồng bằng

Việt Nam cọ hai đồng bằng lớn, đồng bằng châu thổ sông Hồng và đông bằng châu thổ sông Cửu Long.

Đồng bằng châu thổ sông Hồng hay còn gọi là đồng bằng Bắc Bộ rộng khoảng 10000 km2 được bôi tụ phù sa của hai con sông lớn: sông Hồng và sông Thái Bình. Đây cũng là địa bàn cư trú cùa người Việt từ bao đời. Nền văn minh lúa nước cũng được tạo ra từ vùng dồng bằng này.

Dòng bảng châu thổ sông Cửu Long hay còn gọi là đồng bằng Nam Bộ rộng khoảng 36.000km2. Đây là vùng đất phì nhiêu, có khí hậu thuận lợi là vựa lúa lớn nhất Việt Nam.

Trên lãnh thổ Việt Nam có hàng nghìn con sông lớn nhỏ. Dọc bờ biển cứ 20 km lại có một cửa sông do đó hệ thống giao thông đường thuỷ khá thuận lợi. Hai hệ thống sông quan trọng là sông Hồng (miền Bấc) dài 500 km và nhiều phụ lưu. Sông Mêkông còn gọi là sông Cửu Long (miền Nam) dài 220 km chia thành hai nhóm sông Tiền Giang và sông Hậu Giang đổ ra biển Đông bằng 9 cửa.

Bờ biển

Việt Nam có bờ biển dài 3260km, cả ba phía đông, nam và tây nam đều trông ra biển. Biển này gọi là biển Đông (một bộ phận của biển Thái Bỉnh Dương) vốn là tên gọi chính thức của người Việt (trên bản dồ các nước có nhiều khi ghi tên khác nhau). Nếu có dịp đi đọc bờ biển Việt Nam, bạn sẽ được chiêm ngưỡng các bãi tám đẹp như: Trà Cổ, Đồ Sơn, Sàm Sơn, Cửa Lồ, Lý Hoà, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Vân Phong, Nha Trang, Vũng lầu, Hả Tiên… Có nơi núi ăn lan ra biển tạo thành vẻ đẹp kỳ thú như Vịnh Hạ Long, được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.

Bờ biển việt nam
Bờ biển việt nam

Với điều kiện địa lí tự nhiên độc đáo, bờ biển Việt Nam có nhiều hải càng: cảng Hài Phòng, Đà Nặng, Quy Nhơn, Cam Ranh, Vùng Tầu. Sài Gòn… Cam Ranh là cảng tự nhiên thuộc loại lớn và tốt so với nhiều cảng trên thế giới.

Biển đảo

Vùng biển Việt Nam còn cổ vùng thềm lục địa rộng lớn, cố khoảng ba nghìn hòn đào lớn nhỏ, chỉ riêng Vịnh Bắc Bộ đã chiếm phần lớn số đảo và tập trung chủ yếu ở vùng Hạ Long, Bái Tử Long (Quảng Ninh), các đảo lớn Cát Bà, Cát Hải cùng nhiều đảo nhỏ đã tạo thành một huyện đảo Cát Bà (Hải Phòng).

Ở giữa vùng biển Việt Nam cổ quần đảo Hoàng Sa. Gồm hơn 30 đảo đá, cồn cát san hô, bãi đá ngầm rải rác trên một vùng biển rộng khoảng 10.000km2 . Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam.

Cách Hoàng Sa khoảng 240 hải lý về phía Nam là quần đảo Trường Sa gồm 100 đảo nhỏ, rạn đá ngầm, bãi san hô nằm trải rộng khoảng 18.000km2. Huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Cách Vũng Tầu 98 hải lí (179km) là Côn Đảo gồm 14 hòn đảo lớn nhỏ. Vũng biển phía Tầy Nam cố huyện đảo Phú Quốc rộng 600 km thuộc tỉnh Kiên Giang, là huyện đảo lớn nhất Việt Nam. Ngoài ra còn cố quần đảo Thổ Chu cách Phú Quốc khoảng 100km.

Giới thiệu chung về địa lý Việt Nam

Địa lý Việt Nam
Địa lý Việt Nam

Diện tích đất liền: 331.689km2.
Dân số: trên 76 triệu người.
Tọa độ đất liền: kinh tuyến: 102°08′-109°27′ Đông.
Vĩ tuyến: 23°23 – độ Bắc.

Thèm lục địa: 700.000km2 ( với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển Đông, các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và tài phán Việt Nam thì điểm cực Nam của vùng biển ở vào vĩ độ 5°25’ Bắc, điểm cực Đông ở vào kinh độ 117°20° Đông, điểm cực Tầy ở vào kinh độ 101°57> Đông).

 

Vị trí

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam Á, phía Đông bán đảo Đông Dương, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông, Nam và Tây Nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Nhìn trên bản đồ, dải đất Việt Nam lượn cong hình chữ s, rộng ở hai đầu nên được ví như chiếc đòn gánh quảy hai bò thốc, từ điểm cực Bắc thuộc xã Lũng Cú huyện Đồng Vãn tỉnh Hà Giang, đến điểm cực Nam thuộc xốm Mũi Rạch Tàu, huyện Ngọc Hiển (Năm Căn) tỉnh Cà Mau, dài 15 vĩ tuyến. Bề ngang của phần đất liền từ điểm cực Tây thuộc xã A Pa Chải huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu đến điểm cực Đông của Mũi Đôi thuộc bán đảo Hòn Gồm tỉnh Khánh Hoà. Vì thế phần đất liền Việt Nam nằm trọn trong múi giờ số 7 GMT. Khoảng cách từ biên giới phía Đông sang biên giới phía Tây không kể thềm lục địa nơi rộng nhất 600km (Bắc Bộ), 400km (Nam Bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Binh). Khoảng cách từ Hà Nội đến Manila 1770km; khoảng cách từ thành phố Hồ Chí Minh đến Xingapo 1100 km; từ thành phố Hồ Chí Minh đến Gia Các ta 1890km. Việt Nam còn là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.

Khí hậu Việt Nam

Khí hậu

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có gió mùa, ánh náng chan hoà, lượng mưa đồi dào và độ ẩm cao. Một số nơi gần chí tuyến hoặc vùng núi cao khí hậu có tính chất ôn đới. Việt Nam có nắng suốt bốn mùa. mùa hè khoảng 200 giờ/tháng, mùa đông khoảng 70 giờ/tháng. Độ ẩm cao, thường dao động từ 80-100%.

Mỗi năm trên diện tích Việt Nam thường được nhận chừng 600 tỉ tấn nước mưa hoặc chừng 2 vạn tấn trên mỗi hecta. Lượng nước nảy thường tập trung vào mùa mưa, trên dưới 10% rải rác váo các tháng khô. (Vỉ thế các công trình đắp đê phòng lụt vào mùa mưa là mỗi quan tâm lớn của người Việt Nam). Lượng ẩm lớn cung lượng nhiệt lớn nối trên chính là điều kiện thuận lợi cho cây cối sinh trưởng và ra hoa kết quả. Nhiệt độ trung bình/năm trong cả nước là 22°C- 27°C; ở Hà Nội 23°C; thành phố Hồ Chí Mính 20 độ;Huế25°C

Khí hậu Việt Nam có hai mùa rõ rệt, mùa khô rét (từ tháng 11 đến tháng 4 nấm sau), mùa mưa nóng (từ tháng 5 đến tháng 10) nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt nhất ở các tỉnh phía Bắc, giữa các mùa chênh nhau tới 12°c. ở các tỉnh phía Nam sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa chỉ khoảng 3 độ C.

Nên khí hậu chung hai mùa, Việt Nam vẫn có dấu hiệu thay đổi bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, rõ nhất ở các tỉnh phía Bắc.