Văn hóa gia đình người Việt

Gia đình là nền tảng của xã hội, gia đình có mạnh thì nước mới mạnh. Việt Nam ngày nay luôn quan tâm đến gia đình, vì gia đình giữ một vai trò cốt yếu trong sự nghiệp chung của đất nước. Xây dựng”‘gia đình văn hoá mới”, “nuôi con khoẻ, dạy con ngoan” luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi gia đình Việt Nam.

Văn hóa gia đình người Việt
Văn hóa gia đình người Việt

Văn hóa gia đình người Việt ảnh hưởng của Nho giáo

Trong mối quan hệ gia đình, dân tộc Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo. Mặc dù tư tưởng này có cách đây hàng nghìn năm và đã được “Việt Nam hoá”.

Theo học thuyết của Nho giáo, vấn đề gia đình là hết sức quan trọng bởi “có tề gia mới trị được quốc” và Nho giáo đã xây dựng mối quan hệ gia đình bắt đầu từ chữ Hiếu. Nho giáo cho rằng người con có hiếu trong gia đình ít khi là người dân hư hỏng trong xã hội. Chính vì thế xây dựng gia đình tốt đẹp cũng là gián tiếp xây dựng đất nước giàu mạnh và yên vui.

Ngoài những yếu tố tích cực, tư tưởng Nho giáo còn nhiều mặt hạn chế đối với văn hóa Việt nhất là đối với phụ nữ trong vấn đề gia đình. Trong quan hệ gia đình người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi nhất, bị ràng buộc bởi đạo Tam Tòng, Tứ Đức. Phụ nữ có chồng chết mà lấy chồng khác là thất tiết, bị xã hội coi rẻ.

Nho giáo đặt tình nghĩa anh em cao hơn tình nghĩa vợ chồng, bỏ vợ này có thể lấy vợ khác còn mất anh em thì không ai có thể thay thế được.

Quan hệ cha – con ràng buộc bởi chữ Hiếu. Con không được làm điều gì khiến cha mẹ phải tủi hổ, phải suốt đời yêu mến cha mẹ, phải phục tùng tuyệt đối cha mẹ, con cái không được quyền tự do yêu đương mà “cha mẹ định đâu con ngồi đấy” vv.

Nho giáo còn đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ giữa các thành viên trong cùng một gia đình, một dòng họ, kêu gọi yêu thương lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn danh dự và phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ. Những nghi thức ứng xử hàng ngày, những lời lẽ răn dạy của cha ông được lưu truyền đến các đời con cháu. Việc thờ cúng tổ tiên, ghi chép gia phả, w. đã làm khăng khít thêm mối quan hệ gia đình, dòng họ. Tuy nhiên ở một khía cạnh khác những quan hệ gia đình, dòng họ bị chi phối bởi lòng tham, tính vị kỷ sẽ gây nhiều tác hại cho xã hội.

Văn hóa gia đình người Việt vẫn được giữ gìn

Cách mạng tháng thành công là bước ngoặt trong lịch sử, cách mạng không chỉ giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi xiềng xích nô lệ nói chung mà còn giải phóng các tầng lớp thanh niên, phụ nữ thoát khỏi sự ràng buộc khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến. Tuy nhiên những truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam xưa vẫn được phát huy và ngày càng củng cố như xây dựng quyền bình đẳng, thuỷ chung giữa vợ và chồng, tình thương yêu của bố mẹ với con cái. Con cái có hiếu với bố mẹ thể hiện bằng lòng biết ơn bố mẹ, chăm sóc bố mẹ lúc tuổi già, tưởng nhớ lúc qua đời, chăm lo vun đắp những tình cảm thương yêu giữa mọi thành viên trong gia đình dòng họ, nhưng không vì thế trở lại tình trạng gia đình chủ nghĩa cản trở sự tiến bộ của – xã hội.

Trong xã hội Việt Nam ngày nay, những truyền thống tốt đẹp của gia đình luôn được bảo tồn và phát triển, nó đã trở thành nếp sống, nếp văn hoá dân gian tốt đẹp của mỗi gia đình Việt Nam. Hơn nữa chính phủ Việt Nam cũng rất quan tâm đến vấn đề gia đình, coi gia đình là tế bào của xã hội. Cùng với việc phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình từ ngày xưa, những gia đình Việt Nam hôm nay còn phải thực hiện kế hoạch hoá dân số gia đình, luặt hôn nhân và gia đỉnh, w. để xây dựng xã hội Việt Nam ngày một giàu mạnh và tươi đẹp hơn.

Tính cộng đồng và truyền thống làng xã trong văn hóa người Việt

Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước truyền thống đã khiến cho các cá nhân, gia đình phải liên kết lại. Bởi vậy nên tinh thần cộng đồng của dân tộc Việt Nam xuất hiện sớm và tồn tại lâu dài trong hầu hết các làng quê và thành thị. Hơn nữa ở một đất nước luôn bị thiên tai đe doạ, thường xuyên bị kẻ thù bên ngoài uy hiếp, tinh thần cộng đồng trở thành một vũ khí không thể nào thiếu của người Việt Nam và nó trở thành một tập quán lớn, một nét văn hóa dân gian trong đời sống tinh thần của họ.

Tính cộng đồng và truyền thống làng xã
Tính cộng đồng và truyền thống làng xã

Tính cộng đồng

Tính cộng đồng ấy không chỉ bắt nguồn từ sự đương đầu với những trở lực của khách quan mà còn bắt nguồn từ chính trong phương thức tổ chức xã hội lâu đời của người Việt Nam. Ngoài cộng đồng về làng, về dòng họ còn cổ những cộng đồng về nghề nghiệp, về lứa tuổi như các hội: hội phụ lão, hội bảo thọ, hội đồng niên, w. Hội được thành lập là để giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn và cùng chia vui với nhau khi có việc mừng. Hội nghề nghiệp giúp nhau khi thiếu vốn, thiếu hàng, xóm làng giúp nhau khi gặp khó khăn trong cuộc sống. Hội hay cộng đồng là điểm tựa của người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày.

Chính vì tính cộng đồng đó mà người Việt Nam luôn gắn với quê hương, làng xóm. Làng xóm đó có thể có những tên gọi khác nhau theo ngôn ngữ của mỗi dân tộc như kẻ dạ, làng trong tiếng Việt; chiêng trong tiếng Tày, Thái; bản trong tiếng Mường; buôn play trong tiếng của một số dân tộc Tây Nguyên, w. Làng ở Việt Nam được hình thành từ rất sớm, có cách đây vài nghìn năm vào khoảng thời kì Đông Sơn. Đó là những cụm dân cư nông nghiệp định canh, định cư tạo nên những cộng đồng thị tộc. Công xã thị tộc có trước khi xuất hiện quốc gia (nước) và khi xuất hiện quốc gia thì làng (công xã) vẫn tiếp tục tồn tại. Trước đây, ngoài luật pháp, chính sách của Nhà nước, từng làng lại có những quy định riêng, những trường hợp phá lệ làng ít khi xảy ra, “phép vua thua lệ làng”.

Tính làng xã

Làng là một tổ chức chặt chẽ nhất về mặt xã hội. Đó không chỉ là một đơn vị hành chính mà còn là một đơn vị kinh tế (với ruộng làm nền tảng). Những người sống ở làng gắn bó mật thiết với nhau trong mối quan hệ dòng họ, xóm giềng và nghề nghiệp, w. Vì thế những tập tục, tín ngưỡng, lễ hội đã xuất phát từ làng. Mỗi người Việt Nam trong kí ức của mình không bao giờ phai mờ hình ảnh về làng quê với những nét đặc trưng lũy tre xanh, cổng làng cây đa, giếng nước, mái đình, rặng dừa, dòng kênh, con sông ngọn núi, cánh đồng và những ngày hội làng nhộn nhịp.

Tóm tắt lịch sử Hà Nội ngàn năm

Theo tài liệu thế giới nghiên cứu lịch sử các thủ đô ở vùng Đông Nam Á như Viên Chăn (Lào), Phnômpênh (Campuchia), Bang Kok (Thái Lan), Kualalampe (Malaisia), Giakacta (Indonesia), v.v… thì trong số các thủ đô trên, Hà Nội là thủ đô nhiều tuổi hơn cả.

Tóm tắt lịch sử Hà Nội ngàn năm
Tóm tắt lịch sử Hà Nội ngàn năm

Thủ đô Hà Nội ngày nay xuất hiện trong lịch sử dân tộc Việt Nam chính thức vào năm 1010 (mùa thu tháng 7 năm Canh Tuất)  với tên gọi Thăng Long.

Nhà Lý

Người sáng lập Thăng Long là Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) cũng là người khai sinh triều đại Lý huy hoàng trong lịch sử Việt Nam. Ông là một nhà chính trị, một nhà quấn sự, một nhà văn hoá lớn.

Lên ngôi ở Hoa Lư (Ninh Bình), thấy vùng đất này không thuận cho việc phát triển thế nước đi lên, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Khi đoàn thuyền của nhà vua vừa cập bến sông Nhị (sông Hồng) có rồng vàng hiện ra, thấy điềm lành, vua Lý cho đổi tên Đại La thành Thăng Long (Rồng bay lên) – nay là Hà Nội.

Chiểu dời đô của vua Lý Thái Tổ nối rõ mục đích dời đô là:”đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời saun. Nơi co đủ điều kĩện để thực hiện mục đích đổ chính là Thăng Long: “Ở trung tảm bờ cõi dát nước, dược cái thế rồng cuộn, hổ ngồit vị trí ỏ giữa bốn phương Đông, Tấy, Nam, Bắc tiện hình thế núi sông sau trước. Ở dó địa thế rộng mà bàng phàngy vùng đát cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rát phong phú tốt tươi. Xem khảp nước Việt ta,f chỗ áy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhát của đé vương muôn dời”.

Tại Kinh thành Thăng Long, nhà Lý cho xây dựng nhiều lâu đài,  cung điện, đền chùa và thành luỹ bảo vệ. Từ đố, Thăng Long với  hình ảnh Rồng bay lên đẹp đẽ và tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, mở đàu một giai đoạn phát triển lớn của đất nước. Cũng vì ý nghỉa đố, Lý Thái Tổ đặt quốc hiệu là Đại Việt. Trước đố, thế kỷ m (trước công nguyôn) Thục Phán dựng nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương cũng dời đô từ miền trung du về miền Cổ Loa. Ngày nay tại xã Cổ Loa, huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội, vẫn còn di tích vòng thành Cổ Loa xây đáp cách đây 23 thế kỷ.

Nhỉn vào lịch sử thăng trầm của đất nước càng thấy được vị thế của đất Thăng Long so với các vùng khác trong nước là không đâu bằng. Triều đại Lý mở đầu, định đô ở Thăng Long đã chiến tháng hoàn toàn quân xâm lược Tống (xâm lược nước ta lần thứ hai). Tháng 3-1077 Lý Thường Kiệt người con sính ra ở Thăng Long, người anh hùng dân tộc đã biết kết hợp tài tình giữa quân sự, chính trị và ngoại giao, lập nên chiến thắng cố giá trị đè bẹp mộng tưởng xâm lược nước ta của vua quan nhà Tống. Từ sau chiến thắng đố, suốt 200 năm sau, nhà Tống không dám đụng chạm đến nước ta.

Nhà Trần

Nhà Lý suy vong. Triều Trần thành lập. Vua Trần Thái lồng lên ngôi năm 1226, vẫn đống đô ở Thăng Long. Kinh thành Thăng Long được mở rộng hơn trước, khu vực cư trú của nhân dân được chia thành 61 phường.

Triều đại nhà Trần đã lập nên chiến công hiển hách: ba làn chiến tháng những đạo quân xâm lược khét tiếng của đế quốc Nguyên Mông tràn sang nước ta trong vòng 30 năm (1258 – 1288). Tại kinh thành Thăng Long, đầu năm 1285 khi giặc Nguyên đang ào ào áp sát biên giới nước ta, vua Trần Nhân Tồng triệu tập hội nghị Diên Hồng. Các cụ phụ lão những đại biểu có uy tín của nhân dân cả nước được nhà vua mời về kinh thành để hỏi kế đánh giặc. Tiếng hô đồng thanh đánh! vang lên từ hội nghị Diên Hồng lại một lần nữa khẳng định đất thiêng Thăng Long là nơi qui tụ khí phách anh hùng dân tộc.

Nhà Trần suy vong. Nàm 1400 Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra triều Hồ và cho xây dựng kinh đô mới ở vùng An Tồn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) gọi là Tây Đô (nhân dân quen gọi là thành nhà Hồ). Thời kỳ này Thăng Long gọi là Đông Đô.

Lợi dụng sự suy yếu của các vương triều nước ta, cuối năm 1406, nhà Minh huy động tới 20 vạn quân gồm bộ binh và kỵ binh vượt biên giới phía bắc vào xâm lược nước ta. Nhà Hồ chống đỡ với quân xâm lược không được bao lâu thì cha con Hồ Quí Ly bị giặc bắt đưa về giết ở Trung Quốc. Nãm 1407 giặc Minh chiếm Kinh thành Thàng Long, đổi tên là Đông Quan.

Nhà Lê

Lê Lợi khởi nghỉa ở Lam Sơn (Thanh Hoá), sau 10 năm chiến đấu đã đánh đuổi toàn bộ quân Minh ra khỏi bờ cõi, giải phống kinh thành Đông Quan và sau đổ đổi tên là Đông Kinh.

Tới triều Mạc, kinh thành trở lại tên gọi Thăng Long (1527).

Thời Lê – Trịnh (1533 – 1786) Thăng Long gồm hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức thuộc phủ Phụng Thiên.

Nhà Nguyễn

Năm 1802 Gia Long lập triều Nguyễn, đổng đô ở Phú Xuyên (Huế). Thãng Long vẫn là thủ phủ của 11 trấn Bắc Thành, nhưng chữ Long là Rồng được đổi thành chữ Long là Thịnh.

Năm 1831 Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội bao gồm .thành Thăng Long và một số vùng lân cận. Tền gọi Hà Nội cố từ đđ.

Năm 1858 triều đình Nguyễn bán nước, dâng Hà Nội cho Pháp. Thủ đô trở thành một thành phố thuộc Pháp suốt hơn nửa thế kỷ và vẫn mang tên là Hà Nội.

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2- 9-1945 tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, công bố với thế giới khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hà Nội trở lại vị trí thủ đô của một nước độc lập.

Thực dân Pháp tiếp tục dã tâm xâm lược nước ta. Dưởi sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta lại trường kỳ kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm (1946 – 1954) và kết thúc thắng lợi bàng chiến dịch Điện Biên Phủ toàn tháng ngày 7- 5-1954.

Năm 1954

Hội nghị Genève (Thuỵ Sĩ) công nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam dân chủ cộng hoà từ vỉ tuyến 17 trở ra Bác. Ngày 10-10-1954 thủ đô Hà Nội được giải phóng khỏi ách thực dân Pháp.

Trước khi rút khỏi Việt Nam, Pháp đã “bàn giao” miền Nam cho đế quốc Mỹ. Thế là nhân dân ta lại phải một làn nữa kháng chiến chống Mỹ hơn 20 năm và kết thúc bằng chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30- 4- 1975, giải phống hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối. Đất nước được thống nhất, Quốc hội khoá VI họp ngày 25-4-1976 đã chọn Hà Nội làm thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lịch sử Hà Nội thời kỳ đổi mới

Từ ngày ấy đến nay, Hà Nội đã trải qua nhiều tháng năm phấn đấu gian khổ để đi lên cùng cả nước.

Từ hai thập kỷ gần đây, Hà Nội không những mở rộng về bốn hướng mà đã vươn lên tầm cao bằng những công trình xây dựng ngày càng đồ sộ. Chiều dài cắc đường phố’trong nội thành cộng lại tới gàn 400 km. Hà Nội ngày xưa trong tâm tưởng mọi người là 36 phố phường thì ngày nay con số đđ đã gấp lên nhiều lần, tới gần 500 phó phường (con số này sẽ còn tăng lên nữa).

Số dân Hà Nội hiện nay nếu kể cả ngoại thành là hơn 2 triệu người, ơ thời điểm này, người Hà Nội đang cùng với nhân dân cả nước chuẩn bị hành trang để kỷ niệm 1000 năm thành lập Hà Nội – nghìn nãm Thăng Long (1010 – 2010).

Theo quy hoạch đang được thực hiện thì đến năm 2010, Hà Nội sẽ có khoảng 3 triệu dân cả nội và ngoại thành. Diện tích thành phố sẽ lên tới 8000 km2. Xung quanh nội thành là các khu công nghiệp công nghệ cao, các thành phố vệ tinh… Lúc đđ số quận và số đường phố sẽ tăng khoảng gấp đôi hiện nay.

Tên gọi Hà Nội qua các thời

Địa điểm và tên gọi thủ đô Việt Nam từ thời vua Hùng đến nay:

Thời Hùng Vương (2879 – 258 trước CN) thủ đô ở Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ) ngày nay còn di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Nãm 257 trước CN, Thục Phán thống nhất được hai nước Âu Vỉệt và Lạc Việt, đặt quốc hiệu là Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, đổng đô ở Phong Châu (Phú Thọ).

Sau chiến công vỉ đại đánh tháng 50 vạn quân xâm lược nhà Tần, An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Từ đố Cổ Loa trở thành kinh đô (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Thời Trưng Vương (40 – 43) tức thế kỷ I sau CN thủ đô ở Mê Linh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).

Thời tiền Lý (542 – 602) thủ đô ở Long Biên (nay thuộc Hà Nội).

Thời Bố Cái Đại Vương và họ Khúc, họ Dương (thế kỷ vm đến thế kỷ X) thủ đô ở Đại La (nay là Hà Nội).

Thời kỳ Ngô Quyền (938 – 967) thủ đô ở Cổ Loa (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Thời nhà Đinh và (tiền) Lê (968 – 1009) thủ đô ở Hoa Lư (Ninh Bình).

Thời Lý, Trần, Lê thế kỷ XI đến thế kỷ xvm, thủ đô ở Thảng Long, Hà Nội).

Thời Hồ (1400 – 1407) thủ đô rời về Thanh Hoá gọi là Tây Đô (Thăng Long gọĩ là Đông Đô).

Sau 10 nãm kháng chiến chống quàn Minh giành thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua năm 1428, đặt thủ đô ở Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh.

Thời lầy Sơn, vua Quang Trung (1788 – 1801) đặt thủ đô ở Phú Xuân (Huế).

Thời Nguyễn (1802 – 1945) thủ đô cũng ở Phú Xuân.

Thời Việt Nam DCCH (từ 1945 trở đi) thủ đô là Hà Nội (Thăng Long xưa).

Với bề dày gần 1000 năm lịch sử, Hà Nội có gần 500 di tích lịch sử văn hoá đã được Bộ Vãn hoá thông tin công nhận và xếp hạng di tích.

Thành cổ Hà Nội

Cố từ đời Lý (thế kỷ 11). Lúc đầu thành bằng đất, về sau xây bằng gạch. Phía ngoài thành cố đảo, ngòi Ngự (con ngòi dành

riêng cho thuyền của vua nối liền với sông Hồng). Như vậy thuyên vua có thể theo sông TO Lịch rồi ngòi Ngự để ghẻ vào cung vua.

Thành có bốn cửa mở theo bốn hướng Đông, Tầy, Nam, Bắc. Bến sông Đông Bộ Đầu (gần dốc phố Hàng Than và Hoè Nhai) là quân cảng chính cùa kinh thành. Phía trước cửa Tầy (trước chùa Một Cột) là một quảng trường, thời nhà Lý hay mở hộí mừng sinh nhật vua. Phía cửa Nam có chợ và quảng trường nơi quan dân mở hội tung còn ngày Tết (chỗ vườn hoa Cửa Nam ngày trước, nay là các làn đường giao thông mới mở). Cửa Bắc mở ra trước sông lồ Lịch tức đường Phan Đình Phùng ngày nay.

Trong thành có núi Nùng, trên xây điện Kính Thiên. Thành chia làm 2 khu: khu Cấm thành là nơi vua ở, cổ cung Long An, Long Thuỵ để vua nghỉ ngơi và cung Thuý Hoa là nơi ở của vài trăm cung tần mỹ nữ. Bên ngoài Cấm thành cd điện Càn Nguyên, phía trước điện là hồ Long Tri cổ trường đấu voi, cũng là nơi để cho quân sĩ thi tập múa võ, đá càu, hất phất… Ngoài ra còn có làu chuông, treo quả chuông lớn để ai cố việc oan ức thì lên đánh chuông sẽ được vua đích thân nghe và xử.

Xung quanh thành cố đắp một luỹ đất vừa làm thành, vừa làm đê, đđ là La Thành, hay còn gọi là Đại La Thành nay vẫn còn dấu vết. La Thành cố trổ nhiều cửa ô, c<5 lính canh gác như cửa ô Càu Giấy, cửa ô Yên Phụ, cửa ô Đống Mác, cửa ô Chợ Dừa…

Cuối thời Lý, Hoàng cung bị đốt cháy gần hết. Nhà Lê lên, phải xây dựng lại.

Đời Lê, thành được mở rộng sang phía Đông, chúa Trịnh lại xây phủ ở phía Đông Nam.

Năm 1803 vua Gia Long nhà Nguyễn đòng đô ở Huế, ra lệnh phá thành cổ Hà Nội, để xây thành mới vào năm 1805 theo kiểu vauban của Pháp. Thành hình vuông, bốn gdc có múi khế nhô ra, chu vi 5.142m, cao 4,4m, dày 16m. Mỗi phía có một cửa, riêng phía Nam cò 2 cửa. Cửa Bắc còn đến ngày nay vẫn mang vết đạn đại bác cùa quân Pháp bắn ngày 25- 4-1882 trong đợt Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Vị tướng giữ thành là Hoàng Diệu biết không giữ nổi thành đa tự treo cổ ở cây đa Võ Miếu (nay ở cạnh sổ nhà 32 đường Điện Biên Phủ).

Thành này cũng đã bị người Pháp phá huỷ từ nãm 1884 – 1887, nay chỉ còn lại vết tích điện Kính Thiên.

Điện Kính Thiên Xây năm 1428 đã bị phá hết nay chỉ còn lại nền và thềm đá tạc vào năm 1467. Đđ là bốn bậc đá chạm chạy dài suốt 8 cấp tạo thành 3 lối đi lên điện. Hai thành giữa chạm hình rồng uốn khúc. Hai dãy thành bên chạm những khối mây lửa cuồn cuộn và hoa lá cách điệu thể hiện tài nghệ chạm khắc đá của các nghệ nhân xưa.

Trong kho tàng cổ vật của Hà Nội, phải kể đến 3 pho tượng bàng đồng đen cỡ lớn, đặt thờ tại ba đền, chùa nội, ngoại thành.

–        Tượng Trấn Vũ bằng đồng đen đặt thờ tạỉ đền Quán Thánh (quận Ba Đình): tượng đúc năm 1677 đời vua Lê Hy Tồng. Tượng nặng 3.600 kg, cao 3,28m, chu vi 3,48m. Tượng cố hình dáng như một đạo sĩ, tốc bỏ xoã, một tay bất quyết,, một tay chổng thanh gươm lên lưng con rùa, có một con rắn quấn vào thanh gươm.

–        Tượng Trấn Vũ bằng đồng đen đặt thờ ở đền Trấn Vũ xã Thạch Bàn huyện Gia Lâm. Tượng được khởĩ công đúc từ năm 1788 đến năm 1802 mới hoàn thành, nặng 4.000 kg, cao 3,8m, chu vi tới 8m. Tượng ngồi uy nghi mặc áo giáp, đội mũ, chân để trần, cũng một tay bát quyết, một tay chống gươm cố rắn quấn.

–        Pho tượng đồng thứ ba đúc gần đây nhất và cũng co trọng lượng lớn nhất Việt Nam là tượng Phật A- di- đà đặt thờ tại chùa Ngũ Xá (quận Ba Đình). Tượng nặng 9.500 kg, cao 3,95m, chu vi 10,5 m, va ĩ rộng 2,3m, mắt và miệng đo theo chiều ngang bầng 20 cm, tai dài hơn 60 cm theo chiều dọc. Tượng đúc năm 1952 do kíp thợ đúc đòng của làng Ngũ Xá vốn nổi tiếng về kỹ thuật đúc đồng của Hà Nội đảm nhiệm.

Giới thiệu về địa lý Thủ Đô Hà Nội

Vị trí

Địa lý Hà Nội thuộc đồng bằng sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc và Thái Nguyên, phía Tầy giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên, phía Nam giáp tỉnh Hoà Bỉnh. Thành phố Hà Nội ở vị trí từ 20°25’ vĩ độ Bắc và từ 105° 15’ đến 106°03’ kinh độ Đông.

  • Diện tích: 920,6 Km2
  • Số dân: 2.672.122 người
  • Mật độ số dân: 2.902,6 người / Km2 (theo số liệu năm 2000)

Khí hậu

Khí hậu Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có gió mùa. Nếu phân chia thật chi tiết và tinh tế, Hà Nội cố đủ bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nhưng để giúp người ở xa dễ nhận biết khí hậu Hà Nội khi chuẩn bị đến thủ đô này, có thể tạm chia thành 2 mùa chính là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá lạnh, không mưa to. Từ tháng 1 đến tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng là tiết Xuân nên có mưa nhẹ (mưa Xuân) đủ độ ẩm cho cây cối đâm trồi nảy lộc. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng có mưa to và bão. Trong các tháng 9, 10 Hà Nội có những ngày thu. Mùa Thu Hà Nội trời trong xanh, gió mát. Những ngày cuối thu se se lạnh và nhanh chóng hoà nhập vào mùa Đông.

Địa lý hà nội
Địa lý hà nội

Nhiệt độ trung bình mùa Đông: 17,2°c (lúc thấp nhất xuống tới 5°C). Trung bình mùa hạ: 29,2°c (lúc cao nhất lên tới 40°C). Nhiệt độ trung bình cả nãm: 23,2°c. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800 mm.

Sông Hồng là vùng đất cổ, Hà Nội được sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp tạo nên, do đổ Hà Nội gắn bổ với sông Hòng mật thiết như con với mẹ. Xưa kia người ta đã gọi sông Hồng là sông Cái- sông Mẹ. Tên gọi Hà Nội cổ ý nghĩa là vùng đất bên trong sông. Đoạn sồng Hồng ôm lấy Hà Nội dài gần 100 km chiếm 1/5 chiều dài của sông Hồng trên đất Việt Nam. Hà Nội có hơn 150 km đê sông Hồng.

Các sông khác chày qua Hà Nội là sông Đường, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Đặc biệt sông Tô Lịch đã được nhắc đến nhiều trong văn chương Hà Nội xưa như một con sông đẹp chảy trong lòng thành phố. Ngày nay, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu chỉ cổ giá trị như một hệ thống thoát nước cho thành phố. Nhà nước đã có kế hoạch cải tạo hai con sông này để trả lại vẻ đẹp ban đầu.

Hồ Hà Nội là thành phố của những hồ đẹp 18 hồ với diện tích mặt nước hơn 220 ha. Những hồ nổi tiếng đã đi vào văn thơ là hồ Hpàn Kiếm (hồ Gươm), Hồ Tầy, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thủ lệ, hồ Giảng Võ… đổ còn là những lá phổi xanh của thành phố với vườn hoa và hàng hàng, lớp lớp cây xanh tạo cho thành phố nguồn sinh lực trong thiên nhiên tươi mát.

Hiếm có thủ đô nào với diện tích không lớn lắm mà có nhiều hồ như Hà Nội. Khoảng 5000 năm trước, dòng sông Hồng chảy qua khu vực nội thành hiện nay sau đo dòng sông ngày càng tiến về phía đông, để lại khúc sông Hòng và những bãi phù sa. Phù sa lấp dàn khúc sông cổ ấy và tạo thành đất đai nội thành thủ đô. Những nơi sâu nhất của khúc sông cổ ấy chưa bị phù sa bồi lấp chính là các hồ hiện nay.

Cũng do vị trí kiến tạo đặc biệt, Hà Nội nằm ở vị trí không bị động đất lớn và là một thành phố sông – hồ.

Giao thông

Giao thông Hiện nay Hà Nội đang chuyển mình cùng cả nước, hàng loạt phố mới, với những đại lộ, đường cao cấp ra đời. Nhiều khách sạn, công sở cao tầng hiện đại, đan xen với các khu phố cổ tạo nên một dáng vẻ mới cho thành phố gần 1000 năm. Sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm khoảng 40 km. Đây là một trong hai sân bay lớn nhất nước với nhiều đường bay trong và ngoài nước. Sân bay đang được xây dựng lại thành một sân bay hiện đại.

Khu vực hành chính

Khu vực hành chính: Hà Nội chia thành 7 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành.

Quận Hoàn Kiếm là trung tâm Thủ đô, có các cơ quan đầu não của thành phố, các khu thương mại lớn, các nghê thu công truyền thông. Tbàn bộ khu phô cổ trong danh mục bảo tôn di sản nằm trong quận này.

Quận Ba Đình có quảng trường Ba Đình lịch sử và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là khu vực cổ nhiều cơ quan Chính phủ, nhiều đại sứ quán các nước và các di tích lịch sử thắng cảnh.

Quân Đống Đa có nhiều khu dân cư lớn, mới xây dựng trong vòng hai, ba thập kỷ gần đây như: khu Kim Liên, Trung Tự. Quận Đống Đa còn nhiều di tích lịch sử như gò Đống Đa, chùa Bộc, chùa Láng…

Quận Hai Bà Trưng cổ nhiều công trình mới xây dựng đã và đang hình thành trên trục đường Giải Phổng (quốc lộ 1). Một làng đại học phía Nam thành phố đã bước đầu hình thành với Bộ Giáo dục và đào tạo, các trường đại học Bách khoa, Xây dựng, Kinh tế Quốc dân v.v.

Quận Tây Hồ được thành lập tháng 10 năm 1995 do yêu cầu phát triển của Thủ đô. Mặt nước hồ chiếm 48% diện tích toàn quận. Nơi đây đã nổi danh với những làng hoa đào Nhật lần, làng quất Quảng Bá, làng cây cảnh Nghi làm… và hơn 20 di tích lịch sử được Nhà nước xếp hạng là thế mạnh của quận. Một dự án xây dựng quận Tầy Hồ thành trung tâm du lịch của Hà Nội đang được thực thi từng bước.

Quận Thanh Xuân mới thành lập tháng 1 năm 1997. Địa bàn quận nằm theo trục đường lớn mang tên danh nhân Nguyễn Trãi. Có nhiều trường đại học như: Ngoại ngữ, Kiến trúc, Cao đẳng sư phạm nhạc hoạ, An ninh V.V..

Quận Câu Giấy mới thành lập tháng 8-1997. Nơi đây là khu dân cư mới xây dựng, bên cạnh đường cao tốc Thăng Long – Nộí Bài. Nhiều trường học, viện nghiên cứu được xây dựng ở quận Cầu Giấy.

Nguồn gốc ngôn ngữ và chữ viết người Việt

Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ được xác lập từ xa xưa ở vùng Đông Nam Á, nhưng do bị phong kiến nước ngoài chinh phục nên tiếng Việt đã bị Hán hoá và sử dụng rộng rãi trong các tầng lớp quan lại. Tuy nhiên tiếng Việt không bị tiêu diệt hoàn toàn bởi nhân dân lao động các làng xã vẫn sống theo cách sống của riêng mình. Họ vẫn duy trì tiếng nói và tâm hồn người Việt.

Nguồn gốc ngôn ngữ và chữ viết người Việt
Nguồn gốc ngôn ngữ và chữ viết người Việt

Ngôn ngữ

Trải qua nhiều thế kỉ, những thay đổi trong cuộc sống vật chất và nhu cầu trong cuộc sống tinh thần mỗi ngày một tăng đã là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của tiếng Việt trong cách nói và cách viết. Trong khi tiếp thu nhiều yếu tố của ngôn ngữ Hán, nhân dân đã sáng tạo, Việt hoá những từ ngữ ấy để tạo thành từ Hán-Việt bên cạnh những yếu tố thuần Việt. Nhiều tài liệu học tập được biên soạn thành văn để giúp người đọc dễ nhớ: gia-nhà; quốc-nước; tiền-trước; hậu-sau; ngưu-trâu; mã- ngựa… Hiện tượng Việt hoá không chỉ xẩy ra riêng đối với tiếng Hán mà cả với tiếng Pháp sau này, đã tạo ra một nguồn từ vựng phong phú giàu sức sống cho kho tàng ngôn ngữ Việt Nam hiện nay. Khi Việt Nam có quan hệ rộng rãi với nhiều nước trên thế giới, chắc chắn tiếng Việt sẽ tiếp tục phát triển phong phú hơn nữa.

Chữ viết

Chữ Nôm Do điều kiện lịch sử, người Việt đã sử dụng chữ Hán như một văn tự chính thức trong thời gian khá dài. Thêm vào đổ, các tầng lớp quan lại được thi cử ở Bắc triều (Trung Quốc) đã sử dụng vào bộ máy hành chính đô hộ. Tuy vậy trên cơ sở chữ Hán, người Việt đã xây dựng thứ văn tự độc đáo riêng của mình đó là chữ Nôm. Chữ Nôm là kiểu khối chữ vuông như chữ Hán, cách viết chữ Nôm là dựa vào chữ Hán để ghi âm tiếng Việt như: chữ hán, Mệnh của chữ Hán như thế nào thì chữ Nôm cũng viết như vậy hoặc cũng là dùng hai chữ Hán ghép lại để thành một chữ Nôm, trong đđ cố một chữ chỉ nghĩa và một chữ chỉ âm theo tiếng Việt như chữ “trăm” trong câu “trăm năm trong cõi người ta” (Kiều) viết gồm có hai chữ: chữ lâm (là rừng) chỉ cách đọc và chữ bách (là trăm) chỉ nghĩa.

Chữ nôm người việt

Chữ Nôm ra đời được quần chúng nhân dân ủng hộ và sử dụng rộng rãi. Chữ Nôm được dùng để ghi tên người, tên làng, tên đất vào các vãn tự khế ước. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì chữ Nôm xuất hiện từ rất sớm khoảng thế kỉ XIII, nhưng chứng tích xưa nhất và xác thực của chữ Nôm còn lại đến ngày nay được biết là tấm bia Báo Án (Yên Lăng-Vĩnh Phúc) có niên đại 1209 (thời Lý), nhưng phải đến đời Trần (thế kỉ XIII) chữ Nôm mới được hệ thống hoá, phổ biến rộng rãi và vận dụng vào sáng tác văn học. Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố làm thơ bằng chữ Nôm. Hồ Quý Ly (1400) cho dịch Kinh thư ra tiếng việt và ghi lại bằng chữ Nôm. Ông dùng chữ Nôm để thảo sắc, chiếu chỉ của triều đình. Nguyễn Trãi (thế kỉ XV), vị anh hùng dân tộc đã dùng chữ Nôm sáng tác 250 bài thơ trong tận Quốc Âm. Từ thế kỉ XVI trở đi, văn học chữ Nôm ngày càng thịnh hành và đến thế kỉ xvm thì vần học chữ Nôm hoàn toàn chiếm ưu thế trên văn đàn. Đđ là những tác phẩm thơ của Hò Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, w.

Chữ Quốc ngữ là một trong những sản phẩm của sự tiếp xúc giữa văn hoá Tây Âu và văn hoá Việt Nam. Lịch sử phát triển của chữ Quốc ngữ gắn liền với việc truyền đạo Cơ Đốc giáo vào Việt Nam.

Vào thế kỉ thứ XVI, các giáo sĩ phương Tây vào Việt Nam truyền đạo, để đạt được kết quả trong – việc truyền và giảng đạo, họ đã học tiếng Việt và dùng chữ La tinh để phiên âm tiếng Việt, từ đó chữ Quốc ngữ xuất hiện. Việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là kết quả nỗ lực chung của nhiều giáo sĩ (họ là những người thuộc nhiều dân tộc, nhiều quổc gia như châu Âu, Tầy Ban Nha, Bò Đào Nha, Italia, Pháp, Hà Lan…). Nhưng người cố công đầu tiên là giáo sĩ A- lếch- xăng- drôt (Alexandre de Rhrodes, 1591-1660). ông là tác giả của cuốn từ điển Việt- Bồ; Bồ-Việt. Dựa vào đo năm 1649- 1651, ồng cho xuất bản ở La Mã (Italia) cuốn từ điển An Nam- Bồ Đào Nha- Latinh và một cuốn giáo sĩ cương yếu bằng chữ Quốc ngữ.

Sau A- lếch – xăng- drôt, nhiều giáo sĩ nước ngoài và người Việt Nam đã sửa chữa và hoàn thiện dần chữ Quốc ngữ. Từ năm 1867, chữ Quốc ngữ được sử dụng trong các trường thuộc địa và tới những năm đầu thế kỉ XX chữ Quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi trong hệ thống giáo dục.

Chữ Quốc ngữ ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới trong ngôn ngữ Việt Nam. Trong số các nước châu Á, duy nhất cố Việt Nam đã Latinh hoá được chữ viết của mình, tạo điều kiện cho sự phát triển vân hoá và khoa học kĩ thuật hiện đại.

Việt Nam từ kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay

Ngày 2- 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chính quyền vừa được thành lập, phải đương đầu với những khó khăn cực kì to lớn và quyết liệt: giặc đối, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Nhưng “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, ngày 19-12-1946, Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay
Kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay

Những sự kiện lịch sử

  • Sau chín năm kháng chiến, ngày 7-5-1954, quân và dân Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ (Thụy Sĩ) ngày 20- 7-1954. Theo quy định của hiệp định này, nước. Việt Nam tạm thời chia đôi lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời, sau hai năm sẽ tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Vĩ Tuyến 17

Thay chân Pháp, Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam dựng chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từ chối hiệp thương thống nhất đất nước. Mỹ và tay sai ra sức đàn áp cuộc đấu tranh đòi thống nhất đất nước, cả miền Nam sục sôi đấu tranh.

  • Năm 1960, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre, nhanh chống lan rộng ra các vùng đồng bằng Nam Bộ, Tầy Nguyên, Nam Trung Bộ.
  • Ngày 20-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời.
  • Ngày 5.8.1964, Mĩ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” để lấy cớ ném bom miền Bắc.
  • Tháng 2-1965, Mĩ ném bom ồ ạt miền Bác.
  • Ngày 1- 11-1968, Mĩ tuyên bố chấm dứt không điều kiện ném bom miền Bắc.
  • Tháng 1- 1969, Hội nghị bốn bên ở Pari họp trong đó có đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
  • Tháng 4-1972, Mĩ ném bom trở lại miền Bắc. Phản bội những thoả thuận đã kí ở Pari, ngày 18-12-1972, Mỹ huy động lực lượng bộ tiến hành cuộc tập kích quy mô lớn đánh Hà Nội, Hải Phòng. Với 12 ngày đêm chiến đấu, quân dân miền Bấc tiêu biểu là thủ đô Hà Nội đã làm lên một”Điện Biên Phủ trên không” thắng lợi.
  • Ngày 27-1-1973, Mĩ buộc phải kí Hịệp định Pari về Việt Nam, rút toàn bộ quân đội Mĩ và quân của các nước chư hầu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
  • Tháng 3-1975, cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975 bắt đầu. Ngày 30- 4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Một trang sử mới của dân tộc đã mở, nhưng khó khăn thử thách mới cũng đặt ra, hậu quả chiến tranh nặng nề, nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, nguồn viện trợ nước ngoài giảm sút. Nhưng với sức mạnh vốn có, cùng với ý chí tự lực tự cường, dân tộc Việt Nam đã vươn lên, vượt qua những khó khăn trước mắt để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn vì một nước Việt Nam giàu mạnh.

Xem thêm:

Việt Nam thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc

Lịch sử Việt Nam thời kỳ sơ khai

Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Việt Nam qua các triều đại phong kiến

Thể chế chính trị sau khi độc lập

Ngày 2- 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Việt Nam là thành viên của tổ chức Liên hợp quốc và phong trào không liên kết. Một hệ thống chính trị được thiết lập tư trung ương đến địa phương bao gồm Đảng Cộng sản, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân như Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn lao động, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh… để tiến hành mọi hoạt động của đất nước về đối nội và đối ngoại. Đảng cộng sản Việt Nam là một thành viên trong hệ thống chính trị đổ, có vai trò lãnh đạo chung và được toàn dân thừa nhận.

Đảng cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam (thành lập ngày 3- 2-1930) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) sáng lập và lãnh đạo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã vùng dậy đấu tranh chống các thế lực thực dân, phong kiến, tiến hành thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa thánh lam năm 1945, và cuộc kháng chiến 30 năm chống xâm lược Pháp- Mĩ, hoàn thành sự nghiệp giải phống dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỉ nguyên mới: kỉ nguyên xây dựng Tổ quốc Việt Nam thành một quốc gia dân chủ, giàu mạnh, xã hộĩ công bằng văn minh, tích cực bảo vệ hoà bình ở khu vực và trên thế giới.

Đảng Cộng sản Việt Nam đang không ngìíng đổi mới sự lãnh đạo của Đảng vi sự nghiệp xây dựng đất nước, vì lợi ích của toàn dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra và tổ chức thực hiện đường lối đổi mớỉ, chính sách kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chu nghĩa. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện qụan hệ đa phương, nhiều chiều, tồng .cường hợp tác đầu tư và làm bạn với tất cả các hước trên tinh thần hợp tác, hữu nghị.

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước do nhân dân bầu ra. Quốc hội là cơ quan duy nhất cố quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quy định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước; về quan hệ xã hội và về hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động cửa đất nước.

quoc hoi viet nam

Quốc hội họp mỗi năm hai kì. Điều hành công việc hàng ngày của Quốc hội là Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Các cơ quan của Quốc hội cd Hội đồng dân tộc, Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban kính tế và ngân sách, Uỷ ban quốc phòng và an ninh, Uỷ ban vãn hoá, giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, Uỷ ban các vấn đề xã hội, Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường, Uỷ ban đối ngoại và Trưởng ban thư kí các kì họp.

Đại biểu Quốc hội do các cử tri bầu ra. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Không được bắt giam hoặc truy tố Đại biểu Quốc hội nếu chưa được sự đồng ý của Quốc hộĩ hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội (trừ trường hợp phạm pháp quả tang).

Nhiệm kì Quốc hội là 5 nầm (trừ những năm tháng đất nước cđ chiến tranh). Quốc hội khoá I được bầu tháng 1-1946. Quốc hội khoá X từ tháng 7 năm 1997.

Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, là người thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Nhiệm kì của Chủ tịch nước theo nhiệm kì của Quốc hội.

Phố Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước điều hành công việc hàng ngày và quyền Chủ tịch nước khi Chủ tịch nước đi váng.

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ chính

trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đổi nội và đối ngoại cùa Nhà nước. Chính phù C(5 nhiệm vụ lãnh đạo các Bộ, các cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện kế hoạch Nhà nước, phát huy quyền làm chù cùa nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

Chính phủ gồm Thủ tướng, các phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ.

Y tế

Trước năm 1945, hoạt động y tế chỉ thu hẹp ở một số thành phố, thị xã và chủ yếu phục vụ cho những người ở tầng lớp trên (quan lại tư sản). Mạng lưới y tế, bệnh viện quá mỏng, bệnh viện lớn chỉ có ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế với quy mô khoảng 500 giường. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam trong thời kì này trung bình 34 tuổi.

Trong những năm đầu khi mới giành được chính quyền, ngành y tế đã được Đảng và Nhà nước quan tâm. Xây dựng mạng lưới  y tế nông thôn, mỗi xã có một tổ y tế, mỗi huyện có một phòng khám hoặc bệnh xá, mỗi tỉnh có một bệnh viện. Xây dựng quan điểm y tế dự phòng, đẩy mạnh vệ sinh môi trường, khống chế các bệnh đậu mùa, dịch tả, thương hàn, đường ruột, sốt rét. Khẩn trương đào tạo các cán bộ y tế, nữ hộ sinh, xét nghiệm viên, y sĩ trung học, nghiên cứu sản xuất thuốc nam, chữa bệnh bằng dược liệu địa phương.

Ngành y tế Việt Nam 1945

Trong hơn 50 năm qua, hoạt động y tế Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng tự hào, đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn thực hiện những ca phẫu thuật khổ như thay thận, thay tim. Các giáo sư, bác sĩ giỏi được đi tu nghiệp và trao đổi khoa học ở nước ngoài để có thể tiếp thu những tiến bộ của nền y học thế giới. Bên cạnh đổ nền y học cổ truyền đang được khôi phục và phát triển. Một số bệnh Tầy y bố tay như viêm tác động mạch, viêm gan, viêm loét tá tràng thì Đông y có thể chữa được bằng thuốc Nam kết hợp châm cứu.

Chữa bệnh bằng châm cứu đã được áp dụng có hiệu quả đối với một số bệnh: đau đầu, đau vai, đau gáy… và một số bệnh do di chứng để lại như liệt ở người lớn do tai biến mạch máu não. Đặc biệt ở Việt Nam đã áp dụng phương pháp châm tê trong phẫu thuật: sọ não, cắt dạ dày, mổ xoang…

Giáo dục

So sánh với một số nước trong khu vực, Việt Nam là một nước có nền giáo dục tương đối phát triển.

Trước cách mạng tháng Tám 95% số dân Việt Nam mù chữ. Cả Đông Dương (gồm 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia) lúc đổ chỉ cố một trường đại học gồm 3 khoa: Luật, Y dược và Khoa học. Sau đó cố mở thêm một số trường cao đẳng: Cao đẳng Mĩ thuật, Công chính, Thú y với số học sinh năm cao nhất không quá 800 người.

Về viện nghiên cứu khoa học, trước Cách mạng tháng Tám có 4 viện đó là: Viện Pasteur Hà Nội, Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Nha Trang và Viện Pasteur Đà Lạt, cả 4 viện này đều trực thuộc Viện Pasteur Pari chuyên nghiên cứu bệnh nhiệt đới.

Cách mạng tháng Tám thành công, việc làm đầu tiên của chính quyền cách mạng là xoá bằng được nạn mù chữ. Ngày 9- 9-1945, sau ngày tuyên bố độc lập đúng một tuần, Nha bình dân học vụ được thành lập.

Lớp hoc sau cách mạng tháng 8

Năm 1956 – 1957, thành lập thêm 4 trường đại học: Đại học Tổng hợp, Bách khoa, Nông Lâm và Kinh tế kế hoạch. Khi mới thành lập chỉ cổ 10 ngành học nhưng đến năm 1965 đã cố thêm 200 ngành học. Đặc biệt trong những năm chiến tranh chống Mĩ ác liệt , ngành giáo dục của Việt Nam vẫn không ngừng phát triển. Các trường dạy nghề, trường trung học được táng lên rõ rệt.

Từ năm 1986, với chủ trương đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng xã hội hoá các nguồn đàu tư, đa dạng hoá các hình thức giáo dục và hiện đại hoá nội dung, phương pháp, trang thiết bị dạy học vì thế hệ thống giáo dục đã cố cơ cấu khá hoàn chỉnh. Nếu như trước đây có 95% số dân Việt Nam mù chữ thì nay 88% số dân biết chữ. Hệ thống giáo dục gồm các cấp sau:

  • Mẫu giáo từ 3 tuổi đến 6 tuổi
  • Trường tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5
  • Trường phổ thông cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9
  • Trường phổ thông trung học từ lớp 10 đến lớp 12

Từ nay đến nãm 2000, Việt Nam phấn đấu thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, đông thờĩ củng cố chất lượng giảng dạy. Thanh niên ở các thành phố lớn và các trung tâm công nghiệp phải cổ trình độ ở mức phổ thông trung học. Mở cuộc vận động toàn dân kiên quyết xoá nạn mù chữ và thất học. Đặc biệt quan tâm tới học sinh miền núi. Co chính sách đảm bảo cho con em gia đinh chính sách và gia đình nghèo đi học. Động viên giúp đỡ những học sỉnh học giỏi có nhiều triển vọng. Phát triển hỉnh thức giáo dục từ xa. Mở rộng hệ thống các trường lớp dạy nghề và đào tạo công nhân lành nghề. Xây dựng hệ thống trường công kết hợp với việc quản lí và hướng dẫn phát triển hệ thống trường bán công và tư thục. Khuyến khích du học tự túc. Kết hợp đào tạo với nghiên cứu tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận với công nghệ tiên tiến.

Hiện nay cả nưộc co gần 100 trường đại học và cao đẳng. Đội ngũ giáo viên nhiều người đã đạt danh hiệu tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phd giáo sư, w.

Cổ gần 300 cơ quan nghiên cứu khoa học. Quy mô đào tạo cao học và nghiên cứu sinh mở rộng dần. Trước đây, việc đào tạo cán bộ sau đại học chủ yếu dựa vào sự giúp đỡ của nước ngoài, từ năm 1976 Việt Nam bắt đầu mở ra hệ đào tạo sau đại học để đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ trí thức có trình độ cao.

Việt Nam qua các triều đại phong kiến

Việt Nam qua các triều đại phong kiến kéo dài khoảng 1000 năm (từ đầu thế kỉ thứ X đến đầu thế kỉ XX).

Xem thêm:

Việt Nam thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc

Lịch sử Việt Nam thời kỳ sơ khai

Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Việt Nam qua các triều đại phong kiến
Việt Nam qua các triều đại phong kiến

Triều Ngô (939- 965)

Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền quyết định bỏ chức tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự xưng vương, đổng đô ở Cổ Loa- Kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời An Dương Vương.

Triều Đinh (967- 980)

Sau khi Ngô Quyền mất, em vợ là Dương lầm Kha cướp ngôi nhà Ngô, các tướng lĩnh không chịu thần phục, mỗi người cát cứ một phương hình thành 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh con nuôi của thủ lĩnh Trần Lãm, sứ quân Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Tràn Lãm chết, Đinh Bộ Lỉnh được trao quyền, đã dẹp xong loạn 12 sứ quân thu giang sơn về một mối, lập nên nhà Đinh. Ồng lên ngôi vua hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Triều Đinh gồm hai đời vua.

  1. Đinh Tiên Hoàng (968- 979)
  2. Đinh Phế Đế (Đinh Toàn, 979- 980) lên ngôi vua khi vừa 6 tuổi.

Triều Trần Lê (980-1009)

Lê Hoàn người làng Thọ Xuân Thanh Hoá. Dưới Triều Đinh ông được phong làm thập đạo tướng quân. Khi cha con Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết hại, Đinh Tòan mới 6 tuổi lên làm vua, nhân cơ hội đó, triều đình nhà Tống cho quân sang xâm lược nước ta. Vì lợi ích của dân tộc, Thái hậu Dương Vân Nga đã trao ngôi vua cho Lê Hoàn, ông là người tổ chức cuộc kháng chiến chống xâm lược Tống lần thứ nhất ở Ải Chi Lăng (Lạng Sơn) và trên sông Bạch Đằng năm 981. Ông lên ngôi vun là Lê Đại Hành, mở đầu triều Tiền Lê. Triều Tiền Lê gồm 3 đời:

  1. Lê Đại Hành (Lê Hoàn, 980-1005)
  2. Lê Trung Tồng (Lê Long Việt, 1005)
  3. Lê Ngoạ Triều (Lê Long Đĩnh, 1005-1009).

Triều Lý (1009-1225)

Khi Lê Ngoạ Triều mất, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra triều Lý. Năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định rời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Tại kinh thành Thăng Long, nhà Lý cho xây dựng nhiều lâu đài, cung điện, đền chùa và thành luỹ bảo vệ. Năm 1054 nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt năm 1070 cho xây dựng Văn Miếu, mở Quốc Tử Giám, năm 1075 mở khoa thi đầu tiên để tuyển lựa nhân tài và đào tạo quan lại cho đất nước.

Dưới thời Lý, Phật gĩáo được truyền bá rộng rãi, nhiều nhà sư tham gia triều chính. Đạo Phật, đạo Nho chi phối đời sống xã hội. Các hình thức nghệ thuật phát triển mạnh: tuồng, chèo, múa hát, xiếc, rối nước. Triều Lý gồm 9 đời vua:

  1. Lý Thái Tổ (Lý Công Uần, 1010-1928). ông là người quyết định rời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long.
  2. Lý Thái Tông (Lý Phật Mã, 1028-1054).
  3. Lý Thánh Tông (Lý Nhật Tồn, 1054-1072).
  4. Lý Nhân Tông (Lý Càn Đức, 1072- 1128) ông là con trưởng của Lý Thánh Tông, mẹ là bà Nguyên phi Ỷ Lan, lên ngôi lúc 7 tuổi. Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan phải buông rèm nhiếp chính. Nhà Tống coi đó là một thời cơ tốt, xúc tiến mạnh mẽ công việc xâm lược nước ta. Lý Thường Kiệt là người trực tiếp đảm nhiệm sứ mệnh tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược, ông cho xây dựng phòng tuyến sông Cầu và bố trí kế hoạch kháng chiến. Trong khí thế quyết đánh thắng kẻ thù xâm lược, Lý Thường Kiệt đã viết lên bài thơ bất hủ “Nam quốc sơn hà”. Bài thơ đã được ghi vào lịch sử như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta sau hơn một nghìn năm bị phong kiến nước ngoài đô hộ.
  5. Lý Thần Tông (Lý Dương Hoán, 1128-1188).
  6. Lý Anh Tông (Lý Thiên Tồ, 1138-1175).
  7. Lý Cao Tông (Lý Long Cán, 1176 -1219).
  8. Lý Huệ Tông (Lý Sẩm, 1211-1224).
  9. Lý Chiêu Hoàng (Phật Kim, 1224-1225).

Triều Trần (1226-1400)

Một triều đại rực rỡ, thịnh vượng trong lịch sử dân tộc. Triều Trần đã tổ chức 3 cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thắng lợi cùng với chiến công oanh liệt ở Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương… nhất là trận Bạch Đằng, đã tiêu diệt hàng chục vạn quân xâm lược, làm cho kẻ thù phải khiếp sợ không dám xâm phạm đến nước ta.

Nét đặc biệt của các ông vua đời Trần là không ở ngai vàng suốt đời, sau một thời giạn trị vì, các vị vua thường nhường ngôi cho con lui về làm Thái thượng hoàng. Triều Trần gồm 12 đời vua:

  1. Trần Thái Tồng (Trần Cảnh, 1225-1258), ông tổ chức cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông lần thứ 1 thắng lợi.
  2. Trần Thánh Tông (Trần Hoảng,1258-1278).
  3. Trần Nhân Tông (Trần Khâm, 1279-1293). Trong thời gian, 14 năm, ông đã tổ chức hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thắng lợi, đã là cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288). Sau năm 1288, nhà Nguyên thỉnh thoảng kiếm chuyện hạch sách hay đe doạ,nhưng ý chí xâm lược của kẻ thù về cơ bản đã bị đánh bại. Năm 1293, ông nhường ngôi cho con là Anh Tông, làm Thái thượng hoàng và lên Yên Tử tu và trở thành vị tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc lâm.
  4. Trần Anh Tông (1298 – 1814)
  5. Trần Minh Tông( 1329) 6, Trần Hiến Tông (1320 – 1341)
  6. Trần Dụ Tông (1341-1369)
  7. Trần Nghệ Tông (1370- 1372)
  8. Trần Duệ Tông (1373- 1377)
  9. Trần Phố Đế (1377-1388)
  10. Trần Thuận Tông (1388- 1398). Trong những năm ông trị vì, việc nước hoàn toàn nằm trong tay bố vợ là Hồ Quý Ly. Tháng 8-1388 Hồ Quý Ly ép Thuận Tông nhường ngổi cho con là Trần Ấn đổ đi tu.
  11. Trần Thiếu Đế (Trần Áng, 1398-1400). Trần Thiếu Đế lên ngôi khi 3 tuổi, quyền hành nằm trong tay Hồ Quý Ly. Năm 1400, Hồ Quý Ly bức Thiếu Đế nhường ngôi, lập ra vương triều mới – Triều Hồ.

Dưới Triều Trần có nhiều vị vua anh hùng như: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và nhiều nhân vật nổi tiếng khác: Trần Hưng Dạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư… Trong lĩnh vực tư tưởng, văn học cố những học giả xuất sác như: Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Nguyễn Thuyên. Về y học có danh y Tuệ Tĩnh là một nhà y học, dược học lỗi lạc đã nghiên cứu thành công nhiều loại cây cỏ trong nước để chữa bệnh.

Triều Hồ (1400 -1407)

Nhà Hồ cho phát hành tiền giấy, cải cách chế độ thi cử, lập quãng tế tự chữa bệnh cho dân. Về quân sự tăng cường đội quân thường trực, xây dựng các phòng tuyến phòng thủ, lập xưởng đúc binh khí. Lấy cớ Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, quân Minh đã sang xâm lược nước ta. Tháng 6-1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Quý Ly.

Cuộc đấu tranh chống ách đô hộ nhà Minh (1407-1427)

Năm 1407, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo bị thất bại nhưng đã xuất hiện nhiều cuộc khởi nghĩa trong số có các cuộc khởi nghĩa lớn như: khởi nghĩa Trần Ngoi (Giản định Đế 1407  – 1409), cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng (1409- 1413),.. Các ông tập hợp được một số quý tộc yêu nước được nhân dân ủng hộ, đã tiến hành cuộc khởi nghĩa chống quân Minh. Nhưng do uy tín và năng lực hạn chế của những người lãnh đạo nên cuộc khởi nghĩa không phát triển và cuối cùng thất bại. Tuy nhiên cũng do những cuộc khởi nghĩa trên mà nhà Minh phải mất 7 năm sau (1407-1414) mới thiết lập xong chính quyền đô hộ ở nước ta.

Trong những cuộc khởi nghĩa lớn phải kể đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo (1418 -1428). Sau mười năm chiến đấu bền bỉ, gian khổ, ngoan cường, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã thắng lợi vẻ vang, đập tan ý chí xâm lược của nhà Minh, nền độc lập của đất nước nhờ đđ được giữ vững gần 4 thế kỉ (đầu thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII), không bị nạn ngoại xâm của phong kiến phương Bắc đe doạ.

Triều Lê (1428-1527)

Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi lên làm vua lấy hiệu là Lê Thái Tổ. ông ban bố bản Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi soạn thảo). Bình Ngô đại cáo được coi như bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của dân tộc. Dưới triều Lê, các nghề thủ công phát triển. Đất nước được ổn định trong suốt nửa thế kỉ. Vua Lê Thánh Tồng (vị vua thứ 4 của Triều Lê) có công trong việc xây dựng kỉ cương quốc gia và phát triển văn hoá rất lớn, bộ luật Hồng Đức được ban hành. Đây là bộ luật đầy đủ nhất của nước ta dưới chế độ quân chủ. Triều Lê gồm 10 đời vua.

  1. Lê Thái Tổ (Lê Lợi, 1428-1433)
  2. Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long, 1433-1442). ông lên ngôi vua năm 11 tuổi. Năm 1442, nhân lúc đi tuần ở miền Đông, ông cố ghé về lệ Chi Viên nghỉ và mất tại đó lúc 20 tuổi. Vụ án lệ Chi Viên đã bị bọn gian thần lợi dụng vu cho Nguyễn Thị Lộ, người thiếp yêu của Nguyễn Trãi ám hại vua, chúng kết án “tru di tam tộc” Nguyễn Trãi. Đến đời vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi mới được minh oan.
  3. Lê Nhân Tông (Bang Cơ, 1442-1459).
  4. Lê Thánh Tông (Tư Thành, 1460- 1497). Dưới thời vua Lê Thánh Tông, ông hết lòng chăm lo việc nước, mở khoa thi kén chọn hiền tài. Coi trọng việc bảo vệ biên giới quốc gia, bản đồ biên giới quốc gia Đại Việt được hoàn thành dưới triều Lê Thánh Tông, ông còn ban hành bộ luật Hồng Đức- bộ luật hoàn chỉnh và có nhiều điểm tiến bộ nhất dưới thời phong kiến nước ta. Lê Thánh Tông còn lập ra hội Tao Đàn gồm 28 ông tiến sĩ giỏi văn thơ gọi là “Tao Đàn nhị thập bát tú”.
  5. Lê Hiến Tồng (Lê Tăng, 1498-1504).
  6. Lê Túc Tồng (Lê Thuần, 6.6.1504-7.12.1504).
  7. Lê Uy Mục (Lê Tuấn, 1505-1509).
  8. Lê Tương Dực (Lê Oanh, 1509-1516).
  9. Lê Chiêu Tông (Lê Ý, 1516-1522).
  10. Lê Cung Hoàng (Lê Xuân, 1522-1527).

Mặc Đăng Dung một tướng của nhà Lê đã cướp ngôi nhà Lê vào năm 1527.

Triều Mạc (1527-1592)

Trong những năm Triều Mạc trị vì, những phe phái phong kiến núp dưới chiêu bài khôi phục nhà Lê đã nổi lên chống đối ở nhiều nơi dẫn đến cuộc xung đột Lê – Mạc hay còn gọi là xung đột Nam Bắc triều. Một viên tướng của Triều Lê là Nguyễn Kim tập hợp các thế lực chống lại họ Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim đưa Lê Duy Ninh lên ngôi vua gọi là triều “Lê Trung Hưng”. Năm 1540 được Nguyễn Kim giúp, triều Lê Trung Hưng đã chiếm giữ vùng đất từ Thanh Hoá trở vào gọi là Nam triều. Họ Mạc chiếm giữ vùng Bắc Bộ gọi là Bắc Triều.

Năm 1545 Nguyễn Kim chết, quyền hành lọt vào tay con rể là Trịnh Kiểm.

Năm 1592 Nam triều thắng Bắc triều. Như vậy họ Mạc truyền ngôi được 5 đời, tổng cộng 65 năm gồm các triều vua và thời gian, như sau:

  1. Mạc Đăng Dung (1527-1529)
  2. Mạc Đăng Doanh (1530-1540)
  3. Mạc Phú Hải (1541-1546)
  4. Mạc Phúc Nguyên (1546-1561)
  5. Mạc Mậu Hợp (1561- 1592)

Tuy vậy, các thế lực còn lại của nhà Mạc theo lời khuyên của Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) đã rút lên Cao Bằng làm cán cứ, đến năm 1677 mới bị tiêu diệt hẳn. Nhà Mạc kéo dài được 150 năm.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc triều kết thúc, nhưng đã hình thành một cơ sở cát cứ mới và nhen nhóm một ngọn lửa chiến tranh còn ác liệt hơn, kéo dài hơn. Đó là cuộc cát cứ của tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn.

Triều Lê Trung Hưng (1533- 1788)

Gồm 16 đời vua, tổng cộng 255 năm kể từ vua Lê Trang Tông (Lê Duy Minh) đến vua Lê Chiêu Thống. Tuy mang danh là triều Lê Trung Hưng nhưng thực chất quyền hành ở trong tay Nguyễn Kim và sau này là họ Trịnh.

Sau khi Nguyễn Kim chết, Trịnh Kiểm có âm mưu chiếm đoạt quyền hành và thế lực của họ Nguyễn, vì thế, Nguyễn Hoàng con trai của Nguyễn Kim phải nhờ chị gái (vợ Trịnh Kiểm) xin với anh rể vào trấn thủ đất Thuận Hoá và kiêm trấn thủ Quảng Nam để xây dựng lực lượng cát cứ.

Quan hệ giữa hai dòng họ này trở nên căng thẳng, dẫn đến cuộc xung đột kéo dài từ năm 1627 đến 1672. Cuộc nội chiến không phân thắng bại buộc phải chia đôi đất nước làm giang sơn riêng của hai dòng họ. Lấy sông Gianh làm giới tuyến, phía Bác thuộc họ Trịnh gọi là Đàng Ngoài, phía Nam thuộc họ Nguyễn gọi là Đàng Trong. Thời kì này, các cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tiếp nổ ra, trong đổ phải kể đến cuộc khởi nghĩa Tầy Sơn năm 1771 do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ chỉ huy.

Triều Tây Sơn (1778-1802)

Từ một cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Quy Nhơn, phong trào Tây Sơn đã lan rộng ra cả nước, nhanh chóng trở thành phong trào quật khởi của cả dân tộc lật đổ nền thống trị của chúa Nguyễn, chúa Trịnh, vua Lê bước đầu thống nhất đất nước sau hai thế kỉ bị chia cắt và tiến hành hai cuộc kháng chiến thắng lợi chống Xiêm (1784- 1785), Thanh (1788- 1789) bảo vệ độc lập dân tộc.

Quang Trung một lãnh tụ phong trào nông dân đã trở thành anh hùng dân tộc kiệt xuất, một thiên tài quân sự, một danh tướng trăm trận trăm thắng.

Năm 1778, quân Tây Sơn diệt được chúa Nguyễn Đàng Trong, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế lập lên triều đại tây Sơn, đặt niên hiệu Thái Đức.

Năm 1787, Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung ương Hoàng Đế đóng đô ở Quy Nhơn, Nguyễn Huệ được phong là Bắc Bình Vương cai quản miền đất từ Quảng Nam ra Nghệ An, Nguyễn Lữ giữ chức Đông Định Vương cai quản đất Gia Định.

Sau khi đánh thắng hơn 29 vạn quân Thanh Nguyễn Huệ lên ngôi vua, hiệu là Quang Trung. Quang Trung đã ra sức phục hồi kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, nhưng ồng mất sớm khi mới 39 tuổi (16- 9-1792) nên những chính sách cải cách chưa đem lại kết quả gì lớn.

Năm 1793, Quang Bản con trưởng của vua Quang Trung lên ngôi vua khi mới 10 tuổi.

Tháng 7-1802, Nguyễn Ánh có sự ủng hộ của Pháp đã diệt xong nhà Tây Sơn, lên ngôi vua đặt niên hiệu Gia Long.

Triều Nguyễn (1802- 1945)

Triều Nguyễn đống đô ở Huế, tiếp tục thống nhất quốc gia về mặt hành chính, đẩy mạnh khai hoang và phát triển văn hoá chính thống. Truyện Kiều, tác phẩm văn học lớn ra đời vào thời kì này. Hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, nhưng chính thức Quốc hiệu Việt Nam ra đời từ năm 1804- triều Gia Long. Triều Nguyễn có 13 đời vua gồm:

  1. Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh, 1802-1820).
  2. Minh Mạng (Nguyễn Phúc Đảm, 1820-1840).
  3. Thiệu Trị (Nguyễn Miên Tồng, 1841-1847).
  4. Tự Đức (Nguyễn Hồng Nhậm, 1848- 1883).
  5. Dục Đức (Nguyễn ưng Chân lên ngôi từ 1883, được 3 ngày).
  6. Hiệp Hoà (Nguyễn Hồng Dật, lên ngôi từ 1883, được 4 tháng).
  7. Kiến Phúc (Nguyễn Ưng Đãng, 1833-1884).
  8. Hàm Nghi (Nguyễn Ưng Lịch, 1885 -1886). ông đã phê chuẩn chiếu Cần Vương, kêu gọi cả nước chống giặc Pháp. Thực dân Pháp không mua chuộc nổi đã đưa vua Hàm Nghi an trí tại Angiêri.
  9. Đồng Khánh (Nguyễn Ưng Xung, 1886-1888).
  10. Thành Thái (Nguyễn Bửu Lân, 1889-1907). Thành Thái có ý thức tự cường dân tộc và cố dự định cách tân đất nước nhưng bị thực dân Pháp cản trở. Năm 1907 ông bị Pháp quản thúc ở Cáp Xanh Giắc (Vũng làu), đến năm 1916 thì đày ra đảo Rêuyniông.
  11. Duy Tân (Nguyễn Vĩnh San, 1907-1916). Cuối năm 1916, ông cùng Trần Cao Vân và Thái Phiên bàn mưu khởi nghĩa đánh Pháp. Cuộc khởi nghĩa bị bại lộ, ông bị đi đày sang đảo Rêuyniông.
  12. Khải Định (Nguyễn Bửu Đảo, 1916-1925).
  13. Bảo Đại (Nguyễn Vĩnh Thuỵ, 1926-1945).

Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Pháp do triều Nguyễn lãnh đạo đã bị thất bại. Năm 1884, đất nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, nhưng khắp từ Bắc chí Nam, nhân dân Việt Nam liên tục chống lại ách thống trị thuộc địa. Ngay trong quân đội của triều đình cũng cđ nhiều gương chiến đấu dũng cảm như Nguyễn Tri Phương đã hi sinh bảo vệ thành Hà Nội năm 1873, tiếp đổ là Hoàng Diệu năm 1882. ơ miền Nam là cuộc chiến đấu của Trương Định và Nguyễn Trung Trực. Lời tuyên bố của Nguyễn Trung Trực “Bao già nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hét người Nam đánh Tấỵ” đã thể hiện ý chí giành độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam. Có thể chia các cuộc vận động đấu tranh cứu nước ra làm những giai đoạn chính như sau:

Phong trào đấu tranh cuối thế kỉ XIX

Nổi bật trong thòi kì này là phong trào Cần Vương chống Pháp do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Phan Đỉnh Phùng ở Hà Tỉnh; Ba Đình ở Thanh Hoá, Bãi Sậy ở Hưng Yên.

Phong trào đấu tranh ở thế kỉ XX

  • Phong trào yêu nước mang tính chất dân tộc – dân chủ như: phong trào Đông Du (1904-1908) của Phan Bội Châu; Đông Kinh. Nghĩa Thục (1907) của Lương Văn Can; phong trào Duy Tân cải cách dân chủ (1906-1908) của Phan Chu Trinh.
  • Phong trào đấu tranh vũ trang: khởi nghĩa Yên Thế (1885-1913) của Hoàng Hoa Thám, khởi nghĩa Thái Nguyên (Ỉ917-1918) do Đội Cấn lãnh đạo, khởi nghía Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng (1930).

Các cuộc khởi nghĩa trên đều thất bại. Năm 1930, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi vào tháng 8-1945.

Xem thêm bài viết về thời kỳ tiếp theo Kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay

Việt Nam thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc

Thời kỳ dựng nước và Bắc buộc của nước ta khá dài, kéo dài đến 1000 năm. Bài viết xin được tóm tắt theo trình tự thời gian để các bạn tiện theo dõi.

Xem thêm: Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Thời kỳ sơ khai

  • Thời kì đồ đá: cách đây 30 vạn năm, di tích núi Đọ (Thanh Hoá), người vượn Việt Nam, văn hoá Sơn Vi.
  • Thời kì đồ đá giữa: cách đây một vạn năm, văn hoá Hoà Bình, nghề nông xuất hiện.
  • Thời đại đề đá mới: cách đây 5 nghìn năm, văn hoá Bắc Sơn, văn hoá Bàu Tre.

Tiếp theo những nền văn hoá trên, những trung tâm văn minh của nhà nước sơ kỉ đầu tiên như: văn minh Đông Sơn, văn minh Sa Huỳnh, văn minh Ốc Eo… trên nền tảng của những nền văn minh này đã hĩnh thành nhà nước sơ kì đầu tiên cùa người Việt cổ mà truyền thuyết dân gian gọi là nước Văn Lang của các vua Hùng.

Thời kì vua Hùng bắt đầu dựng nước

Hùng Vương tôn 18 vị vua cách đây khoảng hơn 4000 năm. Theo sử cũ và truyền thuyết, bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt sống ở các vùng trung du, đồng bằng châu thổ và hồng chục bộ lạc Âu Việt sống chủ yếu ở vùng Việt Bắc. Các bộ lạc sống xen kẽ nhau hình thành các vùng dân cư. Do nhu cầu trị thuỷ và chống xâm lấn, thủ lĩnh bộ lạc Lạc Việt đứng ra thổng nhất các bộ lạc, dựng nước Văn Lang, ông xưng vua, sử gọi là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ), con cháu ông đời đời mang danh hiệu đó. Hàng năm hội đền Hùng mở vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, nhân dân quen gọi là ngày giỗ tổ.

Đời Hùng Vương thứ sáu, nước có giặc Ân. Vua sai người đi cầu hiền, phát hiện cậu bé làng Gióng, có tài ăn khoẻ, giỏi đánh giặc. Đánh tan giặc Ân, cậu bé làng Gióng trở về trời và được nhân dân gọi là Phù Đổng Thiên Vương hay Đức Thánh Gióng.

Nhà Thục thế kỉ thứ 3 trước công nguyên. Do sự suy yếu của triều đại Hùng Vương cuối cùng, Thục Phán- một thù lỉnh người Âu Việt ở miền núi đã hợp nhất nước Văn Lang của người Lạc Việt, dựng nước Âu Lạc tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh- Hà Nội).

Dưới thời An Dương Vương, người Âu Lạc đã chế ra hàng loạt mũi tên đồng, được gọi là nỏ thần và xây dựng thành Cổ Loa với 9 lớp xoáy trôn ốc- một kì công về kĩ thuật quốc phòng (nay còn di tích ở huyện Đông Anh- Hà Nội).

Nước Âu Lạc bị quân Tàn nhòm ngó, tướng của nhà Tàn là Triệu Đà đã cho con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôn vớì công chúa Mỵ Châu con gái vua An Dương Vương để đánh cắp nỏ thần. Câu chuyện tình lịch sử Mỵ Châu, Trọng Thuỷ đã để lại bài học cảnh giác cho các thế hệ đời sau. Nồm 179 trước công nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính, bắt đầu thời kỉ hơn một nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ.

Thời kỳ bắc thuộc - Khởi nghĩa hai bà Trưng
Thời kỳ bắc thuộc – Khởi nghĩa hai bà Trưng

Hơn một ngàn năm Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Trong hơn một ngàn nồm bị đô hộ bởi các triều đại phong kiến phương Bắc, người Việt cổ không ngừng đấu tranh đế giành độc lập tự do cho đất nước.

  • Năm 40- 43: khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa sớm nhất và cũng thành công nhất của cộng đồng ngưòi Việt dưới sự lãnh đạo của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị thuộc dòng dõi quý tộc thời Vua Hùng.
  • Năm 248: khởi nghĩa Bà Triệu. Bà tên là Triệu Thị Trinh, quê ô vùng núi  Thanh Hoá. Bà đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô và hi sinh lúc 23 tuổi.
  • Năm 542: khởi nghĩa Lí Bí. Ông quê ở Long Hưng (Thái Binh), có tài văn võ, làm quan với nhà Lương, sau bỏ quan về tập hợp lực lượng khởi nghĩa. Năm 544, cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, ông lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.
  • Năm 548: khởi nghĩa Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương). Sau khi được Lí Nam Đế trao quyền lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chóng quân Lương, Ông đưa quân về Dạ Trạch (Bãi Màn Trò, Hưng Yên) để tiếp tục cuộc kháng chiến. Năm 548, ông lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương, dân gian quen gọi ông là Dạ Trạch. Vương.
  • Năm 791- 802: khởi nghĩa Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) Ông xuất thân là hào trưởng đất Đường Lâm (Ba vì – Hà Tây Năm 791 ông cùng các tướng lĩnh bất ngờ tiến đánh thành Tống Bình (Hà Nội). Chiếm được thành, ông xây dựng cơ đồ và được nhân dân tôn vinh là Bố Cái Đại Vương. Đền thờ ông ngày nay còn ở Đường Lâm (Hà Tây).

Năm 938, khi quân Nam Hán ngấp nghé ngoài bờ cõi, Ngô Quyền người Đường Lâm (Hà Tây), được nhân dân ủng hộ đã tập hợp lực lượng tổ chức kháng chiến, ông bố trí, một trận địa cọc gỗ nhọn đầu bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi nước thuỷ triều lên, ông cho quân ta nhử thuyền địch tiến vào sông, chờ khi nước thuỷ triều rút, quân ta bắt đầu tấn công dữ dội, thuyền địch hoảng sợ tháo chạy va vào cọc nhọn đắm gần hết.

Dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền, chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 đã kết thúc hoàn toàn thời kì mất nước kéo dài hơn một nghìn năm và mở đầu một thời kỉ độc lập dân tộc.

Sau thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc là thời kỳ Việt Nam qua các triều đại phong kiến mời các bạn xem tiếp tại đây

Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Khi các tộc người trên đất nước Việt Nam vươn lên định hình với những nền văn minh và nhà nước đầu tiên thì cũng là lúc ở phương Bắc một đế chế hùng mạnh đã bắt đầu thành lập và bành trướng xuống phương Nam. Vì thế lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh liên tục để dành độc lập tự do. Có thể tạm chia thành mấy thời kì như sau:

–        Thời kì Bắc thuộc

–        Thời kì xây dựng và giữ vững nền độc lập

–        Thời kì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội .

Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ
Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Thời kì Bắc thuộc

Thời kì này kéo dài một nghìn năm. Đây là một trong những thời kỉ thử thách ác liệt nhất trong tiến trình lịch sử của các tộc người trên dải đất Việt Nam. Dưới ách đô hộ và chính sách đồng hoá của các triều đại phong kiến Trung Quốc, người Việt Nam vẫn giữ được bản sác dân tộc. Về văn hoá, tiếng Việt vẫn giữ được cấu trúc riêng, những phong tục tập quán co từ thời Lạc Việt vẫn được bảo tồn. Về chính trị, các cuộc khởi nghĩa giành độc lập nổ ra gần như liên tục: khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, khởi nghĩa Lí Bí… với chiến tháng Bạch Đằng lịch sử năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo, nhân dân Việt Nam đã giành lại được độc lập cho dân tộc.

Xem thêm bài viết chi tiết về thời kỳ bắc thuộc

Thời kì dựng và giữ nền độc lập

Thời kỉ này kéo dài khoảng gần một nghìn năm (đầu thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX), Đây là kỉ nguyên phục hưng của dân tộc và phát triển rực rỡ dưới các triều đại: Triều Lý (1010-1225), Triều Trần (1226-1440), Triều Lê (1428-1527), mà thành tựu tiêu biểu là nền văn minh Đại Việt, nền văn hoá Thăng Long.

Thời kì này, kinh đô dời về Thăng Long (Hà Nội ngày nay), đạo Phật, đạo Nho chi phối đời sống tư tưởng xã hội. Quốc Tử Giám – Trường đại học đầu tiên của Việt Nam được mở. Thành quách, đền đài, chùa chiền, cung điện cũng lần lượt được xây dựng. Về văn hoá, chữ Nôm được phổ biến và vận dụng trong sáng tác văn học. Nguyễn Trãi là người đã nêu cao tiếng Việt và vận dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học, tập thơ Quốc âm thi tập gồm 250 bài thơ của ông là một trong những tập thơ nôm xưa nhất còn lưu truyền đến ngày nay. Nghề thủ công cùng các hình thức nghệ thuật dân gian phát triển mạnh, tuồng, chèo, múa hát, rối nước, đấu vật…

Trong thời kỉ này, dân tộc Việt Nam cũng nhiều lần chống trả quyết liệt sự xâm lăng của kẻ thù bên ngoài: Cuộc kháng chiến chống quân Tống thế kỉ XI, ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỉ XIII và cuộc kháng chiến chống quân Minh thế ki XIV.

Xem thêm bài viết : Việt Nam qua các triều đại phong kiến để nắm rõ hơn về thời kỳ này

Cuối thế kỉ XVII, chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tỉnh trạng khủng hoảng, đất nước bị chia cất. Cuộc khỏi nghĩa Tầy Sơn cuối thế kỉ XVIII tháng lợi, bước đầu thống nhất đất nưởc.

Nửa đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn tiếp tục củng cố và thống nhất quốc gia. Nhưng vì bảo thủ nên nhà Nguyễn để đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, lạc hậu. Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Cuộc kháng chiến chống Pháp do triều Nguyễn lãnh đạo đã bị thất bại bi thảm. Từ năm 1884, nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.

Sau khi đặt được nền thống trị trên cả nước, chính quyền cai trị Pháp đả phải đối phó với nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân từ miên Bác đến miền Nam, từ miền xuôi đến mfên ngược, từ quan lại, si phu đến những người nông dân nơi thôn dẫ đổ là phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX rồi đến những phong trào có xu hướng dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX nhưng đều thất bại. Nãm 1930, vói sự thành lập Đàng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, cách mạng Việt Nam đă giành được thấng lợi vào mùa thu tháng 8-1945.

Kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay

Ngay sau khi cách mạng vừa giành được chính quyền, nhân dân Việt Nam đã phải cầm vũ khí đứng lên làm cuộc kháng chiến trưòng kì ròng rã hơn 30 năm để bảo vệ độc lập, tự do tổ quốc. Nhân dân ta đã đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghía thực dân mới.

Xem thêm bài viết chi tiết hơn về thời kỳ này tại : Việt Nam kỷ nguyên độc lâp 1945 đến nay

Cuộc kháng chiến lần thứ nhất kết thúc bằng trận Điện Biên Phủ vang dội năm 1954. Cuộc kháng chiến làn thứ hai kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và đại thắng mùa Xuân 1975. Ngày nay, dân tộc Việt Nam đang bước vào thòi ki mới mở cửa và hội nhập cùng các nước trong khu vực, đưa đất nước đi lên và đứng vào hàng ngũ của các nước phát triển.

Lịch sử Việt Nam thời kỳ sơ khai

Căn cứ vào những di chỉ khảo cổ học tìm thấy ở Núi Đọ (Thanh Hoá), Hang Gòn, Dầu Giây (Đồng Nai), những chiếc răng của người vượn tìm thấy trong hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), các nhà khảo cổ học đã định rằng cách đây hàng chục vạn năm trên lãnh thổ Việt Nam đã cổ cuộc sống của con người. Việt Nam được coi là nơi loài người xuất hiện sớm.

Lịch sử sơ khai Việt Nam

Kèm theo là những di chỉ tìm thấy ở Sơn Vi huyện Lầm Thao  theo giới khảo cố học gọi là nền vân hoá sơ khai. Văn hóa này thuộc  hậu kì thời đại đá cũ, có niên đại cách đầy xấp xỉ 18 nghìn năm. Từ văn hoả Sơn Vì phát triển lên văn hoá Hoà Bình Bắc Sơn thuộc thời kì đá mới. Tồn tại cách đây dưới 1 vạn năm với vản hoá Hoà Bình Bắc Sơn con người đã biết trồng trot, đánh dấu bước chuvển từ kinh tế khai thác (hái lượm, sán hát; sang kinh tế sản xuất trông trọt, chăn nuôi). Các cư dân nguyên thủy sống chủ yếu trên các miền đồi núi đã chuyển đần xuống chinh phục các miên châu thổ sống định cư, phát triển nghề trồng lúa nước và các câv trồng khác kết hợp với việc chăn nuôi, tôn bán, bắt cá và phát triển nghề thủ công- hình thành những làng, xóm.

Vua Hùng dựng nước Văn Lang và những trung tâm văn minh đầu tiên.

Vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước công nguyên, trên lãnh thổ Việt cổ dần xuất hiện 3 trung tâm vân minh đầu tiên gắn với nhà nước sơ kì đó là:  Văn minh của người Việt cổ ở lưu vực sông Hồng Mã, sông Lam phát triển, bằng chứng tiêu biểu nhất của văn  minh Đông Sơn là  trống đồng Đông Sơn nổi tiếng. Trên nền tảng của nền văn minh này này, một hình thái nhà nước sơ kì của người Việt cổ đã hình thành  mà trong truyền thuyết dân gian nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, Các vua Hùng đóng đô ở Phong Châu (Vĩnh Phú), kế theo là nước Ẳu Lạc đờl An Dương Vương đổng đô ở Cố Loa (Đông Anh Hà Nội). Đây là mội thời đại đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết Lạc Long Quân lấy Âu Cư sinh ra bọc trẳm trứng, nở ra trăm con được gọi là tổ tiên chung của dân tộc Viết Nam Truyền thuyết về Sơn Tinh, Thuỳ Tinh, Thánh Gióng đã phản ánh cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai vả chống giặc ngoại xâm trong quá trình đựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam thời cổ đại.

Lịch sử Việt Nam sơ khai

Văn minh Sa Huỳnh ở ven biển miên Trung vào khoảng thiên niên kỉ thứ 1, 2 trước công nguyên. Đó là nền văn minh đầu tiên của người Chăm cổ và là cơ sở dẫn đến sự thành lập nhà nước Champa vào đầu công nguyên.

Văn minh Ốc Eo là nền vần hoá nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam với nhiều di tích trải rộng từ miền tây Hậu Giang qua vùng Đồng Tháp Mười đến thượng lưu sông Đồng Nai. Văn hoá ốc Eo tồn tại từ đầu công nguyên đến thế kỉ VI, VII. Đó là dấu tích của vương quốc một thời thành đạt được sử sách ghi chép với tên gọi là nước Phù Nam.

Nền văn minh Đông Sơn cùng Sa Huỳnh, Ốc Eo là 3 trung tâm văn minh sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam thời cổ đại. Những nước Văn Lang-Âu Lạc, Champa, Phù Nam trải nhiều biến thiên của lịch sử đã hội nhập vào thành một nước Việt Nam ngày nay.