Loading

wait a moment

Nguồn gốc ngôn ngữ và chữ viết người Việt

Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ được xác lập từ xa xưa ở vùng Đông Nam Á, nhưng do bị phong kiến nước ngoài chinh phục nên tiếng Việt đã bị Hán hoá và sử dụng rộng rãi trong các tầng lớp quan lại. Tuy nhiên tiếng Việt không bị tiêu diệt hoàn toàn bởi nhân dân lao động các làng xã vẫn sống theo cách sống của riêng mình. Họ vẫn duy trì tiếng nói và tâm hồn người Việt.

Nguồn gốc ngôn ngữ và chữ viết người Việt
Nguồn gốc ngôn ngữ và chữ viết người Việt

Ngôn ngữ

Trải qua nhiều thế kỉ, những thay đổi trong cuộc sống vật chất và nhu cầu trong cuộc sống tinh thần mỗi ngày một tăng đã là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của tiếng Việt trong cách nói và cách viết. Trong khi tiếp thu nhiều yếu tố của ngôn ngữ Hán, nhân dân đã sáng tạo, Việt hoá những từ ngữ ấy để tạo thành từ Hán-Việt bên cạnh những yếu tố thuần Việt. Nhiều tài liệu học tập được biên soạn thành văn để giúp người đọc dễ nhớ: gia-nhà; quốc-nước; tiền-trước; hậu-sau; ngưu-trâu; mã- ngựa… Hiện tượng Việt hoá không chỉ xẩy ra riêng đối với tiếng Hán mà cả với tiếng Pháp sau này, đã tạo ra một nguồn từ vựng phong phú giàu sức sống cho kho tàng ngôn ngữ Việt Nam hiện nay. Khi Việt Nam có quan hệ rộng rãi với nhiều nước trên thế giới, chắc chắn tiếng Việt sẽ tiếp tục phát triển phong phú hơn nữa.

Chữ viết

Chữ Nôm Do điều kiện lịch sử, người Việt đã sử dụng chữ Hán như một văn tự chính thức trong thời gian khá dài. Thêm vào đổ, các tầng lớp quan lại được thi cử ở Bắc triều (Trung Quốc) đã sử dụng vào bộ máy hành chính đô hộ. Tuy vậy trên cơ sở chữ Hán, người Việt đã xây dựng thứ văn tự độc đáo riêng của mình đó là chữ Nôm. Chữ Nôm là kiểu khối chữ vuông như chữ Hán, cách viết chữ Nôm là dựa vào chữ Hán để ghi âm tiếng Việt như: chữ hán, Mệnh của chữ Hán như thế nào thì chữ Nôm cũng viết như vậy hoặc cũng là dùng hai chữ Hán ghép lại để thành một chữ Nôm, trong đđ cố một chữ chỉ nghĩa và một chữ chỉ âm theo tiếng Việt như chữ “trăm” trong câu “trăm năm trong cõi người ta” (Kiều) viết gồm có hai chữ: chữ lâm (là rừng) chỉ cách đọc và chữ bách (là trăm) chỉ nghĩa.

Chữ nôm người việt

Chữ Nôm ra đời được quần chúng nhân dân ủng hộ và sử dụng rộng rãi. Chữ Nôm được dùng để ghi tên người, tên làng, tên đất vào các vãn tự khế ước. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì chữ Nôm xuất hiện từ rất sớm khoảng thế kỉ XIII, nhưng chứng tích xưa nhất và xác thực của chữ Nôm còn lại đến ngày nay được biết là tấm bia Báo Án (Yên Lăng-Vĩnh Phúc) có niên đại 1209 (thời Lý), nhưng phải đến đời Trần (thế kỉ XIII) chữ Nôm mới được hệ thống hoá, phổ biến rộng rãi và vận dụng vào sáng tác văn học. Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố làm thơ bằng chữ Nôm. Hồ Quý Ly (1400) cho dịch Kinh thư ra tiếng việt và ghi lại bằng chữ Nôm. Ông dùng chữ Nôm để thảo sắc, chiếu chỉ của triều đình. Nguyễn Trãi (thế kỉ XV), vị anh hùng dân tộc đã dùng chữ Nôm sáng tác 250 bài thơ trong tận Quốc Âm. Từ thế kỉ XVI trở đi, văn học chữ Nôm ngày càng thịnh hành và đến thế kỉ xvm thì vần học chữ Nôm hoàn toàn chiếm ưu thế trên văn đàn. Đđ là những tác phẩm thơ của Hò Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, w.

Chữ Quốc ngữ là một trong những sản phẩm của sự tiếp xúc giữa văn hoá Tây Âu và văn hoá Việt Nam. Lịch sử phát triển của chữ Quốc ngữ gắn liền với việc truyền đạo Cơ Đốc giáo vào Việt Nam.

Vào thế kỉ thứ XVI, các giáo sĩ phương Tây vào Việt Nam truyền đạo, để đạt được kết quả trong – việc truyền và giảng đạo, họ đã học tiếng Việt và dùng chữ La tinh để phiên âm tiếng Việt, từ đó chữ Quốc ngữ xuất hiện. Việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là kết quả nỗ lực chung của nhiều giáo sĩ (họ là những người thuộc nhiều dân tộc, nhiều quổc gia như châu Âu, Tầy Ban Nha, Bò Đào Nha, Italia, Pháp, Hà Lan…). Nhưng người cố công đầu tiên là giáo sĩ A- lếch- xăng- drôt (Alexandre de Rhrodes, 1591-1660). ông là tác giả của cuốn từ điển Việt- Bồ; Bồ-Việt. Dựa vào đo năm 1649- 1651, ồng cho xuất bản ở La Mã (Italia) cuốn từ điển An Nam- Bồ Đào Nha- Latinh và một cuốn giáo sĩ cương yếu bằng chữ Quốc ngữ.

Sau A- lếch – xăng- drôt, nhiều giáo sĩ nước ngoài và người Việt Nam đã sửa chữa và hoàn thiện dần chữ Quốc ngữ. Từ năm 1867, chữ Quốc ngữ được sử dụng trong các trường thuộc địa và tới những năm đầu thế kỉ XX chữ Quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi trong hệ thống giáo dục.

Chữ Quốc ngữ ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới trong ngôn ngữ Việt Nam. Trong số các nước châu Á, duy nhất cố Việt Nam đã Latinh hoá được chữ viết của mình, tạo điều kiện cho sự phát triển vân hoá và khoa học kĩ thuật hiện đại.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *