Loading

wait a moment

Lăng Đồng Khánh ( Tư Lăng)

Lăng Đồng Khánh tọa lạc giữa một vùng quê tĩnh mịch thuộc làng Cư Sĩ, tổng Dương Xuân ngày trước (nay là thôn Thượng Hai, xã Thủy Xuân, thành phố Huế). Ông vua “vắn số” này yên nghỉ giữa một vị thế nồng ấm tình cảm gia đình. Chung quanh ông là vô số lăng mộ của bà con quyến thuộc: lăng Tự Đức (bác ruột và là cha nuôi), lăng Kiên Thái Vương (thân phụ), lăng bà Từ Cung (con dâu), lăng bà Thánh Cung (vợ). Xa hơn là lăng Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu (bà cố nội), lăng Thiệu Trị (ông nội)… Âu đó cũng là sự “bù đắp” cho vị vua kém may mắn này.

Lăng Đồng Khánh ( Tư Lăng)
Lăng Đồng Khánh ( Tư Lăng)

Đồng Khánh tên là Nguyễn Phúc Ưng Đường, con trai cả của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai (1845-1876), người sinh thành ba vị vua: Kiến Phúc (1845- 1876), Hàm Nghi (1884-1885) và Đồng Khánh (1886-1889). Ca dao Huế từng nói về vương nghiệp của ba ông vua này:

Một nhà sinh đặng ba vua

Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài.

Đồng Khánh là anh cả nhưng lại được đưa lên ngai vàng sau cùng. Bấy giờ, sau khi vua Hiệp Hòa chết (1883), Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lập hoàng tử Ưng Đăng (con nuôi của vua Tự Đức, em thứ hai của Ưng Đường) lên làm vua. Ớ ngôi vị được tám tháng thì Kiến Phúc băng hà, em trai là Ưng Lịch được kế vị, đặt niên hiệu Hàm Nghi. Hàm Nghi trị vì được một năm thì Kinh đô thất thủ (5-7-1885), phải rời ngai vàng, theo Tôn Thất Thuyết ra sơn phòng Hà Tĩnh, phát chiếu Cần Vương kháng Pháp. Triều thần và chính phủ bảo hộ đưa anh trai Hàm Nghi vào ngai vàng đang để trống, đó là Đồng Khánh. Đồng Khánh làm vua được ba năm thì băng hà vào giữa tuổi 25. Nhà vua không ngờ mình chết sớm như vậy, nên chưa hề lo nghĩ đến sinh phần mai sau của mình. Cái gọi là lăng Đồng Khánh hiện hữu, thực chất là nơi vua Đồng Khánh “tá túc vĩnh viễn” trong điện thờ thân phụ của ông. Sự ra đời của khu lăng tẩm này chứa đựng nhiều trắc trở cũng như số phận đầy kịch tính của ông vua chết yểu này.

Sau khi lên ngôi, Đồng Khánh thấy lăng mộ của cha mình ở làng Cư Sĩ chưa có điện thờ nên sai bộ Công dựng điện Truy Tư cạnh đó để thờ cha. Điện Truy Tư khởi công vào tháng 2 năm 1888, đến tháng 10 năm đó hoàn tất về căn bản. Đồng Khánh rước bài vị của Kiên Thái Vương về thờ trong điện, đồng thời tiếp tục hoàn chỉnh công trình. Thế nhưng, trong khi công việc kiến trúc đang tiếp tục thì Đồng Khánh mắc bệnh và đột ngột qua đời. Vua Thành Thái kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế suy kiệt, nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm, đành lấy điện Truy Tư đổi làm Ngưng Hy, để thờ vua Đồng Khánh. Thi hài nhà vua cũng được an táng trên quả đồi có tên là Hộ Thuận Sơn, cách điện Ngưng Hy 30m về phía tây. Toàn bộ lăng tẩm được gọi tên là Tư Làng.

Tháng 8-1917, sau khi lên ngôi được 3 tháng, vua Khải Định (1917-1925), con trai của Đồng Khánh, đã tu sửa điện thờ và xây cất lăng mộ cho cha mình. Toàn bộ khu lăng mộ, từ Bái đình, Bi đình đến Bửu thành và Huyền cung, đều được kiến thiết dưới thời Khải Định, đến tháng 7-1917 mới hoàn thành. Riêng điện Ngưng Hy cùng Tả, Hữu Tùng Viện; Tả, Hữu Tùng Tự tiếp tục tu sửa cho đến năm 1923.

Ra đời trong quá trình dài như thế, lăng Đồng Khánh mang dấu ấn hai trường phái kiến trúc của hai thời điểm lịch sử khác nhau. Nếu phong cách cổ truyền thực sự dừng chân trong kiến trúc lăng Tự Đức và phong cách xây dựng hiện đại được thể hiện rõ nét trong kiến trúc lăng Khải Định sau này, thì lăng Đồng Khánh là một bước trung chuyển. Sự tồn tại khá biệt lập của hai khu vực lăng và tẩm càng làm rõ thêm điều này. Ở khu vực tẩm điện, nhìn tổng thể, các công trình vẫn mang dáng xưa: lối kiên trúc “trùng thiềm điệp ốc” ở chỉnh điện và các nhà cửa phụ thuộc, vẫn những hàng cột sơn son thếp vàng lộng lẫy với đồ án trang trí tứ linh, tứ quý… quen thuộc. Đáng chú ý là điện Ngưng Hy, một công trình vốn được coi là nơi bảo lưu bậc nhất nghệ thuật sơn son thếp vàng, nghệ thuật sơn mài nổi tiếng của Việt Nam. Trên các đố bản của nội thất là hàng loạt các ô hộc trang trí các đề tài mai điểu, tùng lộc, trúc tước… bằng sơn mài, ghép khảm và chạm nổi.

Đặc biệt, trong chính điện còn có 24 đố bản vẽ các bức tranh trong điển tích “nhị thập tứ hiêu” kể về những tấm gương hiếu thảo ở Trung Hoa. Phải chăng do làm vua trong một xã hội mà trật tự, kỷ cương Nho giáo trở nên lỏng lẻo, thiết chế “quân, sư, phụ” không được tôn trọng, luân lý bị đảo lộn, ông mong mỏi tái lập một xã hội với đầy đủ tôn ti phong kiên cũ và bắt đầu từ ý nghĩa giáo dục của những bức tranh đó? Điều này khó có thể thực hiện được, khi bản thân Đồng Khánh cũng chỉ là cái bóng trên ngai vàng! Ngay cả việc xuất hiện những bức phù điêu bằng đất nung trên các cổ diêm, bờ nóc, bờ quyết của điện Ngưng Hy với các đồ án trang trí rất dân dã như “ngư ông đắc lợi”, “gà chọi”, “cầm – kỳ – thi – tửu”, hoa quả, động vật cũng phần nào minh chứng cho điều này. Bởi lẽ trong lăng tẩm các vua tiền nhiệm, hoàn toàn vắng bóng loại hình sản phẩm mỹ thuật bằng đất nung cũng như các đồ án trang trí dân gian, vì giai cấp phong kiến coi đó là tầm thường, xa lạ với nghệ thuật cung đình. Chỉ đến khi thiết chế xã hội bớt khắt khe thì người nghệ sĩ dân gian mới có thể lồng vào trong nền mỹ thuật cung đình những sáng tạo của giai cấp mình.

Điện Ngưng Hy Lăng đồng khánh
Điện Ngưng Hy Lăng đồng khánh

Bản thân điện Ngưng Hy với cấu trúc chữ “tam”phát triển từ kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc” cũng có một nét lạ. Tuy nhiên việc xuất hiện hệ thống cửa kính nhiều màu và hai bức tranh cổ mô tả cuộc chiến tranh Pháp – Phổ thời Na pô lê ông, và hàng loạt hiện vật như ba toong, lọ nước hoa bên cạnh các hiện vật cổ, tạo cho du khách một cảm giác lai căng, khó chịu. Ngược lại với phong cách truyền thống trong kiến trúc khu vực tẩm

Điện kiến trúc lăng mộ hầu như “Âu hóa” hoàn toàn, từ đặc trưng kiến trúc, mô tip trang trí đến vật liệu xây dưng. Bi đình là sự biến thể của kiến trúc Romance pha trộn với kiến trúc A Đông; tượng quan viên cao, gầy đắp bằng xi măng và gạch thay cho tượng đá. Ngói ac-doa thay ngói hoàng lưu ly, gạch ca rô thế chỗ gạch bát tràng… Nét Á Đông lưu giữ một cách hiếm hoi trong khu vực mộ, có lẽ là những chữ thọ trang trí trên bình phong trước mộ để cầu mong sự trường tồn trong vương nghiệp của vua ở âm phần, bù lại chuỗi ngày làm vua ngắn ngủi trên dương thế. Phía sau ngôi mộ có hai con cá chép đắp bằng xi măng, bên trên có hai con rồng mặt trời như muôn nhắn gửi với hậu thế rằng quá trình trị vì của vua cũng gian nan, vất vả và như cá chép hóa rồng phải vượt qua Vũ Môn vậy!

Nhìn chung, lăng Đồng Khánh được xây dựng trong buổi giao thời của lịch sử nên nền kiến trúc Á Đông phần nào phôi pha, mờ nhạt để chuyển tiếp đến kiến trúc hiện đại. Người nghệ sĩ tạo ra khu tẩm này bị đặt giữa một sự chọn lựa và tiếp nhận: kiến trúc cung đình, kiến trúc dân gian và kiến trúc mới du nhập. Trong một chừng mực nhất định họ đã thành công trong việc thể nghiệm cái mới, đưa ra yếu tố dân dã vào trong cung đình khiến lăng Đồng Khánh như hòa hợp với phong cảnh thôn dã trong vùng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *