Loading

wait a moment

Việt Nam từ kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay

Ngày 2- 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chính quyền vừa được thành lập, phải đương đầu với những khó khăn cực kì to lớn và quyết liệt: giặc đối, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Nhưng “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, ngày 19-12-1946, Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay
Kỉ nguyên độc lập từ 1945 đến nay

Những sự kiện lịch sử

  • Sau chín năm kháng chiến, ngày 7-5-1954, quân và dân Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ (Thụy Sĩ) ngày 20- 7-1954. Theo quy định của hiệp định này, nước. Việt Nam tạm thời chia đôi lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời, sau hai năm sẽ tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Vĩ Tuyến 17

Thay chân Pháp, Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam dựng chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từ chối hiệp thương thống nhất đất nước. Mỹ và tay sai ra sức đàn áp cuộc đấu tranh đòi thống nhất đất nước, cả miền Nam sục sôi đấu tranh.

  • Năm 1960, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre, nhanh chống lan rộng ra các vùng đồng bằng Nam Bộ, Tầy Nguyên, Nam Trung Bộ.
  • Ngày 20-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời.
  • Ngày 5.8.1964, Mĩ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” để lấy cớ ném bom miền Bắc.
  • Tháng 2-1965, Mĩ ném bom ồ ạt miền Bác.
  • Ngày 1- 11-1968, Mĩ tuyên bố chấm dứt không điều kiện ném bom miền Bắc.
  • Tháng 1- 1969, Hội nghị bốn bên ở Pari họp trong đó có đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
  • Tháng 4-1972, Mĩ ném bom trở lại miền Bắc. Phản bội những thoả thuận đã kí ở Pari, ngày 18-12-1972, Mỹ huy động lực lượng bộ tiến hành cuộc tập kích quy mô lớn đánh Hà Nội, Hải Phòng. Với 12 ngày đêm chiến đấu, quân dân miền Bấc tiêu biểu là thủ đô Hà Nội đã làm lên một”Điện Biên Phủ trên không” thắng lợi.
  • Ngày 27-1-1973, Mĩ buộc phải kí Hịệp định Pari về Việt Nam, rút toàn bộ quân đội Mĩ và quân của các nước chư hầu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
  • Tháng 3-1975, cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975 bắt đầu. Ngày 30- 4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Một trang sử mới của dân tộc đã mở, nhưng khó khăn thử thách mới cũng đặt ra, hậu quả chiến tranh nặng nề, nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, nguồn viện trợ nước ngoài giảm sút. Nhưng với sức mạnh vốn có, cùng với ý chí tự lực tự cường, dân tộc Việt Nam đã vươn lên, vượt qua những khó khăn trước mắt để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn vì một nước Việt Nam giàu mạnh.

Xem thêm:

Việt Nam thời kỳ dựng nước và Bắc thuộc

Lịch sử Việt Nam thời kỳ sơ khai

Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Việt Nam qua các triều đại phong kiến

Thể chế chính trị sau khi độc lập

Ngày 2- 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Việt Nam là thành viên của tổ chức Liên hợp quốc và phong trào không liên kết. Một hệ thống chính trị được thiết lập tư trung ương đến địa phương bao gồm Đảng Cộng sản, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân như Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn lao động, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh… để tiến hành mọi hoạt động của đất nước về đối nội và đối ngoại. Đảng cộng sản Việt Nam là một thành viên trong hệ thống chính trị đổ, có vai trò lãnh đạo chung và được toàn dân thừa nhận.

Đảng cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam (thành lập ngày 3- 2-1930) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) sáng lập và lãnh đạo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã vùng dậy đấu tranh chống các thế lực thực dân, phong kiến, tiến hành thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa thánh lam năm 1945, và cuộc kháng chiến 30 năm chống xâm lược Pháp- Mĩ, hoàn thành sự nghiệp giải phống dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỉ nguyên mới: kỉ nguyên xây dựng Tổ quốc Việt Nam thành một quốc gia dân chủ, giàu mạnh, xã hộĩ công bằng văn minh, tích cực bảo vệ hoà bình ở khu vực và trên thế giới.

Đảng Cộng sản Việt Nam đang không ngìíng đổi mới sự lãnh đạo của Đảng vi sự nghiệp xây dựng đất nước, vì lợi ích của toàn dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra và tổ chức thực hiện đường lối đổi mớỉ, chính sách kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chu nghĩa. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện qụan hệ đa phương, nhiều chiều, tồng .cường hợp tác đầu tư và làm bạn với tất cả các hước trên tinh thần hợp tác, hữu nghị.

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước do nhân dân bầu ra. Quốc hội là cơ quan duy nhất cố quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quy định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước; về quan hệ xã hội và về hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động cửa đất nước.

quoc hoi viet nam

Quốc hội họp mỗi năm hai kì. Điều hành công việc hàng ngày của Quốc hội là Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Các cơ quan của Quốc hội cd Hội đồng dân tộc, Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban kính tế và ngân sách, Uỷ ban quốc phòng và an ninh, Uỷ ban vãn hoá, giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, Uỷ ban các vấn đề xã hội, Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường, Uỷ ban đối ngoại và Trưởng ban thư kí các kì họp.

Đại biểu Quốc hội do các cử tri bầu ra. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Không được bắt giam hoặc truy tố Đại biểu Quốc hội nếu chưa được sự đồng ý của Quốc hộĩ hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội (trừ trường hợp phạm pháp quả tang).

Nhiệm kì Quốc hội là 5 nầm (trừ những năm tháng đất nước cđ chiến tranh). Quốc hội khoá I được bầu tháng 1-1946. Quốc hội khoá X từ tháng 7 năm 1997.

Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, là người thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Nhiệm kì của Chủ tịch nước theo nhiệm kì của Quốc hội.

Phố Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước điều hành công việc hàng ngày và quyền Chủ tịch nước khi Chủ tịch nước đi váng.

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ chính

trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đổi nội và đối ngoại cùa Nhà nước. Chính phù C(5 nhiệm vụ lãnh đạo các Bộ, các cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện kế hoạch Nhà nước, phát huy quyền làm chù cùa nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

Chính phủ gồm Thủ tướng, các phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ.

Y tế

Trước năm 1945, hoạt động y tế chỉ thu hẹp ở một số thành phố, thị xã và chủ yếu phục vụ cho những người ở tầng lớp trên (quan lại tư sản). Mạng lưới y tế, bệnh viện quá mỏng, bệnh viện lớn chỉ có ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế với quy mô khoảng 500 giường. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam trong thời kì này trung bình 34 tuổi.

Trong những năm đầu khi mới giành được chính quyền, ngành y tế đã được Đảng và Nhà nước quan tâm. Xây dựng mạng lưới  y tế nông thôn, mỗi xã có một tổ y tế, mỗi huyện có một phòng khám hoặc bệnh xá, mỗi tỉnh có một bệnh viện. Xây dựng quan điểm y tế dự phòng, đẩy mạnh vệ sinh môi trường, khống chế các bệnh đậu mùa, dịch tả, thương hàn, đường ruột, sốt rét. Khẩn trương đào tạo các cán bộ y tế, nữ hộ sinh, xét nghiệm viên, y sĩ trung học, nghiên cứu sản xuất thuốc nam, chữa bệnh bằng dược liệu địa phương.

Ngành y tế Việt Nam 1945

Trong hơn 50 năm qua, hoạt động y tế Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng tự hào, đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn thực hiện những ca phẫu thuật khổ như thay thận, thay tim. Các giáo sư, bác sĩ giỏi được đi tu nghiệp và trao đổi khoa học ở nước ngoài để có thể tiếp thu những tiến bộ của nền y học thế giới. Bên cạnh đổ nền y học cổ truyền đang được khôi phục và phát triển. Một số bệnh Tầy y bố tay như viêm tác động mạch, viêm gan, viêm loét tá tràng thì Đông y có thể chữa được bằng thuốc Nam kết hợp châm cứu.

Chữa bệnh bằng châm cứu đã được áp dụng có hiệu quả đối với một số bệnh: đau đầu, đau vai, đau gáy… và một số bệnh do di chứng để lại như liệt ở người lớn do tai biến mạch máu não. Đặc biệt ở Việt Nam đã áp dụng phương pháp châm tê trong phẫu thuật: sọ não, cắt dạ dày, mổ xoang…

Giáo dục

So sánh với một số nước trong khu vực, Việt Nam là một nước có nền giáo dục tương đối phát triển.

Trước cách mạng tháng Tám 95% số dân Việt Nam mù chữ. Cả Đông Dương (gồm 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia) lúc đổ chỉ cố một trường đại học gồm 3 khoa: Luật, Y dược và Khoa học. Sau đó cố mở thêm một số trường cao đẳng: Cao đẳng Mĩ thuật, Công chính, Thú y với số học sinh năm cao nhất không quá 800 người.

Về viện nghiên cứu khoa học, trước Cách mạng tháng Tám có 4 viện đó là: Viện Pasteur Hà Nội, Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Nha Trang và Viện Pasteur Đà Lạt, cả 4 viện này đều trực thuộc Viện Pasteur Pari chuyên nghiên cứu bệnh nhiệt đới.

Cách mạng tháng Tám thành công, việc làm đầu tiên của chính quyền cách mạng là xoá bằng được nạn mù chữ. Ngày 9- 9-1945, sau ngày tuyên bố độc lập đúng một tuần, Nha bình dân học vụ được thành lập.

Lớp hoc sau cách mạng tháng 8

Năm 1956 – 1957, thành lập thêm 4 trường đại học: Đại học Tổng hợp, Bách khoa, Nông Lâm và Kinh tế kế hoạch. Khi mới thành lập chỉ cổ 10 ngành học nhưng đến năm 1965 đã cố thêm 200 ngành học. Đặc biệt trong những năm chiến tranh chống Mĩ ác liệt , ngành giáo dục của Việt Nam vẫn không ngừng phát triển. Các trường dạy nghề, trường trung học được táng lên rõ rệt.

Từ năm 1986, với chủ trương đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng xã hội hoá các nguồn đàu tư, đa dạng hoá các hình thức giáo dục và hiện đại hoá nội dung, phương pháp, trang thiết bị dạy học vì thế hệ thống giáo dục đã cố cơ cấu khá hoàn chỉnh. Nếu như trước đây có 95% số dân Việt Nam mù chữ thì nay 88% số dân biết chữ. Hệ thống giáo dục gồm các cấp sau:

  • Mẫu giáo từ 3 tuổi đến 6 tuổi
  • Trường tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5
  • Trường phổ thông cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9
  • Trường phổ thông trung học từ lớp 10 đến lớp 12

Từ nay đến nãm 2000, Việt Nam phấn đấu thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, đông thờĩ củng cố chất lượng giảng dạy. Thanh niên ở các thành phố lớn và các trung tâm công nghiệp phải cổ trình độ ở mức phổ thông trung học. Mở cuộc vận động toàn dân kiên quyết xoá nạn mù chữ và thất học. Đặc biệt quan tâm tới học sinh miền núi. Co chính sách đảm bảo cho con em gia đinh chính sách và gia đình nghèo đi học. Động viên giúp đỡ những học sỉnh học giỏi có nhiều triển vọng. Phát triển hỉnh thức giáo dục từ xa. Mở rộng hệ thống các trường lớp dạy nghề và đào tạo công nhân lành nghề. Xây dựng hệ thống trường công kết hợp với việc quản lí và hướng dẫn phát triển hệ thống trường bán công và tư thục. Khuyến khích du học tự túc. Kết hợp đào tạo với nghiên cứu tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận với công nghệ tiên tiến.

Hiện nay cả nưộc co gần 100 trường đại học và cao đẳng. Đội ngũ giáo viên nhiều người đã đạt danh hiệu tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phd giáo sư, w.

Cổ gần 300 cơ quan nghiên cứu khoa học. Quy mô đào tạo cao học và nghiên cứu sinh mở rộng dần. Trước đây, việc đào tạo cán bộ sau đại học chủ yếu dựa vào sự giúp đỡ của nước ngoài, từ năm 1976 Việt Nam bắt đầu mở ra hệ đào tạo sau đại học để đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ trí thức có trình độ cao.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *