Loading

wait a moment

Giáo dục Việt Nam sau cách mạng tháng 8

So sánh với một số nước trong khu vực, Việt Nam là một nước có nền giáo dục tương đối phát triển.

Trước cách mạng tháng Tám 95% số dân Việt Nam mù chữ. Cả Đông Dương (gồm 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia) lúc đổ chỉ cố một trường đại học gồm 3 khoa: Luật, Y dược và Khoa học. Sau đó cố mở thêm một số trường cao đẳng: Cao đẳng Mĩ thuật, Công chính, Thú y với số học sinh năm cao nhất không quá 800 người.

Về viện nghiên cứu khoa học, trước Cách mạng tháng Tám có 4 viện đó là: Viện Pasteur Hà Nội, Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Nha Trang và Viện Pasteur Đà Lạt, cả 4 viện này đều trực thuộc Viện Pasteur Pari chuyên nghiên cứu bệnh nhiệt đới.

Cách mạng tháng Tám thành công, việc làm đầu tiên của chính quyền cách mạng là xoá bằng được nạn mù chữ. Ngày 9- 9-1945, sau ngày tuyên bố độc lập đúng một tuần, Nha bình dân học vụ được thành lập.

Lớp hoc sau cách mạng tháng 8

Năm 1956 – 1957, thành lập thêm 4 trường đại học: Đại học Tổng hợp, Bách khoa, Nông Lâm và Kinh tế kế hoạch. Khi mới thành lập chỉ cổ 10 ngành học nhưng đến năm 1965 đã cố thêm 200 ngành học. Đặc biệt trong những năm chiến tranh chống Mĩ ác liệt , ngành giáo dục của Việt Nam vẫn không ngừng phát triển. Các trường dạy nghề, trường trung học được táng lên rõ rệt.

Từ năm 1986, với chủ trương đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng xã hội hoá các nguồn đàu tư, đa dạng hoá các hình thức giáo dục và hiện đại hoá nội dung, phương pháp, trang thiết bị dạy học vì thế hệ thống giáo dục đã cố cơ cấu khá hoàn chỉnh. Nếu như trước đây có 95% số dân Việt Nam mù chữ thì nay 88% số dân biết chữ. Hệ thống giáo dục gồm các cấp sau:

–        Mẫu giáo từ 3 tuổi đến 6 tuổi

–        Trường tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5

–        Trường phổ thông cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9

–        Trường phổ thông trung học từ lớp 10 đến lớp 12

Từ nay đến nãm 2000, Việt Nam phấn đấu thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, đông thờĩ củng cố chất lượng giảng dạy. Thanh niên ở các thành phố lớn và các trung tâm công nghiệp phải cổ trình độ ở mức phổ thông trung học. Mở cuộc vận động toàn dân kiên quyết xoá nạn mù chữ và thất học. Đặc biệt quan tâm tới học sinh miền núi. Co chính sách đảm bảo cho con em gia đinh chính sách và gia đình nghèo đi học. Động viên giúp đỡ những học sỉnh học giỏi có nhiều triển vọng. Phát triển hỉnh thức giáo dục từ xa. Mở rộng hệ thống các trường lớp dạy nghề và đào tạo công nhân lành nghề. Xây dựng hệ thống trường công kết hợp với việc quản lí và hướng dẫn phát triển hệ thống trường bán công và tư thục. Khuyến khích du học tự túc. Kết hợp đào tạo với nghiên cứu tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận với công nghệ tiên tiến.

Hiện nay cả nưộc co gần 100 trường đại học và cao đẳng. Đội ngũ giáo viên nhiều người đã đạt danh hiệu tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phd giáo sư, w.

Cổ gần 300 cơ quan nghiên cứu khoa học. Quy mô đào tạo cao học và nghiên cứu sinh mở rộng dần. Trước đây, việc đào tạo cán bộ sau đại học chủ yếu dựa vào sự giúp đỡ của nước ngoài, từ năm 1976 Việt Nam bắt đầu mở ra hệ đào tạo sau đại học để đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ trí thức cố trình độ cao.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *