Loading

wait a moment

Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc

( Cột cờ Lũng Cú ) Nếu mô phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc thành một chóp nón, thì hai điểm thấp nhất theo kinh độ là Tây Trang – Điện Biên và Xa Vĩ – Móng Cái, còn đỉnh của chóp này chính là Lũng Cú nằm tại Vĩ độ 23021 Bắc và là điểm cao nhất cực Bắc Việt Nam.

Nhưng theo số liệu nghiên cứu chính xác thì bản Lô Lô Chải với 80 hộ, gần 400 khẩu mới là điểm cao nhất, nhọn nhất của hình chóp nón, Lũng Cú mới là nhì thôi. Nhưng Lũng Cú trước nay vẫn nổi trội hơn trong tâm linh lẫn tâm thức của con dân Việt về cương vực lẫn chủ quyền quốc gia. Có lẽ phần nổi trội, ấn tượng ấy là lá cờ với diện tích 54 m2 đang tung bay trên đỉnh cột cờ Lũng Cú kia.

Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc
Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc

Ý nghĩa của tên gọi Lũng Cú

Từ bãi đỗ xe giữa lưng chừng núi, chinh phục 200 bậc đá lên độ cao 1700m của đỉnh núi có địa danh là Lũng Cú. Lũng trong tiếng Mông là ngô, Lũng Cú là thung lũng ngô. Có tên vậy là vì từ xưa đến nay, cả cánh đồng Thèn Pả – cánh đồng lớn nhất ở Lũng Cú đều trồng ngô. Đó là cách giải thích đơn giản nhất, chất phác như chính con người và cuộc sống nơi đây. Nhưng cũng có cách lý giải theo huyền thoại về ngọn núi Long cung nơi rồng ở. Người dân ở đây vẫn kể cho nhau nghe về sự tích rồng thiêng đến ở tại ngọn núi linh Lũng Cú hay xưa kia là núi rồng. Nhưng nghe nói ở gần đỉnh Lũng Cú về phía Tây có 2 vũng nước mà trên độ cao chót vót này không bao giờ cạn cả. Nông thôi nhưng nước rất trong. Hai vũng ấy được dân ở đây coi như 2 cái  giếng.

Hơn thế nữa là long nhã tức là hai mắt rồng. Đời sống người dân nơi đây rất thiếu thốn về nước sinh hoạt, điều đó đã làm cho rồng tiên động lòng trắc ẩn. Nên trước khi bay về trời đã để lại đôi mắt cho dân làng, từ đôi mắt đã tạo nên hai chiếc hồ. Một bên là hồ của làng Then Pả của dân tộc Mông. Một bên là hồ của làng Lô Lô Chải. Nước không cứ sâu, núi không cứ cao nhưng có rồng đến ở đều là đất linh thiêng. Nếu cứ chiểu theo câu nói của người xưa, thì điểm cực Bắc này linh thiên mọi nhẽ. Hay chữ nghĩa một chút Lũng Cú là đọc chệch âm Hán sang âm Hmông từ Long Tổ nghĩa là trống của nhà vua, nguyên do là vì vua Quang Trung. Có sách nói rằng, trước đó là thời Lê Lợi, sau khi đại thắng quân xâm lược đã cho treo cái trống thật to ở trạm gác vùng biên này. Dùng cái trống ấy báo tin dữ tin lành về sự an nguy của biên ải. Mỗi lúc cầm canh âm thanh chủ quyền ấy lại vang lên 3 hồi đĩnh đạc, cách mấy dặm còn nghe được. Tiếng trống vang trên miền biên diễn này, khiến người dân có thêm một điểm tựa tinh thần. Tiếng trống của cha ông từ thủa xa xưa và sắc đỏ là cờ tổ quốc hôm nay, bay hiên ngang trên bầu trời tổ quốc địa đầu là một lời nhắc nhở với cháu con về chủ quyền đất nước.

Khi Lý Thường Kiệt hồi quân chấn ải biên thùy, thì ông đã cho cắm một lá cờ tại nơi này để đánh dấu mốc chủ quyền lãnh thổ. Cũng chính vì lá cờ đó mà trong suốt quá trình lịch sử, mảnh đất biên ải này vẫn luôn được giữ vững.

Trước khi qua thăm cột cờ, du khách nên ghé qua đồn biên phòng Lũng Cú. Nơi từng ngày từng giờ các anh đang đối đầu với thời tiết khắc nghiệt của vùng cao núi thẳm, với những kẻ thù dấu mặt, giữ bình yên cho từng làng bản hẻo lánh, giữ chủ quyền tổ quốc trên từng cột mốc biên cương. Hình ảnh lá cờ tổ quốc tung bay ở nơi cực Bắc này mang đếm cảm giác thiêng liêng khó tả.

Lịch sử xây dựng cột cờ

Những mốc thời gian của cột cờ Lũng Cú dù chưa quá xa, nhưng câu chuyện vẫn nhuốm màu huyền sử giữa núi rừng thăm thẳm này. Cột cờ Lũng Cú được dựng lên đầu tiên từ thời Lý Thường Kiệt và ban đầu làm bằng cây Xa mộc cao trên 10m. Cột được xây lại vào thời Pháo thuộc năm 1887. Năm 1978 khi tuyến đường lên Lũng Cú được khánh thành , bác Hùng Đình Quý nguyên là chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Đồng Văn thấy lá cờ cắm lúc trước chưa đủ rộng để mọi người dân sống ở chân núi rồng có thể ngắm nhìn. Bác nảy ra sáng kiến dựng cột cờ cao hơn, may lá cờ rộng hơn và lá cờ phải tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. May một lá cờ rộng 54 m2 sẽ rất hợp lý. Thế là ngày 12-8-1878 lá cờ rộng 54m2 chính thức tung bay trên cột cờ Lũng Cú.

Năm 1991 được sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, nhân dân các dân tộc Lô Lô, Mông, Dao ở Lũng Cú đã đi khắp các vùng rừng, lên các núi cao nhất, xa nhất để tìm cho được 1 cây pơ mu cao 13m thân thẳng đứng  như mũi tên hướng lên trời kiêu dũng. Mất 2 ngày cưa cây, gần 20 trai tráng đã nâng bổng thân cây nặng hàng tạ đã đưa lên đỉnh núi Rồng làm cột cờ bằng gỗ đầu tiên. Đến năm 2000 từ tháng 8 – tháng 12 những chiếc quẩy  thô mộc của người dân Lũng Cú lại kéo lên đỉnh núi cao hơn 1500m này gần 2 tấn thép, 8000 viên gạch gần 70m2 đá và cát để dựng nên cột cờ xây. Cột cờ được xây dựng thiết kế với tổng chiều cao 33,5m. Trong đó phần chân cột cao 20,25m. Phần cán cờ cao 12,9m. Đừng kính ngoài chân cột 3,8m. Cột cờ được thiết kế theo hình bát giác giống hình dáng cột cờ Hà Nội.  Chân bệ có 8 bức phù điêu đá xanh mang nét hoa văn của trống đồng Đông Sơn. Và minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc.

Cột cờ Lũng Cú được tu sửa năm 2010
Cột cờ Lũng Cú được tu sửa năm 2010

Ngày 8-3 năm 2010 tỉnh Hà Giang đã trùng tu tôn tạo, nâng cấp lại cột cờ Lũng Cú với quy mô hiện đại. Việc trùng tu tôn tạo cột cờ Lũng Cú cùng gắn với 4 huyện vùng cao tỉnh Hà Giang được công nhận là công viên địa chất cao nguyên đá toàn cầu. Cột cờ Lũng Cú thì nhiều người đã đến. Cái tên Lũng cú nhiều người đã thuộc. Chuyện chào cờ trên Lũng Cú được chuyển thành phim tài liệu khiến nhiều người xúc động. Nhưng còn nhiều câu truyện cảm động khác quanh việc xây dựng và gìn giữ để lá cờ trên đỉnh Lũng Cú luôn tươi thắm, luôn phấp phới bay giữa bầu trời cực Bắc. Nghe kể từ năm 1978 lá cờ 54 m2 đã được kéo lên ở mảnh đất thiêng này.

Không có thông số chính xác về áp lực gió tại độ cao 1700, mỗi cm2 hay mỗi m2 cờ phải chịu áp lực lên là bao nhiêu tạ bao nhiêu tấn. Nhưng nghe chuyện anh em biên phòng kể lại. Nhiều nhất những kỳ lặng gió được đến 4 tuần thì phải thay cờ. Đứng dưới chân núi dùng óng nhòm, loại đặc chủn để xăm xoi xem có vết rách nào cũng là một cách. Nhưng nghe anh em nói lại kiểu ấy không chính xác. Vì nếp cờ luôn sao động, luôn uốn lượn hoặc có thời khắc có lúc cờ không reo thì khó mà biết gió đánh toạc ở vị trí nào. Vì thế mà phải thay nhau gò người lên độ cao 1700m kiểm tra. Đứng dưới chân tháp cờ dùng mắt thường mà dõi từng cm2 cờ.

Những lá cờ tổ quốc ở cột cờ Lũng cú sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã phai màu vì nắng mưa, bị rách vì gió xé sẽ được giành tặng lại cho những đoàn khách đặc biệt nơi đây. Và được mang về kỷ vât là cờ tổ quốc đã từng tung bay trên cột cờ Lũng Cú địa đầu cực bắc đất nước. Quả là không thể có gì thiêng liêng hơn.

Đứng bên cột cờ tổ quốc nơi cực bắc, không gian đá núi mơ màng, để cho gió biên giới thổi căng lồng ngực. Bất giác nghe tiếng trống ngực rộng ràng như tiếng trống hào hùng của cha ông xưa. Cho con biển rộng sông dài, cho con lưỡi kiếm đá mài nghìn nằm. Đất nước của những ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể, bỗng hiện hữu âm ỷ tuôn chảy trong từng thớ thịt, mạch máu.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *