Loading

wait a moment

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

(Chùa Thiên Mụ) Gió đưa cành trúc la đà / tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Câu hát dân gian quen thuộc được truyền đến tận ngày nay như thách thức tạo hóa nét đẹp và sự trường tồn của ngôi cổ tự mà vua Thiệu Trị đã liệt vào 20 cảnh đẹp của đất nước thời ấy, mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Ý nghĩa của tên gọi chùa Thiên Mụ

Vì sao có tên Thiên Mụ Tự. Theo sách Tô Châu Cận Lục của Dương Văn An viết năm 1523 có nhắc đến chùa Thiên Mụ với địa thế và lịch sử. Sách Đại Nam Nhất Thống chí nói rõ hơn. Khi chúa Nguyễn Hoàng vào chốn thuận hóa, trong một lần ngao du sơn thủy thấy cảnh chùa thanh tịnh hữu tình. Lại được nghe về truyền thuyết. Có một bà lão xuất hiện hằng đêm với câu nói được lặp đi lặp lại như sấm truyền: rồi đây sẽ có bậc thiên chúa đến dựng chùa để tụ long khí cho bền long mạch. Chúa liền cho dựng chùa và đặt tên Thiên Mụ Tự – Chùa Thiên Mụ. Nghĩa là chùa Bà Trời đó là vào năm 1601.

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ
Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Vị trí

Ngày nay chùa Thiên Mụ tọa lạc trên ngọn đồi Hà Khê thuộc xã Hưng Long cách trung tâm thành phố Huế 7km. Trước mặt chùa là dòng Hương Giang .Nước trong xanh uốn lượn. Xa xa ẩn hiện dãy Trường Sơn. Sau lưng chùa có hồ nước và dãy đồi thấp che chắn. Địa thế nơi cổ tự đúng là sơn trường hữu tự, thanh tịnh mà nên thơ.

Khuôn viên ngôi chùa chiếm phần lớn diện tích ngọn đồi Hà Khê. Có hình chữ nhật rộng lớn. Được bao bọc bởi một bức tường thành bằng đá. Nếu nhìn từ xa, khuôn viên ngôi chùa có hình dáng như một con rùa khổng lồ cõng trên lưng ngôi chùa cổ kính, đang cúi đầu uống nước sông Hương. Với địa thế và dáng hình ấy từ khi bắt đầu xây dựng, những nhà kiến trúc cung đình đã chia khuôn viên chùa làm 2 khu vực. Khu vực phía trước mang dáng hình đầu rùa được xắp xếp theo kiến trúc mang tính kỷ niệm như bia đá, chuông đồng. Còn khu vực phía sau mang dáng hình thân rùa là các điện thờ, các nhà tăng. Hai khu vực trước và sau được ngăn cách bởi cánh cửa tam quan.

Tháp Phước Duyên - Chùa Thiên Mụ
Tháp Phước Duyên – Chùa Thiên Mụ

Tháp Phước Duyên

Điểm nổi bật nhất của chùa Thiên Mụ và khu vực phía trước là ngôi tháp 7 tầng cao 21m. Được xây dựng năm 1884 nhân kỷ niệm “bát thọ” – tức là thọ đến 80 tuổi của bà Thuận Thiên Cao hoàng hậu vợ vua Gia Long. Cùng với việc xây tháp vua Thiệu Trị điều khiển việc xây dựng tháp song song với việc xây dựng đình Hương Nguyện. Đồng thời cho dựng hai tấm bia ghi chép thơ văn của nhà vua ngay trước cổng chùa. Tháp Phước Duyên được xây dựng theo hình bát giác với gạch nung để mộc màu đỏ sẫm nổi bật trong nền cây xanh phủ đầy khuôn viên chùa. 8 mặt của ngôi tháp có tiết diện ngang vòng tròn. Với lối kiến trúc này mà trận bão lớn năm 1904 ngôi chùa bị tàn phá nặng nề, kéo đổ cả đình Hương Nguyện. Nhưng tháp Phước Duyên vẫn đứng vững trãi như thách thức bão tố và thời gian. Vào tháp chỉ có một lỗi cửa duy nhất có hình vòm. Chính diện trong mỗi tầng tháp đều có thờ riêng từng tượng phật.  Mỗi tầng tháp được thông với nhau bằng cầu thang xoáy từ dưới lên trên. Chỉ trừ có tầng thứ 6 và 7 là phải dùng cầu thang di động bằng gỗ và chiếc chìa khóa đặc biệt để mở tầng thứ 7. Bởi trên tầng này xưa kia có thờ tượng phật bằng vàng. Nhưng ngày nay không còn nữa. Ở mỗi tầng tháp đều có cửa sổ cuốn tròn, trang trí bằng các thanh đồng uốn dẹp, giúp ánh sáng lan tỏa trong lòng tháp.

Sông Hương nhìn từ Tháp Phước Duyên - Chùa Thiên Mụ
Sông Hương nhìn từ Tháp Phước Duyên – Chùa Thiên Mụ

Đứng trên tầng cao của tháp có thể phóng tầm mắt bao quát một khúc sông Hương. Làn sóng ven sông và dãy Trường Sơn ẩn hiện xa xa. Năm 1899, nhân dịp lễ mừng thọ 90 tuổi của bà Từ Dũ – vợ vua Thiệu Trị, vua Thành Thái cho tu bổ tháp Phước Duyên và cho dựng bia kỷ niệm tại chân tháp. Hai nhà bia tả hữu trước tháp được vua Thiệu Trị cho dựng sau khi xây tháp 2 năm. Trên đó khắc những bài thơ kể lại việc xây tháp. Đồng thời nhà thơ còn làm bài thơ ca ngợi chùa Thiên Mụ. Mỗi bia cao 1,7m rộng 0,9m đặt trên sập đá cao 0,6m. Lối dựng bia ở chùa Thiên Mụ thống nhất với lối dựng bia ở các lăng vua. Hai bên tháp , ở bên tả có nhà bia, bên hữu có lầu chuông được xây dựng trong lần trùng tu chùa lớn nhất năm 1691. Cảnh chùa được  trang hoàng cực kỳ lộng lẫy. Xong việc nhà vua tự làm bài phú khắc vào bia. Tấm bia cao 1,6m rộng 1,2m, đặt trên mình rùa dài 2,2m. Tất cả được đặt trên sập cao và chắc chắn.Trong lầu chuông treo quả đại Hồng chung đúc năm 1710. Cũng là quả chuông độc nhất với nhiều đường nét trạm trổ độc đáo. Chuông cao 2,35m, đường kính miệng chuông 1,4m, nặng 2385 kg. Phía sau tháp Phước Duyên và cửa tam quan có tấm bia của vua Khải Định dựng năm 1923 để kỉ niệm một lần đến viếng cảnh chùa.

Trước đền Tam quan có treo biến Linh Mụ Tự. Vì sao lại có tên Thiên Mụ tự? Được biết dưới thời Tự Đức do có nhiều sự cố trong việc trị nước và nội cung. Nhà vua có lẽ chữ thiên đã động đến trời cho nên Thiên Mụ đổi thành Linh Mụ vào khoảng năm 1862 – 1869. Dưới chân tam quan có 3 đôi tượng hộ pháp trấn giữu hai bên của 3 cửa ra vào. Các tượng hộ pháp này đều bằng đất, dáng dữ tợn cao lớn như người thật. Phía trên đến tam quan, bên hữu là lầu trống, bên tả là lầu chuông. Đây là quả chuông nhỏ năm 1815 vua Gia Long cho sửa chùa rồi cho đúc quả chuông này. Ngày nay quả chuông được chùa Thiên Mụ đánh lên vào thời khắc nhất định trong ngày. Còn đại hồng chung là lầu chuông kỷ niệm.

Phía sau cổng tam quan có hai hành lang tả, hữu. Mỗi bên có 3 tượng kim cương ngồi trên các muông thú. Các tượng này được làm từ hồi đầu thế kỷ 20. Từ của tham quan bước vào chính điện đi theo con đường rộng với hai hàng thông xanh cao vút làm tăng vẻ uy nghi cho ngôi bái đường.

Điện Đại Hùng - Chùa Thên Mụ
Điện Đại Hùng – Chùa Thên Mụ

Điện Đại Hùng

Điện Đại Hùng là ngôi điện chính của chùa. Một công trình kiến trúc to, rộng, bề thế nhất dưới triều Nguyễn. Trong lần trùng tu năm 1957, Ngoại trừ hệ thống hương và đòn, các hệ thống cột, bệ đều được bê tông hóa và phủ bên ngoài một lớp sơn giả gỗ. Trước bái đường là pho tượng Di Lặc cao 0,9m bằng đồng thau. Áo choàng của tượng có nhiều nếp gấp được sơn đen làm nổi bật phần da thịt vàng bóng. Điểm trên nét mặt vuông chữ điền là nụ cười phúc hậu. Tượng di Lặc có niên đại muộn vào thế kỷ 20. Bên trên cửa chính điện có treo một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thiếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Nguyên ngự đề năm 1714. Trong một lần di dời để trùng tu, bức tranh kình bị vỡ chỉ còn lại bài thơ của chúa. Ngày nay người ta thay vào đó là bằng công nhận di tích văn hóa.

Tượng Phật Di Lặc trong chùa Thiên Mụ
Tượng Phật Di Lặc trong chùa Thiên Mụ

Tượng Phật Di Lặc

Trong chính điện các pho tượng phật được làm bằng đồng thau. Qua những hoa văn nét chạm thì những tượng phật này được đúc khoảng đầu thế kỷ này. Ngoài ra ở chùa còn có các tượng được làm bằng đồng khác như tượng quan âm, nhiều tượng phật bằng gỗ khác. Trong chính điện ngoài các tượng phật còn có một khánh đồng  khắc hình nhật nguyệt tinh túy. Trên mặt khánh có khắc dòng chữ cho biết, khánh này do một vị quan người Quảng Trị là Trần Đình Ân cho đúc năm 1677 để cúng chùa.

Chùa Thiên Mụ là một ngôi chùa lớn nhưng tượng phật hầu hết đều có niên đại muộn. Chỉ có khánh đồng , chuông đồng và bia đá lớn có niên đại sớm. Chùa Thiên Mụ ngôi chùa cổ kính và uy nghi còn được bao bọc bởi thảm xanh thiên nhiên được bố trí một cách tinh tế và hài hòa làm thêm vẻ thanh tịnh mà trang nghiêm phù hợp với cuộc sống nhập thân vào phật pháp. Còn với người đời, nét trầm mặc của ngôi chùa như làm vơi đi những cái xấu của cuộc đời, gột rửa những toan tính thiệt hơn trong cuộc sống hối hả, đua tranh thường ngày.

Chùa Thiên Mụ ngôi cổ tự của đất cố đô. Được các vua Nguyễn dựng xây, chăm chút, trùng tu và mở rộng. Vào thời cực thịnh chùa Thiên Mụ là một danh lam, một ngôi quốc tự của đất kinh kỳ.  Trải qua nhiều biến động của lịch sử , chiến tranh. Đã vậy thiên tai luôn hoành hành sứ sở đẹp đẽ, thơ mộng này. Nhưng chùa Thiên Mụ, kiến trúc hoa văn, nét chạm do bàn tay vàng của những người thợ thủ công Việt Nam để lại cho đời vẫn còn mãi sự uy nghi. Trở thành biểu tượng của sứ Huế ngày nay.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *