Chùa Diệu Đức

Chùa Diệu Đức

Chùa Diệu Đức dựng trên lưng chừng dốc một quả đồi thuộc địa phận xã Thủy Xuân ngày trước, phường Trường An ngày nay. Mặt chùa hướng đông-bắc, phía trước là đồi Vạn Phước, có các chùa Thiền Lâm, Vạn Phước, Tịnh Độ; phía sau có các chùa Kim Tiên, Từ Quang, Tường Vân; tiếp giáp khuôn viên chùa về phía bên phải là chùa Hương Sơn, Kiều Đàm; bên trái chùa là nhà cửa, cư dân thôn Bình An.

Chùa Diệu Đức xây dựng do một ban sáng lập gồm sư bà Diệu Hương, Diệu Không, bà Công Tôn Nữ Thi Bàn, Tôn Nhơn Ưng Bàn, Ưng Uy, Tôn Thất Tùng cùng sự đóng góp công sức, tài vật của thập phương thiện tín vào khoảng năm 1932.

Chùa Diệu Đức
Chùa Diệu Đức

Buổi đầu, các bà sáng lập xây tạm hai nhà lợp tranh làm nhà ở, dựng rạp làm nhà giang, năm 1936 mới bắt đầu xây chính điện và đúc chuông tượng. Nhà hậu được xây dựng lại vào năm 1948 và dần dần chùa được trùng tu, xây dựng quy mô, hoàn chỉnh như ngày nay.

Phía trong chính điện, án thờ trên cao lùi về sau tôn trí tượng Đức Thế Tôn và Tam Thế. Án thấp về phía trước thờ Đức Phật Dược sư và tiếp theo sau là các tượng Bồ Tát, Địa Tạng, Quan Âm Thế Chí. Bên trên chính điện có bức hoành đề ba chữ Diệu Đức Tự sơn son, thếp vàng có hoa văn chạm nổi long, lân, quy phụng. Mặt sau chính điện thờ sư cụ Diệu Hương – người khai sơn chùa – án bên phải thờ các vị chư Ni, án bên trái thờ hương linh tứ chúng bổn đạo chùa Diệu Đức. Nối liền chính điện có rạp trống rồi đến nhà hậu bên trái là nhà giảng, bên phải là nhà phương trượng của Hòa thượng trụ trì. Hai bên nhà hậu xây hai dãy nhà làm nơi lưu trú của Ni chúng.

Xem thêm:

Chùa Trà Am – Tìm hiểu lịch sử xây dựng chùa

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Chùa Thuyền Tôn – Nơi ghi dấu nhiều dấn ấn lịch sử

Chùa Trúc Lâm ( Huế) – Nơi ghi dấu ấn lịch sử đặc sắc thời Tây Sơn

Khi mới lập chùa, bà Mị Tân, pháp danh Thượng Trừng Hạ Ninh, tự Diệu Hương lúc đó đang dạy kinh luận ở chùa Diệu Viên được mời làm Khai sơn kiêm Giám viện Ni trường Diệu Đức. Bà Mị Tân là ái phi của vua Thành Thái bị lưu đày, bà bỏ đi tu cùng bà Minh phi. Năm 1953, Pháp cho cựu Hoàng về Huế một thời gian để thăm lăng mộ tiền nhân. Được tin, hai bà sợ quá vội mặc áo đỏ, quần lục, đội mũ đỏ và nhờ sư bà Diệu Không cùng về tiếp kiến cựu Hoàng! Sau khi giới thiệu thân thế, sư bà Diệu Không nói:

Con sợ hai bà buồn nên mới lập chùa Sư Nữ để hai bà tu học cho khuây khỏa mà chưa được phép cựu Hoàng nên hôm nay con về đây xin sám hối.

Cựu Hoàng vừa cười vừa trả lời:

Đi tu thì tốt chứ sao, còn hơn đi làm me Tây.

Ngừng một lát, nhà vua nói tiếp:

Đi tu, thế đã cạo tóc chưa?

Sư bà thưa:

Dạ rồi.

Lúc đó hai bà mới dám cởi mũ và nói chuyện cởi mở với cựu Hoàng.

Diệu Đức được xem là Phật học Ni viện đầu tiên của  Nam Kể từ ngày thành lập, Ni trưởng đã đào tạo

hàng trăm vị nữ tu sĩ khắp ba miền. Phần lớn các vị trụ trì các chùa Sư Nữ ở Việt Nam đều xuất thân từ Diệu Đức.

Diệu Đức là chữ lấy từ tên của một vị Bồ tát – Đức Văn Thù. Đức Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ nên tên của ngài được lấy để đặt cho Ni trường Phật học này. Hai chữ Diệu Đức do Hòa thượng Phước Huệ trụ trì chùa Thập Pháp Di Đà ở Bình Định ra giảng dạy ở Đại học đường Tây Thiên đặt cho. Khi thấy Sư bà Diệu Không lập Ni trường, hòa thượng dạỵ: “Diệu Không chưa đủ, muốn lập trường phải có Diệu Đức (Diệu Trí và Hạnh Đức), Diệu Không mới chỉ là tư lợi, Diệu Đức mới là lợi tha…”

Nhận hai chữ Diệu Đức, sư bà Diệu Không suy ngẫm, trăn trở mãi trước sứ mệnh quá lớn lao mà làm ra bốn câu:

Diệu mà không Đức, diệu không tu Đức mới dung hòa trí lẫn ngu Nhẫn nhục đứng đầu muôn hạnh Đức Hòa đồng vạn pháp mới không mù.

Trải qua trên nửa thế kỷ làm Phật sự, từ một Ni cô thông minh, hoạt bát nay đã lên chức vị Sư bà (Hòa thượng Ni), Sư bà Diệu Không vẫn nghĩ rằng: “Suốt sáu mươi năm nay, chỉ tu có hai chữ Diệu Đức”.

Từ năm 1971 sau khi Sư bà Diệu Hương viên tịch, Sư bà Thể Yến, một trong những nữ tu đầu tiên của Diệu Đức rồi Sư bà Diệu Trí nối tiếp chức vụ Trụ trì kiêm Giám viện Ni trường Diệu Đức.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *