Hương vị món ăn xứ Huế

Từ muôn đời nay trong cuộc sống hàng ngày, chuyện ẩm thực quả chiếm nhiều thời gian. Người ta ưa thích ăn ngon hoàn toàn không chỉ vì đói mà còn vì những niềm vui tinh thần nữa. Đối với người Huế, chuyện ăn uống được coi là một nghệ thuật và là một lạc thú ở đời.

Huế đã từng có mấy thế kỷ là trung tâm của Đàng Trong thời chúa Nguyễn, đến thế kỷ XIX là đất kinh kỳ phồn hoa đô hội, với non một thế kỷ rưỡi làm Kinh đô nước Việt, nơi quy tụ của một triều đình với biết bao quan lại, nho sĩ. Vì thế, ngoài chốn vương triều còn có cả tầng lớp quý tộc và thượng lưu, trí thức, đa số các tao nhân mặc khách đều tụ họp về đây. Điều đó đòi hỏi người Huế không chỉ giỏi chế biến các món ăn bình dân mà còn làm được những món ăn cực kỳ tinh tế chỉ dùng trong chốn vương phủ. Ngày nay tuy không còn giữ vai trò của một trung tâm kinh tế – chính trị lớn hàng đầu đất nước, nhưng Huế vẫn là nơi duy trì những bóng dáng xưa cũ của một triều đại với tất cả lối sống của một thời vàng son. Và dĩ nhiên, trong những đặc trưng văn hóa lâu đời của Huế, vốn văn hóa về ăn uống góp một phần không nhỏ trong việc hình thành nét văn hóa và phong cách con người xứ Huế.

Huế là một vùng đất được khai phá muộn, phần đông là dân tứ xứ theo chúa Nguyễn vào nam lập nghiệp. Vì thế món ăn cũng phong phú, hội tụ được tinh hoa của các nơi khác, biến thành món ăn riêng mang bản sắc độc đáo địa phương.

Món ăn Huế vừa có sang trọng, cao lương mỹ vị, vừa có món mộc mạc nhưng do khéo tay, biết chế biến, biết cách thức nêm nấu nên vẫn trở thành món ăn thi vị.

Hương vị món ăn xứ Huế - món quý tộc triều nguyễn
Hương vị món ăn xứ Huế – món quý tộc triều nguyễn

Các món ăn quý tộc được triều Nguyễn cho phép hẳn hoi trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ quy định cho từng loại tiệc: tiệc tiếp sứ bộ với ba loại cổ: loại một có một mâm gồm 50 món, loại hai có 7 mâm gồm 40 món, loại 3 có 25 mâm gồm 30 món… Những món đó được bày trong 1080 bát, dĩa quý chỉ dùng trong chốn vương phủ.

Xem thêm: Tản mạn về Vườn cây xứ Huế – Bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên

Ngày nay dù không còn phải lặn lội đi tìm những đặc sản quý để nấu những món ăn “Ngự thiện” phục vụ cho vua chúa nữa, những nem công, chả phượng, da tây ngu, bàn tay gấu, gan nai, môi đười ươi, thịt chân voi… nhưng với những loại đặc sản có bốn mùa của địa phương, người nội trợ vẫn có thể nấu tới 300 món ăn vừa dân dã lại vừa sang trọng.

Hương vị món ăn xứ Huế - Cơm hến
Hương vị món ăn xứ Huế – Cơm hến

Món ăn dân dã và khó quên nhất là cơm hến. Đó là một món ăn giản dị, đượm đầy hương vị đồng quê được làm từ một sản vật nằm trong lòng con sông thi vị của xứ Huế. Cơm hến ngon nhờ tài pha chế một tổ hợp nhiều thành phần các loại gia vị : rau thơm, bắp chuối, cọng bạc hà thái nhỏ, tương ớt, mắm, muối, mè, đậu phụng giã mịn, nước mắm tỏi, tóp mỡ và cơm trắng để nguội. Đặc biệt là sự góp mặc của ruốc sống, cơm hến ngon ngọt cũng chính nhờ vị ruốc này.

Món ăn Huế giản dị, phong phù, mang hương vị, mùi ngon đằm thắm của các sản phẩm nơi đồng ruộng, đầm phá, núi song xứ Cựu đô. Chỉ từ cây sả và muối, người nội trợ thêm vào một ít tôm thịt băm nhỏ cùng các gia vị khác như tỏi, đường, ruốc, tiêu qua bàn tay mềm mại và khéo léo của các bà, các cô nội trợ có thể thành món muối sả mà bạn được ăn với cơm vào mùa đông như xứ Bắc thì e rằng chẳng bao giờ quên được. Buổi cơm thường ở Huế nhiều khi chỉ đơn giản vài ba món, như cá bống thệ kho răm rau với nước dừa, một món canh rau tập tàng mà vườn nhà ai cũng có sẵn, với vài ba lá bông ngọt (lá rau ngót), lá mồng tơi, ngọn sần, búp hoa bí ngô, đọt cây bát ngát, ít măng vòi… sang một chút thì nấu với tôm thịt, còn không thì lấy cá long hội (loại cá nhỏ) rút xương, thêm chút nước mắm ngon, một tí ruốc, ít hồ tiêu phi thơm hành mỡ, xào qua là được bát canh rau tập tàng ngọt lịm. Bữa ăn nào của mọi gia đình ở Huế cũng đều có đĩa rau sống và một chén nước chấm phù hợp với món ăn. Có người cho rằng đĩa rau sống ở Huế là một vũ trụ thu nhỏ với lát cà chua đỏ xếp xung quanh tượng trưng cho mặt trời, những lát khế hình ngôi sao thay cho những vì tinh tứ, lát vả hình trăng khuyết màu tím phớt, lát chuối chát hình tròn điểm hạt tượng trưng cho mặt đất bao la, một chút rau thơm xanh và vài sợi rau muống, ớt tươi xoắn xít phía trên như những mảng mây xanh, mây hồng bồng bềnh trên nền trời cửa các màu xanh, đỏ, tím, vàng…

Ngoài các món ăn dân dã mà tinh tế ở ngoài dân gian, những món ăn ngon lúc đầu chỉ dành cho giới quý tộc trong các vương phủ, dần dần cũng theo chân người nội trợ ra phục vụ cho những gia đình khá giả trong các dip le, têt, cúng kỵ, hay thết đãi bạn bè. Mọi người có thể biết tới nem chua An Cựu, chả lụa Thanh Hân và nhiều món ăn ngon khác.

Thật là thiếu sót nếu nói nhiều về món ăn Huế mà không nhớ đến món ăn chay. Vì xưa nay ai cũng biết Huế đã từng có một thời gian dài, thời các chúa Nguyễn, Phật giáo trở thành quốc giáo. Cả một lớp quý tộc ăn chay nên các món ăn chay ở Huế rất phong phú (có khoảng 125 món). Các món ăn chay được làm cầu kỳ và ngon không kém món ăn mặn. Đối với các gia đình Phật tử ở Huế mà mời bạn bè ăn một bữa cơm chay, thì đó là một cách bày tỏ sự quý mến và trân trọng người bạn của mình lắm.

Cùng với các món ăn trong bữa cơm gia đình, Huế còn có những món ăn đặc sản như bún bò, giò heo, mà nổi tiếng nhất là bún Gia Hội, chợ Tuần. Lại còn hàng chục loại bánh mặn, ngọt mà ai đã một lần nếm thử, hẳn không quên được món quà đặc sắc chốn Cựu kinh. Đó là các loại bánh nổi tiếng gắn liền với các địa danh: bánh khoái Đông Ba, bánh bèo Ngự Bình, bánh canh Nam Phổ, bánh ướt thịt nướng Kim Long v.v…

Chè Huế cũng phong phú không kém gì các loại quà bánh. Có thể kể ra 36 loại chè khác nhau, đủ sức hấp dẫn trong buổi tối mùa hè nóng nực đi dạo mát hai bên bờ sông Hương: chè bột lọc bọc thịt quay, chè hạt sen bọc long nhãn, chè đậu ván, chè đậu xanh đánh, chè đậu ngự, chè đậu huyết v.v… món nào cũng đem tới cho ta sự thích thú đặc biệt. Hoa quả xứ Huế tập hợp được nhiều loại quả của cả ba miền, đặc biệt còn có những thứ là đặc sản địa phương như quýt Hương Cần, thanh trà Nguyệt Biều…

Kể sao cho hết hàng trăm món ngon xứ Huế, chỉ điểm qua vài nét đơn sơ trong cuộc sống thường nhật của người dân để thấy được hương vị một vùng thơ xứ Huế!

Tản mạn về Vườn cây xứ Huế – Bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên

Có lẽ, chỉ có Hàn Mặc Tử mới đủ ngôn từ để tạo nên một bức tranh tuyệt mỹ về mảnh vườn xứ Huế bằng một tứ thơ ngọt ngào, gợi tình mà chần xác đến vậy. Phải! Vườn Huế là ngọc, là thơ, là khoảng xanh diệu vợi mà người Huế tạo ra để cất giấu những kỳ ẩn của hồn mình. Ai đã từng vào Nam ra Bắc, khi ngang qua mảnh đất này đều chợt thấy lòng mình như dịu lại, tâm hồn như gợi mở đến một khoảng trời xa xăm đầy thơ và nhạc. Giữa hai vùng cát trắng, triền miên nắng gió Hòa Khánh, Cầu Hai, Phú Bài… ở phía nam và Ái Tử, Mỹ Chánh, Phong Điền… ở phía bắc, Huế hiện ra như một viên ngọc xanh khổng lồ, tươi mát, bình yên và sâu lắng. Chợt nghĩ, cách đây bốn trăm năm (năm 1601), tiên chúa Nguyễn Hoàng đã không nhầm khi quyết định dừng vó ngựa bên bờ Linh Giang (tức sông Hương ngày nay) để định vị cho xứ Đàng trong một thủ phủ về sau. Sự tốt tươi của thảo mộc, nét duyên dáng của núi sông và hào khí của “địa linh nhân kiệt” đã quyến rũ ông, lôi cuốn ông. Rồi mấy trăm năm qua, một miền đất mới được đánh thức, được tái sinh trên mảnh đất “Ô Châu ác địa” để trở thành một biểu tượng của thơ, của nhạc, của hoa và của tình người, với một tên gọi vô cùng thân quen – Xứ Huế.

Từ trên cao nhìn xuống, Huế như một ốc đảo xanh vĩ đại, dựa vào chân Trường Sơn, duỗi mình ra gối sóng bạc Đông Hải. Lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời là màu xanh mượt mà, đằm thắm phủ lên thành quách, cung điện, nhà cửa… soi mình trên bóng nước Hương Giang, cỏ cây hoa lá có mặt khắp nơi, làm tăng nét dịu dàng, quyến rũ của Huế, làm con người hòa nhập với thiên nhiên.

Tản mạn về Vườn cây xứ Huế
Tản mạn về Vườn cây xứ Huế

Vườn cây xứ Huế được biết đến không phải vì những vườn hoa muôn màu, muôn vẻ như những làng hoa Nghi Tàm, Ngọc Hà… ở Hà Nội. Vườn Huế giản dị lắm. Đó là chỗ dừng chân của gió và nắng, là tòa lâu đài của những loài chim, là bóng mát dành cho khách vãng lai, là hoa cỏ cho trẻ con lối xóm. Và sau cùng, đó là nơi trú ngụ của những tâm hồn xứ Huế, kín đáo, thanh tao và hồn hậu.

Vườn cây xứ Huế có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Huế. Phần lớn các gia đình, dù ở nội đô hay ngoại thành, cũng đều cố gắng tạo nên một mảnh vườn riêng nho nhỏ. Lớn thì trồng cây ăn trái, nhỏ thì trồng hoa, tỉa cỏ; không có đất thì tạo các vườn treo với những chậu cảnh, giỏ lan – những bonsai như vũ trụ thu nhỏ. Vườn Huế là khoảng không gian biệt lập để con người tìm đến trạng thái thư giãn tinh thần sau một ngày lao động vất vả, hay sau một đoạn đời lăn lộn, toan tính với công danh, hoạn lộ và công cuộc mưu sinh. Người ta tạo lập một mảnh vườn không chỉ nhằm thu hoa lợi, mà trước tiên để được đắm mình trong cái màu xanh thanh thản của lá, trong muôn sắc của hoa và tìm trong đó nỗi đam mê, hạnh phúc xen với lòng biết ơn. Người xưa cho hay, ở miệt vườn xứ Huế mỗi khi chủ vườn qua đời, con cái họ thường bịt khăn tang cho cây cối trong nhà như để chia nỗi đau buồn, tang tóc với cỏ cây, muôn vật. Người Huế coi cỏ cây như bạn bè, như người thân…

Vườn Huế còn là bản sao cốt cách, tấm gương phản chiếu tầm nghĩ, nếp sống, sự sáng tạo và tài năng của con người. Nhìn cách thiết trí, kiến tạo và tuyển chọn các loài thảo mộc, hoa trái của chủ vườn, ta có thể nắm bắt tính cách, ý tưởng, đánh giá được năng khiếu của họ. Người làm vườn gắn giá trị kinh tế và giá trị nghệ thuật vào với nhau. Bởi vậy, mảnh vườn Huế mới trở thành một tạo phẩm tuyệt vời và có hiệu quả.

Xem thêm :

Lăng Đồng Khánh ( Tư Lăng)

Lăng Minh Mạng – Ghé thăm lăng vua Minh Mạng đẹp nên thơ

Lăng Khải Định – Đặc sắc kiến trúc Lăng Khải Định

Có một thuật ngữ được khai sinh để chỉ mối liên quan giữa kiến trúc và mảnh vườn xứ Huế – thuật ngữ nhà vườn. Mọi kiến trúc ở Huế, từ nhà cửa trong dân gian, qua đình chùa trong kiến trúc tôn giáo, đến cung điện, lăng tẩm trong kiến trúc cung đình đều gắn bó với yếu tố vườn. Kiến trúc Huế được coi là mẫu mực của lối kiến trúc “cảnh vật hóa”. Những nghệ nhân xưa và nay coi vườn cây như yếu tố trung hòa giữa âm và dương, giữa cái luôn thay đổi và cái bất biến, giữa đất và trời, giữa tạo hóa với con người. Vườn cây là mảng màu xanh xoa dịu bớt cái rực rỡ của kiến trúc, là nét bút của tạo hóa có tác dụng uốn mềm những ấn tượng kiến trúc gai góc, sắc cạnh vạch ra trên nền trời. Vì những lẽ đó, vườn Huế đã trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống và tâm hồn của người dân Huế.

Sau bao dặm trường luồn lách giữa những cánh rừng già, trăn trở chuyển mình qua bao ghềnh thác, hai nguồn Tả trạch và Hữu Trạch gặp nhau ở một địa danh có tên gọi hết sức lạ lùng: Ngã ba Bằng Lãng, tạo thành con sông Hương thơ mộng dùng dằng theo dòng nước, tạo cho Huế hai thềm đất trù phú, tốt tươi xuôi dài tới biển cả. Vườn cây xứ Huế được nuôi nấng từ lớp phù sa đó. Dọc hai bờ sông Hương, biết bao thôn làng với những mảnh vườn nặng trĩu trái ngọt, ngan ngát hoa thơm. Đó là những khu vườn đầy mít, chè, thơm của làng Tuần; những thềm đất trắng muốt của hoa huệ, rợp đỏ dâm bụt và lấp lánh ánh màu vàng tươi của hoa đồng tiền… tên bãi đồi Nguyệt Biều… Chiếc du thuyền xinh xắn sẽ đưa khách xuôi dòng Hương, đến cầu Xước Dũ, rẽ vào sông Bạch Yến. Sau chừng mười phút quanh co, uốn lượn qua những bãi bồi xanh rì bắp, đậu, du khách sẽ cập bến chùa Huyền Không. Một thế giới riêng của hoa, quả và thiền. Chùa Huyền Không được biết đến không chỉ vì nó là một di tích tôn giáo. So với hàng trăm ngôi chùa khác ở Huế, Huyền Không ở vào một vị trí rất khiêm tốn. Một chính điện nhỏ để thờ Phật Tổ, một mẫu đất được tôn tộc Nguyễn Khoa dâng tặng làm vườn chùa. Chùa nhỏ nhưng lại nổi tiếng bởi mảnh vườn. Vườn chùa gồm năm khu vực. Vườn hồng có hàng trăm loài hồng ghép đủ tên gọi và chủng loại. Tiếp theo là vườn cây ăn quả. Rồi đến Thanh Tâm Viên, nơi có chiếc cầu tre nhỏ mang tên Giải Trần Kiều bắc qua Hàm Nguyệt Trì đưa du khách đến nghỉ mát ở Ý Thảo Đình. Bước vào đây, người ta thấy hồn mình trở nên nhẹ nhàng, thanh thản. Phía bên kia là Hứa Nhất Thiên với Hà Các có hơn 3000 đầu sách ngự giữa những chậu cảnh và những hòn non bộ. Song, nổi tiếng nhất trong những chùa, có lẽ chính là những giỏ phong lan ở Phương Thảo Địa. Ở đây có khoảng 200 loại lan quý bốn mùa nở hoa làm du khách phải ngẩn ngơ. Lan đẹp trong từng cánh hoa, phiến lá. Tất cả đều được gây tạo bởi mồ hôi, công sức và đam mê của các thiền sư nơi đây.

Có một vùng vốn được coi là biểu tượng rực rỡ nhất của nghệ thuật nhà vườn Huế. Đó là Kim Long. Những khu vườn ở làng Kim Long là hiện thân mẫu mực của vườn cây xứ Huế. Mảnh đất này là nơi họp mặt bao hoa thơm, trái ngọt từ Nam chí Bắc. Ở đây có cả măng cụt, chôm chôm… Nam Bộ; có cả hồng Lạng Sơn, vải thiều Hưng Yên, cả hoa mai, hoa đào… Mỗi gia đình đều có một khu vườn biệt lập. Vườn An Hiên nổi tiếng bởi sự đa dạng và tổng hợp của các loài hoa cỏ trên cả nước. Ta có thể gặp trong khu vườn này gốc hồng già Tiên Điền – do cụ nghè Mai, cháu nội đại thi hào Nguyễn Du tặng gia chủ; hoặc măng cụt Nam Bộ, nhãn lồng xứ Bắc. Vườn An Hiên hội đủ các loài hoa. Những loài hoa dân dã như lý, nhài, mẫu đơn… được trồng cạnh những loài hoa quý phái như tường vi, đồng tiền, phong lan… Đi dạo trong vườn đôi khi du khách bất chợt gặp những đóa hoa của rừng như sim, mua… khoe sắc cùng hải đường, trà my. Thấp thoáng trong tán lá và hoa trái là mái nhà rường cổ kính đang “thi gan cùng tuế nguyệt”. Phải chăng chỉ có lối kiến trúc nhà rường cổ với những bộ vì kèo chạm trổ công phu, những bờ nóc, bờ quyết chắp đồ án rồng mây là mô hình thích hợp nhất với mảnh vườn xứ Huế? Một mái ngói cổ kính, một lớp tường mờ rêu cùng với màu xanh của lá và muôn sắc của hoa trái là những yếu tố mà con người và thiên nhiên đã khắc họa nên trong bức tranh tuyệt mỹ của nghệ thuật nhà vườn xứ Huế…

Xuôi về Vỹ Dạ, mảnh vườn nơi đây như được sinh ra từ một phía khác. Vẫn còn đó sắc hoa thược dược tươi rói, những đóa cúc vàng rực trong hoàng hôn. Vẫn những vườn mít, đào, dừa… quả treo lúc lĩu như sẵn lòng “rơi vào vạt áo của người ngắm quả”. Song, chính hàng tre óng ả và những hàng cau xanh biếc mới là thi liệu để nhà thơ Hàn Mặc Tử viết nên bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ tuyệt tác của mình.

Cau thôn Vỹ đã đi vào thi ca, huyền thoại và cuộc sống thường nhật của người Huế; là sự mở đầu cho hạnh phúc lứa đôi; là nét trữ tình của bức tranh làng quê. Và hình như, hoa cau rơi vào vạt áo dài của cô bán chè rong đã gợi cho người Huế cách gọi tên một món chè rất được ưa chuộng: chè bông cau

Vườn Huế có mặt khắp nơi và vô cùng phong phú. Vườn hoa, vườn trái, vườn cỏ, vườn trên mặt đất, vườn trong không gian và trong đáy sâu hồn người. Vườn Huế là tác phẩm nghệ thuật là niền đam mê và sự khao khác hòa nhập với thiên nhiên của người xứ Huế! Vườn Huế mở ra trong tâm hồn mỗi một con người khoảng không bình yên, khoáng đãng, một sự thư thái để quên lãng những xô bồ khắc nghiệt của đời thường. Đó là những giai điệu xanh trong bản giao hưởng mà thiên nhiên và con người đã chung sức tạo nền.

Chùa Diệu Đức

Chùa Diệu Đức dựng trên lưng chừng dốc một quả đồi thuộc địa phận xã Thủy Xuân ngày trước, phường Trường An ngày nay. Mặt chùa hướng đông-bắc, phía trước là đồi Vạn Phước, có các chùa Thiền Lâm, Vạn Phước, Tịnh Độ; phía sau có các chùa Kim Tiên, Từ Quang, Tường Vân; tiếp giáp khuôn viên chùa về phía bên phải là chùa Hương Sơn, Kiều Đàm; bên trái chùa là nhà cửa, cư dân thôn Bình An.

Chùa Diệu Đức xây dựng do một ban sáng lập gồm sư bà Diệu Hương, Diệu Không, bà Công Tôn Nữ Thi Bàn, Tôn Nhơn Ưng Bàn, Ưng Uy, Tôn Thất Tùng cùng sự đóng góp công sức, tài vật của thập phương thiện tín vào khoảng năm 1932.

Chùa Diệu Đức
Chùa Diệu Đức

Buổi đầu, các bà sáng lập xây tạm hai nhà lợp tranh làm nhà ở, dựng rạp làm nhà giang, năm 1936 mới bắt đầu xây chính điện và đúc chuông tượng. Nhà hậu được xây dựng lại vào năm 1948 và dần dần chùa được trùng tu, xây dựng quy mô, hoàn chỉnh như ngày nay.

Phía trong chính điện, án thờ trên cao lùi về sau tôn trí tượng Đức Thế Tôn và Tam Thế. Án thấp về phía trước thờ Đức Phật Dược sư và tiếp theo sau là các tượng Bồ Tát, Địa Tạng, Quan Âm Thế Chí. Bên trên chính điện có bức hoành đề ba chữ Diệu Đức Tự sơn son, thếp vàng có hoa văn chạm nổi long, lân, quy phụng. Mặt sau chính điện thờ sư cụ Diệu Hương – người khai sơn chùa – án bên phải thờ các vị chư Ni, án bên trái thờ hương linh tứ chúng bổn đạo chùa Diệu Đức. Nối liền chính điện có rạp trống rồi đến nhà hậu bên trái là nhà giảng, bên phải là nhà phương trượng của Hòa thượng trụ trì. Hai bên nhà hậu xây hai dãy nhà làm nơi lưu trú của Ni chúng.

Xem thêm:

Chùa Trà Am – Tìm hiểu lịch sử xây dựng chùa

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Chùa Thuyền Tôn – Nơi ghi dấu nhiều dấn ấn lịch sử

Chùa Trúc Lâm ( Huế) – Nơi ghi dấu ấn lịch sử đặc sắc thời Tây Sơn

Khi mới lập chùa, bà Mị Tân, pháp danh Thượng Trừng Hạ Ninh, tự Diệu Hương lúc đó đang dạy kinh luận ở chùa Diệu Viên được mời làm Khai sơn kiêm Giám viện Ni trường Diệu Đức. Bà Mị Tân là ái phi của vua Thành Thái bị lưu đày, bà bỏ đi tu cùng bà Minh phi. Năm 1953, Pháp cho cựu Hoàng về Huế một thời gian để thăm lăng mộ tiền nhân. Được tin, hai bà sợ quá vội mặc áo đỏ, quần lục, đội mũ đỏ và nhờ sư bà Diệu Không cùng về tiếp kiến cựu Hoàng! Sau khi giới thiệu thân thế, sư bà Diệu Không nói:

Con sợ hai bà buồn nên mới lập chùa Sư Nữ để hai bà tu học cho khuây khỏa mà chưa được phép cựu Hoàng nên hôm nay con về đây xin sám hối.

Cựu Hoàng vừa cười vừa trả lời:

Đi tu thì tốt chứ sao, còn hơn đi làm me Tây.

Ngừng một lát, nhà vua nói tiếp:

Đi tu, thế đã cạo tóc chưa?

Sư bà thưa:

Dạ rồi.

Lúc đó hai bà mới dám cởi mũ và nói chuyện cởi mở với cựu Hoàng.

Diệu Đức được xem là Phật học Ni viện đầu tiên của  Nam Kể từ ngày thành lập, Ni trưởng đã đào tạo

hàng trăm vị nữ tu sĩ khắp ba miền. Phần lớn các vị trụ trì các chùa Sư Nữ ở Việt Nam đều xuất thân từ Diệu Đức.

Diệu Đức là chữ lấy từ tên của một vị Bồ tát – Đức Văn Thù. Đức Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ nên tên của ngài được lấy để đặt cho Ni trường Phật học này. Hai chữ Diệu Đức do Hòa thượng Phước Huệ trụ trì chùa Thập Pháp Di Đà ở Bình Định ra giảng dạy ở Đại học đường Tây Thiên đặt cho. Khi thấy Sư bà Diệu Không lập Ni trường, hòa thượng dạỵ: “Diệu Không chưa đủ, muốn lập trường phải có Diệu Đức (Diệu Trí và Hạnh Đức), Diệu Không mới chỉ là tư lợi, Diệu Đức mới là lợi tha…”

Nhận hai chữ Diệu Đức, sư bà Diệu Không suy ngẫm, trăn trở mãi trước sứ mệnh quá lớn lao mà làm ra bốn câu:

Diệu mà không Đức, diệu không tu Đức mới dung hòa trí lẫn ngu Nhẫn nhục đứng đầu muôn hạnh Đức Hòa đồng vạn pháp mới không mù.

Trải qua trên nửa thế kỷ làm Phật sự, từ một Ni cô thông minh, hoạt bát nay đã lên chức vị Sư bà (Hòa thượng Ni), Sư bà Diệu Không vẫn nghĩ rằng: “Suốt sáu mươi năm nay, chỉ tu có hai chữ Diệu Đức”.

Từ năm 1971 sau khi Sư bà Diệu Hương viên tịch, Sư bà Thể Yến, một trong những nữ tu đầu tiên của Diệu Đức rồi Sư bà Diệu Trí nối tiếp chức vụ Trụ trì kiêm Giám viện Ni trường Diệu Đức.

Chùa Trà Am

Từ trước tới nay, nói đến chùa Trà Am người ta thường nhắc đến tên tuổi và sự nghiệp của vị Đại sư khai sáng Viên Thành. Ngài Viên Thành tên thật là Công Tôn Hoài Trấp, cháu nội của Định Viễn Quận Vương (con trai thứ sáu của vua Gia Long), sinh năm Kỷ Mão (1879). Năm 15 tuổi (1895), Công tử Hoài Trấp xuất gia tại chùa Ba La Mật do Đại sư Viên Giác trụ trì. Năm Thành Thái 12 (1900), Đại sư viên tịch, sư Viên Thành kế vị trụ trì, lấy pháp hiệu là Trừng Thông. Năm Thành Thái thứ 13, sau khi xuất gia được sáu năm, sư Viên Thành vào Phú Yên (quê hương của Hòa thượng Liễu Quán) dự giới đàn và đậu thủ Sa di loại xuất sắc.

Chùa Trà Am
Chùa Trà Am

Năm Khải Định thứ 9 (1923), ngài giao chùa Ba La Mật lại cho các thuộc đệ tôn tộc Nguyễn Khoa, lên núi Ngũ Phong (thuộc thôn Tứ Tây, xã Thủy An ngày nay) lập một thảo am bên cạnh tháp Viên Giác Đaị sư để hạnh khổ tu trí và đêm ngày hương khói, hầu mong gần gũi mộ tháp sư phụ yêu quý.

 

Ban đầu chùa lợp tranh, phên tre giản dị, nhưng bài trí bên trong trang nhã, đầy thi vị. Đặc biệt là cách sắp xếp quanh chùa: nhà sư tự mình kiếm từng hòn đá, tự tay xếp đặt bên dòng khe, dưới gốc mai, cạnh khóm trúc thành những cụm giả sơn lạ mắt. Trước mặt chùa có dòng khe chảy ngang, tên là Tẩy Bát Lưu, một chiếc cầu tre nhỏ bắc qua gọi là Lược Ước Kiều, bên cầu có bến nước Tẩy Bát Thủy. Những danh từ nên thơ này được khắc lên các phiến đá dựng ở nơi thích hợp .

Xem thêm:

Chùa Từ Hiếu – Tìm hiểu về lịch sử, kiến trúc đặc sắc của chùa

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Chùa Thuyền Tôn – Nơi ghi dấu nhiều dấn ấn lịch sử

Chùa Trúc Lâm ( Huế) – Nơi ghi dấu ấn lịch sử đặc sắc thời Tây Sơn

Chùa Trà Am tọa lạc trên một vùng đất bằng phẳng, yên tĩnh, giữa những rặng thông khóm trúc xanh ngát, có khe nước uốn khúc, róc rách quanh năm. Phía nam chùa là núi Thiên Thai, phía đông là núi Ngũ Phong, phía bắc là án Ngự Bình. Phong cảnh chùa thật thanh tịnh, nên thơ, thích hợp với nếp sống tinh thần của nhà tu hành và tâm hồn thi sĩ vốn yêu mến thiên nhiên của sư Viên Thành. Chưa đầy sáu năm vừa tu hành, vừa xây dựng chùa, sống chan hòa giữa mây, núi, cỏ, hoa, sư Viên Thành đã để lại nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là tập thơ Lược ước tùng sao.

Chùa Trà Am là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp gắn với một công trình nhân tạo tuyệt vời. “Trà am là một biểu tượng giang sơn cách biệt ngoài cuộc tục lụy, và chủ nhân Trà Am là một bậc thanh cao, không phải là người nữa mà chính là bậc đã liễu ngộ thiền lý, sống ngoài’danh sắc thế gian…” (Trà Am ký – Mai Tu, 1926).

Năm 1928, sư Viên Thành qua đời, đệ tử của nhà sư là sư Trí Hiển lúc đó đang trụ trì chùa Ba La Mật, theo di chúc, lên trụ trì Trà Am và trùng tu lại chùa vào năm 1937. Năm 1940 sư Trí Hiển mất, giao quyền trụ trì Trà Am cho đệ tử là Thích Như Ý.

Đến năm 1960-1961, sư Như Ý lại trùng tu Trà Am thành một ngôi chùa uy nghi, rộng rãi dựa theo nghệ thuật kiến trúc Nam Á châu (kiểu tháp chùa xuôi mái).

Chùa Trúc Lâm ( Huế)

Từ con đường nhựa lên lăng Khải Định, qua khỏi cầu Lim, rẽ về bên trái men theo chân đồi Dương Xuân (xã Thủy Xuân) khoảng 1 km, du khách sẽ thấy chùa Trúc Lâm ẩn mình giữa những rặng thông và sến xanh tốt. Chùa cách trung tâm thành phố 6km về phía nam.

Mặt chùa hướng đông-nam. Dưới chân đồi trước cổng chùa ngày trước có khe nước chảy, nay cải tạo thành hồ nhỏ, hè về sen mọc đầy, kết nụ, đâm hoa, đưa hương thơm ngát.

Chùa Trúc Lâm ( Huế)
Chùa Trúc Lâm ( Huế)

Chùa lập năm Thành Thái thứ 15 (1903) và trùng tu vào năm Bảo Đại thứ 6 (1931) chùa xây kiểu chữ khẩu. Chính điện mặt tiền thờ Phật. Mặt hậu thờ Tổ, phía sau nhà Thiền, bên phải nhà Chung, bên trái nhà Khách, ở giữa là sân nhỏ có non bộ phong lan cùng nhiều loại cây cảnh.

Chùa Trúc Lâm không phải là ngôi chùa vào loại cổ nhất Huế nhưng lại là một ngôi Tổ đình danh tiếng. Tại đây năm 1931, An Nam Phật Học Hội ra đời, có thể xem đây là cơ sở Đại học Phật giáo đầu tiên ở Huế. Nhiều vị cao tăng có tên tuổi trong giáo hội xuất thân từ Trúc hư- Hòa thượng Thích Mật Thể – giảng sư đầu tiên cảa An Nam Phật Học Hội, Hòa thượng Thích Mật Nguyện – chánh đại diện miền Vạn Hạnh, Hòa thượng Thích Mật Thể – đại biểu quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945).

Xem thêm:

Chùa Từ Hiếu – Tìm hiểu về lịch sử, kiến trúc đặc sắc của chùa

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Chùa Thuyền Tôn – Nơi ghi dấu nhiều dấn ấn lịch sử

Tại chùa Trúc Lâm, nhiều hiện vật quý còn được lưu giữ trong đó có bình bát của Hòa thượng Thạch Liêm, y bát của Hòa thượng Nhất Định, bộ lư hương cổ bằng sứ trắng hai tầng chạm trổ hình rồng và chữ Thọ có từ thời Lê Triều Long Hưng (chữ khắc nổi ở mặt lư) do Thượng thư Nam Triều Hồ Đắc Trung đem từ Thanh Hóa vào cúng… Đặc biệt, chùa còn giữ được bản kinh Kim Cang bằng chữ Hán tạo ra từ thời Tây Sơn, thêu bằng chỉ thêu ngũ sắc trên nền gấm được bớt một lớp nhiễu điều cùng cỡ. Trải bộ kinh ra trông như một bức tranh cuốn có chiều dài 4,47m, chiều rộng 0,234m.

Bộ lãnh gần 5000 chữ, ngoài ra phần trước có hai bài tựa, một bài người ta dự đoán của vua Quang Trung (248 chữ), một bài viết dưới danh nghĩa vua Quang Toản (905 chữ), phần cuối có một bài bạt (329 chữ). Bản kinh thêu gần 7000 chữ này do sư bà Diệu Tâm trụ trì chùa Thầy (Hà Sơn Bình) đứng ra quyên góp chỉ, gấm và tự tay thực hiện trong nhiều năm trời. Bản kinh thêu để trong một cái hộp bằng gỗ trầm hương dài 29cm, rộng 10cm, cao 7,7cm. Bản thân hộp gỗ đã là một tác phẩm nghệ thuật quý giá, bên ngoài khắc chạm hoa văn, ở từng mặt có vẽ nhà cửa, cây cối con người, với nét chạm trổ điêu luyện, tinh vi.

Khi nhà Nguyễn dành được ngai vàng, các công trình văn hóa, kiến trúc cũng như mọi dấu ấn của triều Tây Sơn để lại đều bị triệt hạ, bản kinh thêu cũng bị tịch thu đem về Huế. May thay, vua quan nhà Nguyễn đều sùng kính đạo Phật, hơn nữa bản thân bộ kinh rất quý giá, nên triều đình đã không nỡ thủ tiêu mà đưa vào thờ ở am Phước Thọ (ngôi chùa dành cho các bà Hoàng Thái Hậu ở trong cung Diên Thọ). Cuối thời Khải Định, bản kinh này bị thất lạc. Năm 1935, sau một thời gian dài tìm tòi rất công phu, sư bà Diệu Không đã tìm ra tại nhà một viên Đội và chịu mua lại với giá 250 đồng (tương đương với 7 lượng vàng vào thời điểm đó). Sau đó bản kinh Kim Cang được thỉnh về tôn trí tại chùa Tây Thiên trong 10 năm. Năm 1945, do tình hình di tản phức tạp, pháp bảo này được thỉnh về ở chùa Trúc Lâm và được Hòa thượng Mật Hiển bảo quản cẩn thận cho đến ngày nay.

Qua nội dung bản kinh thêu này, người đời sau có điều kiện thấy thái độ trân trọng Đạo Pháp của triều Tây Sơn đối với Phật giáo, đồng thời cũng biết được tình cảm sâu sắc của giới Phật tử thời bấy giờ đối với triều đại này.

Tổ đình Trúc Lâm cũng như hầu hết các ngôi chùa lớn khác ở Huế, vừa là phạm vũ của nền đạo đức Phật giáo vừa là nơi có khả năng bảo quản các công trình văn hóa dân tộc nói chung và cố đô Huế nói riêng. Chính nhờ cổ vật, pháp bảo quý giá này tại chùa Trúc Lâm, chúng ta ngày nay còn có thêm một số sử liệu xác thực, hấp dẫn trong công cuộc tìm hiểu thời đại Tây Sơn.

Chùa Từ Hiếu

Chùa Từ Hiếu cách trung tâm thành phố khoảng 5km về phía tây – nam, thuộc địa phận xã Thủy Xuân. Từ đàn Nam Giao đi theo con đường lên lăng Tự Đức qua khỏi khu vực bảo tháp uy nghi của các vị cao tăng chùa Tường Vân, Diệu Đế và tẩm mộ của Tùng Thiện Vương Miên Thắm, có con đường đá rẽ về bên phải, đi khoảng 300m là đến chùa Từ Hiếu.

Chùa Từ Hiếu
Chùa Từ Hiếu

Chùa tọa lạc trên một vùng đất rộng 8 mẫu, xung quanh là những đồi thông tĩnh mịch bao bọc. Trước chùa có khe nước uốn quanh làm cho cảnh chùa thêm phần thơ mộng, tươi mát. Mặt chùa hướng đông, đối diện có một ngôi tháp nhỏ gọi là tháp Bồ Đề xây năm 1896, kiến trúc đơn giản, gồm 3 tầng. Tháp này dùng để tàng trữ tượng, kinh phế nát theo sắc chỉ của vua Thành Thái khắc ở mặt tháp hướng vào chùa. Bên trái, sát khuôn viên chùa có lăng của bà Chiêu Nghi – thứ phi của chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát- táng năm 1751 được bao quanh bằng hai vòng tường thành dài 39m.

Chùa xây theo kiểu chữ khẩu, chùa chính có ba căn hai chái. Chính điện phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu Đường thờ Đức Thánh Quang, bên trái thờ hương linh Phật tử tại gia, bên phải thờ các vị Thái giám (đặc biệt có một án dành riêng thờ Thái giám Lê Văn Duyệt có long vị sơn son thếp vàng, bên án có con ngựa bằng gỗ và thanh đại đao của vị Tả quân Đô thống – công thần xuất sắc của Gia Long buổi khai quốc) về sau bị tội oan. Đến đời Tự Đức xét lại công trạng của Lê Văn Duyệt, nhà vua cho đưa vào thờ trong chùa để đêm ngày hương khói, được gần gũi với kinh kệ, hầu giải thoát oan nghiệp. Hai bên sân hậu là Tả Lạc Thiên (nhà Tăng) và Hữu Ái Nhật (nhà khách).

Xem thêm:

Chùa Diệu Đế – Thăm danh lam nổi tiếng của vùng đất kinh kỳ

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Chùa Thuyền Tôn – Nơi ghi dấu nhiều dấn ấn lịch sử

Chùa Từ Hiếu ban đầu có tên là An Dưỡng Am do Hòa thượng Nhất Định lập nên vào năm 1843. Sách Đại Nam Nhất thống chí có ghi: ”Chùa ở xã Dương Xuân có nền cũ chùa xưa, năm Thiệu Trị thứ ba (1843) Cung giám Châu Phước Năng lạc quyên trùng tu…”, chứng tỏ Từ Hiếu là một ngôi chùa có từ lâu. Năm 1848, các Thái giám triều Nguyễn nghĩ mình khi nhắm mắt xuôi tay không người thờ tự, hương khói, không có cách nào tốt hơn là ký thác thể xác lẫn tâm linh cho nhà chùa, nên đã cùng góp tiền của, mua ruộng đất cúng vào chùa và xin nhà vua ban cấp tiền bạc, vật liệu tu sửa, xây dựng Từ Hiếu thành một ngôi chùa đồ sộ, trang nghiêm.
Cổng chùa Từ Hiếu xây theo kiểu vòm cuốn hai tầng, có mái, phía trên chính giữa thờ tượng Hộ pháp. Bên trong cổng tam quan là hồ bán nguyệt thả hoa sen, hoa súng và cá cảnh. Tả, hữu sân chùa có hai lầu để bia ghi lịch sử xây dựng chùa.

Tương truyền: Hòa thượng Nhất Định, nguyên Tăng cang chùa Giác Hoàng, lúc lên dựng An Dưỡng Am có đem theo mẹ già. Một lần mẹ Ngài đau nặng thầy thuốc khuyên bệnh nhân nên ăn thịt cá để chóng hồi sức. Thương mẹ, hàng ngày Ngài xuống chợ Bến Ngự mua cá buộc vào đầu gậy đem về chùa, đành nhận mọi tai tiếng ngoài đời để cứu dưỡng mẹ già. Vua Tự Đức biết chuyện cảm phục tấm lòng hiếu thảo của Hòa thượng, bèn ban cho chùa tấm biển đề: Sắc Tứ Từ Hiếu Tự.

Chùa Thuyền Tôn

Chùa Thuyền Tôn thuộc địa phận xã Dương Xuân ngày trước, nay là thôn Ngũ Tây, xã Thủy An. Chùa dựng trên một ngọn đồi cao hướng về phía tây bắc, cảnh trí tuyệt đẹp. Bên phải chùa là núi Thiên Thai, nên ngày trước chùa có tên là Thiên Thai Thuyền Tôn Tự hoặc Thiên Thai Nội Tự. Bên trái chùa là những ngọn đồi nhỏ, sau lưng là đầu ngọn núi quanh năm mây trắng lững lờ ôm ấp những rặng thông xanh ngát.

Lên chùa phải qua đàn Nam Giao theo con đường vào nghĩa trang thành phố, qua chiếc cầu xây bắc ngang kênh thủy lợi Nam sông Hương, rẽ về bên phải 2km, có tấm biển đề: Tổ Đình Thuyền Tôn 1 500m. Lối vào gần chùa len lỏi quanh co giữa các rặng thông tĩnh mịch.

Cổng chùa xây bốn trụ biểu lớn, bên cạnh có cây bồ đề cành lá sum suê phủ kín. Sân chùa rộng và thoáng, trồng nhiều loại cây cảnh xanh tươi, ở giữa có pho tượng Quan Âm.

Chùa Thuyền Tôn
Chùa Thuyền Tôn

Chùa do Tơ Liễu Quán khai sáng vào khoảng năm 1708. Ban đầu chùa chỉ là chiếc am tranh để ngài ẩn náu tu hành Năm Cảnh Hưng thứ 7, 8 (1746 – 1747) chùa được Đàn Việt chương Thái giám Mai Văn Hoan pháp danh Tế Ý trùng tu, xây bảo tháp, đúc hồng chung, mua ruộng đất cúng chùa, nên từ đó Thuyền Tôn trở thành ngôi chùa đồ sộ, uy nghi. Thời Tây Sơn, chùa bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Năm 1808, tín nữ Lê Thi Tạ đã giúp công của trùng tu lần thứ hai và sưu tầm văn khế chuộc lại ruộng đất của chùa. Năm 1937, chùa hư nát Hòa thượng trụ trì – cố tăng thống Thích Giác Nhiên cho trùng tu toàn diện theo kiểu dùng xi măng cốt thép trợ lực, nhưng vẫn giữ được nếp kiến trúc nguy nga, lộng lẫy của chùa xưa. Mới đây, dưới sự chỉ đạo của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, tổ đình Thuyền Tôn lại một lần nữa được trùng tu và chỉnh trang, mở rộng mặt bằng kiến trúc.

Xem thêm:

Chùa Diệu Đế – Thăm danh lam nổi tiếng của vùng đất kinh kỳ

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Chùa Báo quốc – Nơi ghi dấu nhiều dấn ấn lịch sử

Chùa Thuyền Tôn là một Thiền tự lớn ở Huế và là Tổ đình gốc của phái Liễu Quán (một nhánh của phái Lâm Tế). Tổ Liễu Quán quê ở Sông cầu (Phú Yên), đến Thuận Hóa hồi cuối thế kỷ XVII, đã tham học với nhiều bậc cao tăng người Trung Quốc như Hòa thượng Giác Phong, Thạch Liên, Từ Lâm, Tử Dung. Chúa Nguyễn Minh Vương rất mến trọng đạo đức Ngài, thường mời ngài vào cung giảng đạo. Trước khi viên tịch, Ngài Liễu Quán để lại bài kệ truyền thừa cho các đời kế tiếp tuần tự theo đó mà đặt tên pháp:

Thiệt tế đại đạo, tánh hải thanh trừng

Tâm nguyên quảng thuận, đức bổn từ phong

Giới định phước huệ, thể dụng viên thông

Vinh siêu, trí quả, mật khế thành công

Truyền kỳ diệu lý, diễn sướng chánh tôn

Hạnh giải tương ứng, đạt ngộ chơn không.

Tổ Liễu Quán viên tịch ngày 22-11 năm Nhâm Tuất (1742). Tháp Ngài dựng bên một triền núi phía đông nam chùa. Trước cổng tháp có đề bảy chữ: “Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương”, ý nói rằng: tuy Ngài đã viên tịch nhưng đạo đức Ngài vẫn còn vang dội, như hoa ưu đàm kia tuy rã cánh nhưng hương thơm vẫn còn phảng phất.

Hai bên có hai câu đối dọc theo trụ cổng:

Bảo đạt trường minh, bất đoạn môn tiền lưu lục thủy

Pháp thân độc lộ, y nhiên tọa lý khán thanh sơn.

(Tiếng mõ vang lừng, trước ngõ không ngưng dòng suối biếc.

Pháp thân vòi vọi, quanh tòa cao ngất dãy non xanh.)

Tháp Liễu Quán có lối kiến trúc hết sức hài hòa và độc đáo, dựng bên lưng đồi thông cảnh trí diễm lệ. Sau lưng chùa còn có một ngôi tháp kiến trúc tân kỳ, hùng vĩ, đó là tháp của Ngài đệ nhị Tăng thống Thích Giác Nhiên, có trụ trì chùa Thuyền Tôn. Cả hai ngôi tháp này về mặt kỹ thuật kiến trúc được đánh giá là những ngôi tháp đẹp nhất ở Huế.

Chùa Từ Đàm

Chùa Từ Đàm tọa lạc trên một khoảnh đất cao, bằng phẳng thuộc địa phận phường Trường An, cách trung tâm thành phố 2km. Mặt chùa hướng về phía đông – nam, trước có núi Kim Phụng làm án, bên phải giáp đường Điện Biên Phủ, bên trái có chùa Linh Quang và nhà thờ cụ Phan Bội Châu, phía sau có chùa Thiên Minh.

Cấu trúc của chùa được gọi là “kiểu chùa Hội” phối hợp giữa đường nét nghệ thuật kiến trúc mới và cũ, với yêu cầu rộng rãi, cao ráo, cổ kính nhưng đơn giản. Chùa Từ Đàm có ba bộ phận quan trọng là tam quan, chùa chính và nhà hội.

Cổng tam quan chùa cao, rộng có mái ngói thanh nhã. Phía sau cổng có cây bồ đề quanh năm tỏa bóng mát. Đây là cây bồ đề được chiết ra từ cây bồ đề nơi Phật đắc đạo, do bà Karpeies, Hội trưởng hội Phật học Pháp, thỉnh từ Ấn Độ qua Việt Nam tặng, được trồng vào năm 1936. Sân chùa rộng, bằng phẳng, thoáng mát, đủ chỗ để tập trung hàng ngàn người về dự lễ.

Xem thêm:

Chùa Diệu Đế – Thăm danh lam nổi tiếng của vùng đất kinh kỳ

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Chùa Báo quốc – Nơi ghi dấu nhiều dấn ấn lịch sử

Chùa chính gồm tiền đường, chính điện và nhà Tổ. Tiền Đường được xây trên một nền móng bằng đá hoa cương cao 1,5m mái xây kiểu cổ lâu nên chùa vốn đã cao lại càng cao hơn. Ở các bờ mái và trên nóc chùa là những cặp rồng uốn cong, mềm mại, đối xứng nổi lên trên những dãy ngói âm dương chạy dọc trông cân đối, và hòa đẹp mắt. Dưới mái cổ lầu có những bức đắp nổi sự tích đức Phật, bố cục trọn vẹn, nét chữ sắc sảo. Tả, hữu sát với tiền đường có hai lầu chuông, trống.

Trong điện có pho tượng đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni ngồi trên tòa sen. Chùa Từ Đàm thờ độc tôn, cách bài trí và thờ tự trong điện có phần đơn giản so với các ngôi chùa khác ở Huế. Phía sau chính điện có nhà Tổ, nhà Tăng. Từ Đàm là ngôi chùa Hội cho nên Hội quán được xây dựng rộng 10 căn, cao hai tầng, cạnh đường Phan Bội Châu.

Chùa do Hòa thượng Minh Hoàng Tử Dung sáng lập vào khoảng năm 1695. Ngài Minh Hoàng quê ở Trung Quốc, thuộc dòng Thiền, phái Lâm Tế thứ 34, là bậc cao tăng đã truyền pháp và ấn chứng cho Hòa thượng Liễu Quán – vị Tổ sư Thiền tông Việt Nam đầu tiên khai đạo ở Đàng Trong. Năm 1703, chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho chùa tấm biển Sắc Từ Ấn Tôn Tự, nên chùa có tên Ân Tôn. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), chùa đổi tên là Từ Đàm.

Chùa Từ Đàm

Mặc dầu không phải là ngôi chùa vào loại cổ nhất Việt Nam, nhưng Từ Đàm được nhiều người khắp đất nước biết đến do vai trò quan trọng của chùa trong công cuôc chấn hưng, phát triển của Phật giáo Việt Nam thời kỳ cận đại và cuộc đấu tranh vì hòa bình, tự do tín ngưỡng. Năm 1936, chùa là trụ sở hoạt động của An Nam Phật học Hội. Những ngày Cách mạng Tháng Tám, Từ Đàm là trung tâm hoạt động sôi nổi của Phật giáo cứu quốc. Năm 1951, 51 đại biểu Phật giáo Bắc –  Trung – Nam mô đại hội đầu tiên ở Từ Đàm, đặt nền móng sơ khởi cho công cuộc thống nhất Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Những năm 60, Từ Đàm là nơi xuất phát của các cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, do chư tăng và Phật tử kính đạo, yêu nước đứng lên góp sức mình vào sự nghiệp đấu tranh của dân tộc.

Chùa Báo Quốc

Chùa Báo Quốc tọa lạc trên đồi Hàm Long thuộc địa phận Phường Đúc, phía đông giáp đường Điện Biên Phủ, phía tây giáp thôn Lịch Đợi, phía nam giáp thôn Trường Giang, phía bắc là ga Huế.

Chùa xây theo kiểu chữ khẩu, ở giữa sông bày nhiều chậu cảnh và phong lan, sân trước rộng, sân trong có la thành bao bọc. Ở mái hiên nhà khách có con giồng nói tiếng người rất hay. Khách đến vãn cảnh chùa, thú vị nhất là được nghe và mớm cho giồng nói. Diện tích chùa khoảng 2 mẫu. Trong khuôn viên chùa có đủ tháp mộ của các vị Tổ sư, trong đó có ba ngôi kiến trúc đồ sộ là tháp Tổ, tháp Hòa thượng Trí Thủ và Hòa thượng Thanh Trí.

Chùa Báo Quốc
Chùa Báo Quốc

Phía bắc chùa có giếng Hàm Long sâu độ 4,5m, dưới đáy giếng có đá giống đầu rồng, nước theo lỗ đá phun ra rất trong và ngọt. Ca dao xứ Huế xưa có câu:

Nước Hàm Long đã trong lại ngọt

Em thương anh rày có bụt chứng tri.

Tục truyền, xưa người ta múc nước giếng này để vua dùng, nên có tên là giếng Cấm.

Trong chùa có nhiều liễn đối và biển từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1737 – 1765), một quả chuông đúc năm Gia Long thứ 7 (1808), bàn thờ Hiếu Khương Hoàng Hậu một gốc cây hình người. Các pháp bảo quý  giá này năm Mậu Thân đã bị tản mát một phần lớn.

Xem thêm:

Chùa Diệu Đế – Thăm danh lam nổi tiếng của vùng đất kinh kỳ

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Thời Tây Sơn, dưới triều Quang Trung, chùa Báo Quốc được sử dụng làm kho chứa diêm tiêu để chế đạn à làm xưởng đúc súng, rèn vũ khí.

Chùa do Hòa thượng Giác Phong khai sáng vào khoảng cuối thế kỷ XVII (năm tháng lập chùa cụ thể không rõ, chỉ biết tổ Giác Phong mất vào năm 1714), xưa có tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự. Ban đầu chùa chỉ là một ngôi thảo am, về sau dần được tu sửa và xây dựng quy mô. Năm 1747, chúa Nguyễn Phúc Khoát ban cho tấm biển thếp vàng giữa khắc năm chữ Sắc Tứ Báo Quốc Tự, bên tả ghi thêm tám chữ: Quốc Vương Từ Tế Đạo Nhân Ngự Đề. Năm 1808 Hiếu Khương Hoàng Hậu quyên tiền trùng tu lại rộng lớn hơn và đổi tên Thiên Thọ Tự. Năm 1824, vua Minh Mạng lấy lại tên chùa là Báo Quốc như cũ. Năm 1858, vua Tự Đức ban tiền tiếp tục trùng tu. Năm 1957, chùa bị mối mọt đổ nát nên được ban quản trị Tổ đình tái thiết, kèo cột đúc xi măng cốt thép, giữ được nguyên kiến trúc cổ kính.

Năm 1940, trường Cao đẳng Phật học được mở tại chùa Báo Quốc do cố Tăng thống Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm giám đốc. Năm 1948, sơn môn Phật học đường từ chùa Linh Quang được dời về Báo Quốc. Từ đó, chùa Báo Quốc trở thành một trung tâm đào tạo Tăng tài. Hiện nay, chùa Báo Quốc là trụ sd của Trường Cơ bản Phật học Huế.

Chùa Báo Quốc là một ngôi chùa cổ ở vị trí trung tâm thành phố, được nhiều người biết đến, nên rất tiện cho hoạt du lịch. Từ nhiều năm nay, chùa Báo Quốc được đông đảo bạn bè, du khách gần xa lui tới thăm viếng.

Chùa Diệu Đế

Chùa Diệu Đế ở ấp Xuân Lộc cũ, nay thuộc địa phận phường Phú Cát. Chùa được tạo lập giữa một khoảng đất rộng hình chữ nhật diện tích khoảng 5.000m .

Thời điểm xây dựng

Khuôn viên chùa nằm gọn giữa 4 con đường. Phía trước là đường Bạch Đằng chạy dọc theo một nhánh sông Hương, phía sau là đường Tô Hiến Thành, gần chùa Diệu Hỉ do Hoằng Hóa Quận Vương – con thứ 66 của vua Minh Mạng – lập ra; bên trái là đường mang tên chùa (đường Diệu Đế), bên phải là đường Chùa Ông. Vùng này là nơi vua Thiệu Trị ra đời năm 1807 và cũng là tiềm để của vua, cho nên vừa mới lên ngôi được vài năm, nhà vua đã truyền xây dựng chùa Diệu Đế với quy’mô lớn vào những năm 1842 – 1844.

Chùa Diệu Đế
Chùa Diệu Đế

Bấy giờ có Thông quan Thị vệ Đại thần Vũ Văn Giải dâng sớ tâu rằng: “Chỗ ở Phúc Quốc Công ngày trước ngoài mặt đông Kinh Thành là nơi phát tướng quý địa, xin dựng một ngôi chùa để cầu phúc cho dân”. Vua giao cho bộ Lễ và bộ Công xét tấu. Hai bộ ấy tâu xin lập một ngôi chùa kèm theo đồ án thiết kế. Vua chuẩn tấu và giáng chỉ đặt tên chùa là Diệu Đế, đồng thời còn ghi rõ danh xưng riêng cho các điện, dường, gác, trong phạm vi chùa.

Kiến trúc chùa Diệu Đế

Kiến trúc ban đầu của chùa gồm: ở giữa là chính điện Đại Giác, án trên thờ Tam thế, án dưới thờ thần vị của vua Thiệu Trị, hai án hai bên thờ Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát. Tả, hữu chính diện là Thiền Đường – bên tả Cát Tường từ thất, bên hữu Trí Tuệ tịnh xá. Phía trước điện dựng gác Đạo Nguyên hai tầng, ba gian. Lùi về phía sau gác Đạo Nguyên có hai lầu chuông trống xây cân đối ở hai bên và chính giữa là lầu Hộ Pháp. Sân trong có la thành, sân trước có hai nhà lục giác, nhà bên tả đặt Hồng chung, nhà bên hữu dựng bia lớn khắc bài văn do vua Thiệu Trị soạn, cùng một số chi tiết về các thành phần kiến trúc chùa. Sau chính điện, có hai nhà Tăng, mỗi nhà ba gian. Hệ thống la thành ngoài cao ráo, xây bằng gạch vồ, trước có Phương Môn ba cửa, hai bên có cổng nhỏ, ngoài bờ sông có xây bến thuyền khoảng 10 cấp lên xuống.

Chùa Diệu Đế không đẹp bằng chùa Thiên Mụ nhưng lại có vẻ độc đáo riêng. Chùa có bốn lầu (hai lầu chuông một lầu trông và một lầu bia), nằm ở vị trí giữa cầu Đông Ba và cầu Gia Hội. Người dân Huế xưa một thời hay truyền tụng những câu ca dao:

Đông Ba, Gia Hội hai cầu,

Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông.

Đông Ba, Gia Hội hai cầu,

Ngó qua Diệu Đế trống lầu, gác chuông.

Những thăng trầm của chùa

Ngày trước, chùa Diệu Đế là nơi có nhiều tượng Phật nhất, do lúc Kinh đô thất thủ (1885) chùa Giác Hoàng – phủ của vua Minh Mạng lúc tiềm để – bị lính Pháp chiếm đóng, nên các tượng Phật và đồ thờ đều được thỉnh ra chùa Diệu Đế. Trong chùa thời kỳ đó, có một cái tháp Thiên Mụ bằng ngà lộng gương nhưng nay không còn nữa.

Cuối năm 1885, Nam triều lấy Cát Tường Từ Thất làm sở đúc tiền, Trí Tuệ Tịnh Xá làm phủ đường Thừa Thiên, một Tăng phòng làm nhà lao của tỉnh, và một Tăng phòng làm trụ sở cho Khâm Thiên Giám. Năm 1887 phần lớn các ngôi nhà trong chùa đều bị triệt hạ; năm 1910, triệt hạ gác Đạo Nguyên và thay vào hai nhà nhỏ thờ Kim Cang. Về sau, ngoài cổng la thành xây thêm bốn trụ biểu.

Thời kỳ Phật tử đấu tranh, chùa Diệu Đế là một địa điểm tập trung lực lượng, nên hai nhà thờ Kim Cang chuyển vào hai bên chính điện, bốn trụ biểu cũng triệt hạ, sân trong san phẳng bằng sân trước để mở rộng thêm diễn đàn. Năm 1964, phía bên phải chùa được xây một dãy phòng học của trường tiểu học Bồ Đề do các nhà giáo và sinh viên Phật tử tổ chức vận động thành lập. Năm 1966, bên trái chùa cũng được dựng một ngôi trường khác – Trường Bồ Đề Tỷ Ni – do các nữ tu trường Diệu Viên lập ra, từ đó phong quang chùa càng đổi thay, tấp nập.

Hiện nay, chùa chỉ còn chính điện; hai bên chính điện đặt Bát bộ Kim Cang, phía sau có một nhà khách và một nhà bếp, sân trong có bốn bức tường nhỏ và nhà bia, nhà chuông, ngoài cùng là cổng tam quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ Pháp.

Diệu Đế là ngôi Quốc tự thứ ba ở Huế được vua Thiệu Tri liệt hạng một trong hai mươi thắng cảnh của đất Thần kinh. Do sắc thái và cảnh quan đặc biệt chùa sớm đi vào ca dao nên được rất nhiều người ở xứ Huế cũng như khắp mọi miền đất nước biết đến.