Những món ăn nổi tiếng Hà Nội

Chả cá

Sức sống mãnh liệt của món ăn đặc sản này đã được chứng minh bằng một sự kiện không ai phủ nhận, một tên phố của Hà Nội phải bỏ đi (phố Hàng Sơn) để lấy tên món án này đặt tên cho phố đó: phố Chả Cá. Sự “nhường” tên đó diễn ra cách đây gần 100 năm. Có thể coi đó cũng là tuổi của món chả cá Hà Nội mà công đầu khai sáng thuộc về gia đình họ Đoàn ở số nhà 14. Để khách dễ nhớ nhà hàng của minh, họ Đoàn có sáng kiến bày tượng ông Lã Vọng cầm cần câu và xách xâu cá ngay ở ngoài cửa hàng. Vì vậy mà hình thành tên gọi chả cá Lã Vọng.

Những món ăn nổi tiếng Hà Nội - Chả cá
Những món ăn nổi tiếng Hà Nội – Chả cá

Để thưởng thức món ăn cầu kỳ này, xin mách nhỏ các bạn: nếu chỉ có ít thì giờ muốn ăn vội để đi công việc thỉ không nên ăn chả cá.

Một khi bạn đã ngồi vào bàn, nhà hàng lần lượt bày trước lên bàn các thứ phụ trợ: bát mắm tôm vắt chanh đánh nổi bọt trắng, điểm mấy lát ớt đỏ tươi lại được nhỏ thêm vài giọt rượu cho thơm. Đĩa lạc rang đã sát vỏ lộ một màu vàng ống, hạt đều tăm tắp. Cạnh đó là đĩa bún sợi nhỏ mượt, trắng phau. Rau thơm, rau mùi, thì là xanh mướt, hành củ tước nhỏ trắng toát như cánh hoa huệ.

Khúc dạo đầu với những mùi vị và màu sắc như vậy thật gợi cảm biết bao. Khách sẵn lòng chờ đợi đến lượt món chính ra mắt. Đây rồi, nhà hàng đã bê ra cái hoả lò than đặt lên bàn, chảo mỡ trên hoả lò đang sôi sèo sèo. Những cặp chả cá đã nướng trong bếp được đưa lên, gỡ ra cho vào chảo mỡ để khách tự gắp vào bát cho nóng.

Bây giờ Hà Nội đã có nhiều nhà hàng bán chả cá, chất lượng và giá cả cũng như nhà hàng Lã Vọng. Vậy các bạn có thể tiện đâu dùng đấy.

Nem rán

Nem rán (chả giò) người miền Bắc gọi là nem rán, còn ở phía Nam, bà con gọi là chả giò.

Ở Hà Nội, so với món chả cá thì tuổi của nem rán chắc “già” hơn nhiều. Tuy là đặc sản, nhưng nem rán lại là món dễ chế biến, do đó từ lâu nó đã trở thành món ăn quen thuộc của mọi nhà trong các dịp lễ tết, ngày vui tiếp đãi bạn bè.

Nguyên liệu làm nhân nem gồm: thịt nạc băm, cua bể hoặc tôm nõn, nấm hương, mộc nhĩ, hành khô, củ đậu, trứng vịt, hạt tiêu, muối gia vị… Tất cả trộn đều rồi dùng bánh đa nem gói lại cho vào chảo mỡ đang sôi rán chín vàng.

Nem rán ăn nóng cùng với nước chấm pha chế vừa đủ mặn, ngọt, chua, thơm mùi tỏi, hạt tiêu. Dưa góp là đu đủ và các loại rau thơm, salát.

Bánh tôm hồ Tây

Bánh tôm có thể ăn ở nhiều nơi trong thành phố, nhưng bánh tôm ăn ở nhà hàng hồ Tầy là thú vị nhất. Bởi lẽ đến đây, trong khi cái miệng còn phải chờ nhà hàng rán bánh thì đôi mắt đã được “ăn” no nê phong cảnh nên thơ của đường Thanh Niên, cùa hồ Tầy mênh mông…

Khi đĩa bánh vàng rộm điểm xuyết những con tôm đỏ au trên mặt bánh đặt lên bàn cùng với bát nước chấm, đĩa rau tươi cũng là lúc tinh thần bạn đà được chuẩn bị chu đáo để ăn ngon. Và nếu bạn được biết thêm những con tôm béo ngậy đỏ au kia, được đánh ở lòng hồ Tầy lên, hẳn là bạn muốn cổ một cái gì đấy để kỷ nĩệm về bánh tôm hồ Tầy – Hà Nội.

Cốm Hàng nâm

Cốm Hàng nâm cứ vào tiết thu (khoảng tháng 9 dương lịch), gió đầu mùa thổi về mang theo hơi sương lành lạnh, bất chợt nhìn ra ngoài phố thấy xuất hiện những bà, những cô gánh cốm đi bán rong. Người đi bán cốm rất ít rao hàng, họ đi nhẩn nha như đi chơi. Bởi tiếng là gánh hai thúng cốm nhưng mỗi thúng bên trong chỉ có vài lớp cốm nàm gọn trong tàu lá sen xanh. Việc làm cốm rất công phu nên người làm cốm, ngay một lúc, không làm được nhiều. Mà người mua cốm cũng chẳng mấy ai mua nhiều. Thỉ ra, của ngon, ăn ít vẫn ngon nhiều.

Chỉ người nông dân thực thụ ra nhìn ruộng lúa nếp mới biết lúc nào có thể tuốt lúa về làm cốm. Cây lúa lớn lên rồi trổ hoa kết hạt, từ lúa con gái lúa dậy thì rồi trổ đòng mà đậu sữa ngậm hạt thành trát. Cái hạt lúa tuốt bông về mà rang, mà giã thành cốm chính nó là hạt thóc bao tử. Thóc bao tử được rang chín, để nguội rồi đổ vào cối đá to, dùng một chày gổ nhỏ giã nhẹ tay, nhưng nhịp giã phải nhanh, Xong một lượt giã lại xảy bớt trấu. Mà phải giã đủ bảy lượt. Gia không đủ lượt, giâ vội, mạnh tay lấy nhanh thỉ hạt cốm không xanh mà biến thành màu đỏ, đem bán chẳng ai mua. Thế mới biết làm cốm là một nghệ thuật.

Cốm là thứ quà mộc mạc nguyên chất đồng quê. Có lẽ vì vậy mà từ xưa đến nay, không ai dùng đũa hay dùng thìa để ăn cốm, xúc cốm, mà lấy năm đầu ngón tay cẩn thận, nhẹ nhàng dúm một dúm cốm nhỏ đưa vào miệng. Ăn cốm phải ăn thong thả, nhai kỹ mới cảm nhận hết được vị thơm dẻo, ngọt ngào của hương lúa non.

Làng Vòng ở ngoại thành Hà Nội đứng đầu bảng trong nghề làm cốm từ xa xưa. Đến Hà Nội vào mùa cốm, bạn có thể đi xe đạp 5 km đến làng Vòng để nghe tiếng chày giã cốm và xem phụ nữ nông dân sàng sảy cốm.

Bánh cuốn

Gạo tẻ được ngâm nước cho mềm rồi xay thành nước bột mịn. Nước bột này được hấp chín bằng phương pháp cách thuỷ, thành từng cái bánh tròn to hơn bàn tay và mỏng tang. Mỗi cái bánh đều được xoa một chút mỡ phi cùng với hành hoa cho thơm. Đây là loại bánh cuốn mỏng.

Từ xa xưa, dân làng Thanh Trì ngoại thành Hà Nội có nghề làm bánh cuốn mỏng ngon nổi tiếng, vì vậy thành tên gọi bánh cuốn Thanh Trì. Bánh này chấm với nước mắm độ đạm cao, vất mấy giọt chanh, ăn kèm với miếng chả quế thơm là món quà thanh cảnh của người Hà Nội.

Bánh cuốn nong không xoa hành mỡ mà cho nhân thịt lợn nạc băm với nấm hương, mộc nhĩ, hành khô cuộn lại đặt lên đĩa rồi rắc ruốc tôm bông, hành khô phi ròn, gọi là bánh cuốn nhân thịt.

Giò lụa

Chỉ riêng tên gọi giò lụa (chả lụa) đã gợi lên sự nuột nà của thức ăn này. Phải là loại thịt nạc, không có gân của con lợn mới mổ, thịt còn hơi ấm mới đủ tiêu chuẩn đem giã giò. Mà phải giã chày tay, đến khi thịt dính quện vào nhau, mới dùng lá chuối tươi bó chặt rồi đem luộc chín. Giò lụa ngon có màu trắng mịn màng, ăn hơi ròn, vị ngọt thơm.

Giò lụa ăn với cơm gạo tám thơm là cách ăn giản dị của người sành điệu.

Bánh chưng, bánh dày

Bánh chưng, bánh dày tương truyền, vua Hùng muốn chọn người để nhường ngôi báu, nên bảo các con, ai dâng được lễ vật quí nhất để cúng tổ tiên, trọn đạo hiếu, sẽ được truyền ngôi. Các hoàng tử ra sức đi khắp đất nước tlra của ngon vật lạ dâng vua cha. Hoàng tử thứ 18 Lang Liêu, sau nhiều ngày, đêm suy nghĩ, một đêm nằm mơ thấy quí nhân về phán bảo: Hạt gạo là thứ quí nhất trong trời đất. Nay đem gạo nếp làm bánh, cai hình vuông, cải hình tròn tượng trưng cho trời đất Bảnh vuông thì cho nhân đậu, thịt vào giữa, dùng lá xanh bọc ngoài, ngụ ý công dức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ… Tỉnh dậy, Lang Liêu mừng rỡ làm hai thứ bánh theo lời thánh nhân dạy.

Đến kỳ thi tài, vua xem xét khắp lễ vật của các con dâng tiến, nhưng chưa, ưng ý. Khi Lang Liêu dâng bánh chưng vuông, bánh dày tròn, vua nếm thấy ngon thi cà khen. Lang Liêu thuật lại giấc mơ, trình vua cha ý nghĩa và cách thức làm bánh. Vua Hùng quyết định nhường ngôi cao cho Lang Liêu. Từ đấy, hàng năm vào dịp tết Nguyên đán, vua tôi cả nước làm bánh chưng, bánh dày cúng tổ tiên và ăn tết.

Ngày nay, bánh chưng, bánh dày đã trở thành món ăn đặc sản trong văn hóa ẩm thực suốt bốn mùa trong cả nước.

Phở

Phở là món ăn phổ biến, gần gũi với mọi người. Người Việt Nam ăn phở từ lúc còn bé. Khi tuổi già bát phở lại là món ăn thích hợp hơn cả. Phở được ăn nhiều nhất vào buổi sáng, cũng có người ăn phở vào buổi trưa thay cơm. Ai thức khuya, đói bụng, cũng tỉm đến với bát phở nóng hổi cho lại sức.

Nếu chén nước trà cần đến hương của trà thì bát phở rất cần đến vị của phở. Chế biến thế nào để khi đặt bát phở nóng nghi ngút trên bàn, người ăn cảm nhận được ngay hương vị đậm đà của món ăn tổng hợp này, là bí quyết của nghề phở. Bánh phở mượt mà, thái nhỏ được chế biến từ gạo tẻ. Nếu là phở bò thì nước dùng phải là xương bò, xương lợn. Thịt phi- lê dành cho bát tái có kèm mấy lát gừng thơm. Thịt bò nạc ninh dừ thái mỏng, ăn mềm, thơm, được bày lên bát phở chín.

Phở gà thì nước dùng chủ yếu bằng xương lợn, xương gà. Thịt gà lọc hết xương, thái từng miếng. Có thể tạm ví phở là món súp Việt Nam vừa ngon vừa bổ, thích hợp với khẩu vị của mọi người trên cả nước. Hành được tước mỏng, ớt tươi, hạt tiêu, chanh… là những gia vị không thể thiếu trong bát phở.

Những làng quê có tiếng ở ven đô Hà Nội

Làng Nghi Tàm

Làng Nghi Tàm đi hết đường Thanh Niên, qua cái dốc nhỏ, rẽ bên trái để lên làng Nghi Tàm, một làng nằm men theo móp nước hồ Tây, cũng là một làng nhỏ có lẽ nhỏ nhất trong các làng của cả nước, nhưng nếu nói về vẻ đẹp, Nghi Tàm cũng là làng đẹp vào bậc nhất của kinh thành Thăng Long xưa. Nghi Tàm đã vào ngạn ngừ Bến trúc Nghi Tàm, rừng bàng Yên Thái là hai cảnh đẹp cửa kinh kỳ. Tên gọi Nghi Tàm đã nói lên ngành nghề chủ yếu cùa làng từ thuở ban đầu. Nghi là thích hợp, Tàm là con tằm (làng này thích hợp với nghề trồng dâu chăn tằm). Thời nhà Lý, Nghi Tàm đã làm một trại trồng dâu chăn tằm lớn của Thằng Long. Thời đó những phụ nữ có tội phải làm lao dịch được đưa về trại trồng dâu chăn tằm, kéo kén, ươm tơ dể các cung nữ dệt lụa vải gấm vớc.

Công chúa Từ Hoa xinh đẹp và nhân từ, con vua Lý Thần lồng chán cảnh sống tẻ nhạt trong cung đình đã vật nài xin vua cha cho ra ở trại tằm cùng với đám đàn bà con gái bị khổ sai. Nàng dạy họ kéo kén, ươm tơ, dệt lụa. Vị trí của công chúa Từ Hoa xưa chính là nơi dựng ngôi chùa Kim Liên (Bông Sen Vàng) còn lại đến ngày nay.

Những làng quê có tiếng ở ven đô Hà Nội
Những làng quê có tiếng ở ven đô Hà Nội

Nghi Tàm ngày nay không còn trồng dâu nữa, do đất hạn hẹp cả làng chuyển sang trồng hoa và cây cảnh, nuôi cá cảnh. Khách du lịch đến đây được thấy phong cảnh một làng ven đô, làng đã được đô thị hoá nhưng vẫn giữ nghề mang tính truyền thống của làng.

Làng Nghi Tàm còn là nơi sinh trưởng của nữ thi sĩ tài danh đã đi vào lịch sử văn học nước nhà với một cái tên… không phải là tên: bà huyện Thanh Quan. Thanh Quan là tên một địa danh, huyện cũ của tỉnh Thái Bình. Nữ thi sĩ là vợ ông tri huyện Thanh Quan. Vậy mà bà huyện Thanh Quan đã trở thành một tên tuổi một hồn thơ vang vọng lắng sâu cùng thời gian.

Từ Nghi Tàm đi tiếp sẽ đến Quảng Bá, Nhật lần là những làng trồng hoa, trồng quất, trồng đào. Đặc biệt hoa đào Nhật lần đã trở thành thứ hoa quí trong dịp đón xuân của người Hà Nội. Cành đào Nhật Tần đã được vua Quang Trung phái kỵ mã đem về Phú Xuân tặng Công chúa Ngọc Hân để báo tin vui đại thắng quân Thanh trong mùa xuân Kỷ Dậu (1789).

Làng Lệ Mật

Làng Lệ Mật từ Hà Nội qua cầu Chương Dương đến thị trấn Gia Lâm, theo quốc lộ 5 đi khoảng 1 km rồi rẽ trái ngang qua cánh đồng lúa là đến làng Lệ Mật. Nơi đây cổ nghề truyền thống nuôi rắn từ cách đây 900 năm.

Để có một tour du lịch xanh, người hướng dẫn có thể tổ chức cho một nhóm du khách đi xe đạp chừng 60 phút là đến làng lệ Mật.

Có thể vào thăm các gia đình nuôi rắn nổi tiếng như gia đình ông Nguyễn Đặng Phác và ông Trần Như Bản. ông Phác đã có hơn nửa thế kỷ trong nghề. Bốn anh con trai ông Phác cũng theo nghề bố rất thành thạo, nghề nuôi rắn và chế biến các sản phẩm từ rắn.

Vào thăm đình làng lệ Mật, du khách sẽ ghi nhận một huyền thoại rất đẹp về Thành Hoàng làng Lệ Mật, người đã có kỳ tích lớn, có công lập nên làng ấp này. Chuyện xưa kể rằng: dưới triều vua Lý Thái Tồng (1072 – 1127) có một chàng trai họ Hoàng khoẻ, đẹp, giàu lòng nhân đức. Một sớm mùa xuân, nhân tiết trời đẹp, công chúa con vua Lý cùng thị nữ du thuyền trên sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay). Bất ngờ một con thuỷ quái gây sóng to gió lớn nhấn chìm thuyền công chúa. Chàng trai họ Hoàng đang làm đất ở ven sông, thấy vậy không quản nguy hiểm đã lặn xuống sông sâu, đánh thuỷ quái, cứu được công chúa.

Vua Lý Thái Tông cảm kích trước công lao của chàng trai họ Hoàng, đã cho gọi chàng vào cung trọng thưởng tiền bạc và chức tước. Nhưng chàng trai chỉ một mực xin nhà vua cho chàng được đưa dân nghèo đi khai hoang lập ấp mở trại cho dân tình được an cư lạc nghiệp. Được nhà vua chấp thuận, chàng trai chiêu mộ dân khai hoang lập nên 13 trại ấp thành một khu nông nghiệp trù phú ngay cạnh kinh thành Thăng Long.

Làng Lệ Mật ngày nay vẫn giữ truyền thổng hàng năm mở hội vào ngày 23- 3 (âm lịch) để ghi ơn tráng sĩ họ Hoàng có công lập ấp và diễn lại trận kịch chiến giữa tráng sĩ với thuỷ quái.

Làng lụa tơ tằm Vạn Phúc

Làng lụa tơ tằm Vạn Phúc ra đời cách đây hơn một nghìn năm. Thành Hoàng của làng là bà Lã Thị Nga đă dạy dân trồng dâu, chăm tằm, ươm tơ, dệt lụa. Từ đó nghề dệt lụa được lưu truyền gìn giữ đến ngày nay.

Làng Vạn Phúc nằm trôn bờ sông Nhuệ, cách trung tâm Hà Nội khoáng 10 krn về phía tâỵ. Du khách đến thám Vạn Phúc mới đến đầu làng đã cảm thấy thư thái bởi cảnh chùa Vạn Phúc cổ vườn hoa, cây trái, hồ nước, gỉếng trong… Đến Vạn Phúc, du khách sẽ thấy mỗi nhà dân là một xưởng dệt lụa, những tấm lụa tơ tằm mang những màu sắc ưa nhìn luôn luôn là món quà hấp dẫn nhiều du khách từ phương xa tới. Lụa tơ tằm đã trở thành sản phấm không thể thiếu trong các buổi trình diễn thời trang và cũng đã có mặt ở nhiều thị trường khắp các châu lục.

Làng chạm khắc gỗ Từ Vân

Làng chạm khắc gỗ Từ Vân thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh, cách trung tâm Hà Nội hơn 20 km. Khách tham quan đến đầu làng đã nghe tiếng đục tiếng tràng lách cách vui tai từ nhà nọ truyền sang nhà kia. Dân làng Từ Vân có nghề chạm ngà, khắc gỗ, đục tượng cổ truyền. Sản phẩm làng làm ra là những tượng Phật, tượng người, tượng chim muông thú vật v.v, ngoài ra rất nhiều kiểu phù điêu hoa lá để trang trí và các đồ dùng bằng gỗ có tính nghệ thuật cao V.V.. Hàng của Từ Vân đã xuất sang nhiều nước Châu Á và Châu Âu.

Làng gốm Bát Tràng

Làng gốm Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm nằm sát sông Hồng. Nghề làm gốm ở đây co từ thế kỷ 15. Từ nhiều năm trước, các sản phẩm của Bát Tràng đã có mặt ở khắp các tỉnh đồng bằng sông Hồng.Hàng của Bát Tràng đã đi vào ca dao ngạn ngữ: ước gì anh lấy được nàng Đề anh mua gạch Bát Tràng về xay…Ngày nay sản phẩm của Bát Tràng vẫn tiếp tục ra lò phục vụ tiêu dùng trong nước.

Hà Nội có bao nhiêu cửa ô ?

Nếu cần một con số chính xác Hà Nội từ xa xưa có bao nhiêu cửa ô thỉ phải chờ công cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học. ở đây chúng ta chỉ có thể hiểu cửa ô là cửa xẻ qua thành luỹ đất bao bọc xung quanh thành Thăng Long xưa.

Và sau đây là tên những cửa ô hiện nay vẫn còn được ghi trên bản đồ hành chính và những cửa ô còn lại trong trí nhớ, trong tâm tưởng của lớp người đương thời.

Hà Nội có bao nhiêu cửa ô ?
Hà Nội có bao nhiêu cửa ô ?
  • Ô chợ Dừa ở trên đoạn đê La Thành nơi có trường Đại học Văn hoá, trại Nhãn và có chợ mang tên Chợ Dừa.
  • Ô Đồng Lầm ở nơi ngã tư cổ đường Giải Phóng đi qua cuối đoạn đường Đại Cồ Việt và phố Đào Duy Anh. Nguyên nơi này xưa kia là làng Đồng Lầm có nghề nhuộm vải nâu, vải thâm gọi là vải Đồng Lầm.
  • Ô Câu Dền ở vị trí phố Huế gặp phố Bạch Mai.
  • Ô Trung Hiên ở nơi phố Bạch Mai gặp Chợ Mơ.
  • Ô Đông Mác nơi có con sông Kim Ngưu. Về tên gọi Đống Mác theo dân gian kể lại xưa kia nơi đây quân giặc tháo chạy vứt lại giáo gươm chất thành đống.
  • Ô Tây Luông (Tây Long) nay là vị trí Viện quân y 108.
  • Ô Quan Chưởng ở cuối phố Hàng Chiếu là cửa ô duy nhất của Hà Nội còn lại nguyên vẹn. Cửa Ô Quan Chưởng được xây dựng vào đời Lê khoảng năm 1749, lúc đầu là cửa ô nhỏ, kiến trúc sơ sài. Đến năm 1817 được xây lại kiên có và mở rộng (đời vua Gia Long), trên vòm cửa chính Ô Quan Chưởng còn ba chữ Hán Đông Hà Môn (cửa Đông Hà). Cửa Đông Hà thuộc phưòng Đông Hà ở thời kỳ mà Thăng Long chỉ cò 36 phường.
  • Các ô Thạch Khối, Thạch Tân và Yên Hoa nay thuộc đê Yên Phụ.
  • Ô Cầu Giấy còn gọi là Ô Tây Dương vì cách đây hơn trăm năm, nhiều tên thực dân Pháp xâm lược nước ta đã phải bỏ mạng tại nơi này.

Sông Hồng gắn liền với nhiều chiến tích lịch sử Hà Nội

Hướng dẫn viên có thể đưa khách đi dạo trên mặt đê sông Hồng, kể chuyện về con đê và dòng sông mang nặng phù sa gắn liền với sự khai sinh ra tên đất Thăng Long gần một nghìn năm tuổi.

Người Ai Cập tự hào về các Kim Tự Tháp. Người Trung Quốc tự hào vỉ có Vạn lý trường thành. Người Việt Nam cũng có quyền tự hào về hệ thống đê sông, đê biển trên cả nước dài ước khoảng hơn 2000 km. Có thể ví hệ thống đê của. Việt Nam cũng là một trường thành vạn lý để ngăn chặn giặc… nước.

Lịch sử sông Hồng

Với Hà Nội, nếu kể từ khi xuất hiện đê Cơ Xá vào thời Lý (đầu thế kỷ 12) để bảo vệ kinh thành Thàng Long dọc sông Hồng Nghi Tầm đến Lương Yên và đê Quai Vạc vào thời Trần, thì hệ thống đê sông Hồng cùa Hà Nội đã có một bề dày lịch sử đến 800 năm. Hà Nội có tuyến đê dài hơn 150 km. Có thề du khách sẽ hỏi: chỗ nào xưa kia Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) cho dừng thuyền cập bến sông Nhị để lên thành Đại La vừa đúng lúc Rồng Vàng xuất hiện? Xác định vị trí nhà vua dừng thuyền là công việc của các nhà sử học. Còn những điều đã ghi trong sử sách cho chúng ta biết ràng: Năm 1285 danh tướng Trần Nhật Duật đánh tan đoàn thuyền giặc Nguyên Mông ở cửa Hàm Tử, mở đường cho đại quân giải phóng Thăng Long. Cũng năm 1285 danh tướng Trần Quang Khải chiến tháng quân Nguyên Mông ở bến Chương Dương.

Sông Hồng gắn liền với nhiều chiến tích lịch sử Hà Nội
Sông Hồng gắn liền với nhiều chiến tích lịch sử Hà Nội

Năm 1789, đại quân của vua Quang Trung, tiến vào Thăng Long, đánh tan quân nhà Thanh. Tướng giặc là Tồn Sĩ Nghị cùng hàng vạn quân lính tháo chạy, cầu phao sông Hồng bị vỡ, xác giặc trôi đầy sông.

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sông Hồng của Hà Nội là nhân chứng cho những hy sinh mất mát và những chiến công oanh liệt của quân dân Hà Nội.

Từ ba bốn trăm năm trước, sông Hồng đã đem lại cho Hà Nội sức sóng của một trung tâm thương mại. Hàng hoá từ miền xuôi theo sông Hồng lên các tỉnh miền núi. Hàng lâm sản miền núi lại theo sông Hồng về đồng bằng. Những bến bờ sông Hồng ấy đã sánh ngang với những bến cảng sầm uất bên Châu Âu. Các tàu buôn của Pháp, Nhật, ý, Bồ Đào Nha V.V.. tấp nập cập bến sông Hồng.

Từ bao đời nay, vào dịp lễ hội mùa xuân và mùa thu, sông Hồng của Hà Nội lại rộn ràng tiếng trống, tiếng chiêng của những đoàn thuyền Rồng đi ra tận giữa sông rước nước sông Mẹ (người xưa gọi sông Hồng là sông Cái tức sông Mẹ) về thờ và tắm tượng.

Người hướng dẫn hãy đưa du khách xuống thuyền thực hiện tour du lịch trên sông Hồng – trên “con đường” nước mà xưa kia thuyền của vua Lý Thái Tổ đã từng đi. Du khách sẽ nhìn thấy bãi Tự Nhiên nơi xưa kia nàng công chúa đẹp tuyệt trần Tiên Dung, nhân chuyến đi chơi sông, thấy phong cảnh đẹp đã cho dừng thuyền, sai thị nữ quây màn để nàng tám trôn bãi cát trắng mịn. Nàng dội nước, cát dưới chân trôi đi, để lộ thân hình chàng trai họ Chừ dưới chân nàng. Duyên kỳ ngộ đố đã giúp một chàng trai nghèo khổ không mảnh vải che thân trở thành chồng nàng công chúa đẹp nết đẹp người. Thuyền cập bến để du khách theo bậc thang lên bờ thăm đền thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung (nay 1 thuộc xã Bỉnh Minh, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên).

Văn bia trong đền còn lưu bút tích của tiến sĩ, nhà thơ nổi tiếng Chu Mạnh Trỉnh đồng thời là công trình sư thiết kế, chỉ huy thi công khu danh lam thắng tích rộng hàng vạn mét vuông này.

Những cây cầu qua sông Hồng

Cầu Long Biên

Cầu Long Biên do người Pháp thiết kế và chỉ huy thi công. Cầu được khởi công năm 1898 và hoàn thành nãm 1902. Số thợ cầu là người Việt Nam bị tai nạn chết trong thời gian làm cầu lên tới hàng nghìn người. Cầu dài 2290 m (kể cà phần cầu dẫn). Cầu có 9 nhịp dài, 10 nhịp ngắn, nặng 17 nghìn tấn. Về hình dáng cầu Long Biên là một cây cầu đẹp, nhỉn từ xa co dáng như hình rồng lượn. Cầu có một đường sắt chạy ở khoang giữa, hai bên có hai đường cho xe ôtô, ngoài cùng là hai hành lang dành cho người đi bộ.

Từ lúc mới xây dựng xong đến năm 1945 cầu mang tên Đume (Pont Doumer là tên viên toàn quyền Pháp ở Đông Dương). Sau cách mạng Tháng 8-1945, cầu được đổi tên là Long Biên (tên một làng ven sông ở gần chân cầu).

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, cầu Long Biên là mục tiêu đánh phá quan trọng của Mỹ. Cầu bị bắn phá nặng hai đợt với 14 trận ném bom và bắn tên lửa. Hai nhịp cầu bị phá huỷ nhưng ngay sau đó ta lại sửa chữa để đảm bảo mạch máu giao thông vận tải trong thời chiến. Cuộc chiến đấu dũng cảm để bảo vệ cầu Long Biên của quân và dân ta là một trang sử anh hùng của Hà Nội.

Cầu Thăng Long

Cầu Thăng Long ở cách trung tâm Hà Nội hơn 10 km về phía tây bác (thuộc đất làng Chèm). Từ sân bay quốc tế Nội Bài qua cầu Thăng Long để vào trung tâm Hà Nội cd hai con đường để du khách tự chọn: Đường thứ nhất là theo đê sông Hồng sẽ qua các làng hoa Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm ven hồ Tầy. Đường thứ hai là theo con đường lớn cắt quốc lộ 11A qua Cầu Giấy rồi vào đường Kim Mã.

Sau gần 11 năm xây dựng, cầu Thăng Long thông xe chính thức ngày 9- 5- 1985. Quá trình xây dựng cầu Thăng Long có hai thời kỳ: từ 1971- 1978 là thời gian Trung Quốc giúp ta xây dựng cầu Thăng Long. Tháng 7-1978 Trung Quốc cắt viện trợ và rút hết chuyên gia, bỏ dở công trình với một số phần việc mới làm được rất ít.

Chỉ 4 tháng sau, Liên Xô quyết định giúp ta tiếp tục xây dựng cầu Thăng Long. Thời kỳ từ 1979 – 1985 cổng trình được thi công dưới sự giúp đỡ của Liên Xô và có sự thay đổi thiết kế cho cầu đẹp hơn, chất lượng tốt hơn.

Cầu Thăng Long có 2 tầng. Tầng trên 4 làn đường ôtô và 2 vệt đường dành cho người đi bộ, chiều ngang mặt cầu rộng 19,5 mét. Tầng dưới gồm 2 làn đường xe lửa, tuyến đường cho xe thô sơ. Mặt cầu rộng 17 mét kể cả hệ thống cầu dẫn, cầu Thăng Long dài hơn 5000 mét.Thăng Long là cây cầu lớn nhất Đông Nam Á vươn lên thanh thoát giữa một vùng ngô lúa bát ngát màu xanh của ngoại thành Hà Nội.

Cầu Chương Dương

Cầu Chương Dương được xây dựng ở vị trí gần cầu Long Biên. Cầu Chương Dương là công trình cầu lớn đầu tiên hoàn toàn do kỹ sư và công nhân Việt Nam tự thiết kế và thi công trong vòng 2 năm thì hoàn thành. Đây là một công trình được xây dựng với tốc độ nhanh.

Cầu gồm 11 nhip. Chiều dài (kể cả cầu dẫn) 1210,96 mét. Chiều rộng cầu 19,5 mét. Giữa cầu là 2 làn đường dành cho xe ôtô tải trọng lớn. Hai làn biên mỗi làn rộng 5 mét dành cho xe ôtô bốn chỗ ngồi, xe máy và xe thô sơ. Cạnh đổ là vệt đường dành cho người đi bộ. Cầu được thông xe chính thức ngày 30- 6-1985.

Những di tích lịch sử nổi tiếng tại Hà Nội

Nếu muốn khám phá Hà Nội, bạn muốn đến đâu nhất? Đừng bỏ lỡ những di tích lịch sử gắn liền với những câu chuyện hấp dẫn

Đình làng Cổ Loa

Đình làng Cổ Loa, nơi bá quan triều hội ngày xưa. Canh đình là am Bà Chúa tức miếu thờ công chúa Mỵ Châu. Trong am có một tảng đá hình người cụt đầu mà các cụ già bảo đó là tượng Mỵ Châu.

Tiếp đến là đền Thượng tức đền thờ An Dương Vương (được dựng trên nền nội cung ngày trước). Đền này mới làm lại hòi đầu thế kỷ XX. Trong đền có tượng An Dương Vương đúc bằng đồng (đầu thế kỷ XX). Trước đến là giếng Ngọc, tương truyền là nơi Trọng Thuỷ tự tử vì hối hận. Nhân dân cho rằng nước giếng này đem rửa ngọc trai thì sáng bội phần.

Những năm gần đây, ngành khảo cổ đã phát hiện nhiều di chi đồ đá, đồ đồng ở khu vực Cổ Loa, chứng tỏ nơi này đã có dân cư từ trước khi có kinh đô Cổ Loa.

Triệu Đà mang quân sang đánh nước Âu Lạc, lần nào cũng bị thua. Triệu Đà giả vờ cầu hoà, xin cho con trai là Trọng Thuỷ sang làm rể nhà vua. An Dương Vương gả con gái Mỵ Châu cho Trọng Thuy và cho chàng ở gửi rể. Hai vợ chồng trẻ này rất yêu thương nhau. Nhưng Trọng Thuỷ theo lệnh cha do thám kinh thành vua Thục. Chàng nghe nái nhà vua có chiếc nỏ thần, tìm cách lấy bằng được. Ba năm ở thành Cổ Loa, Trọng Thuỷ mua chuộc nhiều người, nắm được tình hình và lừa Mỵ Châu đánh tráo được chiếc nỏ thần. Trọng Thuỷ xin về nước thăm cha, lúc ra đi chàng dặn Mỵ Châu: Nếu có chiến tranh giữa hai nước, nàng hãy lấy một vật gì làm dấu hiệu dề tội tìm dược nàng. Mỵ Châu nói Thiếp sẽ rắc lông ngỗng trên đường để chàng tìm thấy thiếp. Quả nhiên, lần này Triệu Đà mang quân sang đánh thật. Vua An Dương Vương mất nỏ thần, thua trận, tìm đường tháo chạy. Vua cho Mỵ Châu ngồi sau lưng mình trên một con ngựa, rồi thúc ngựa chạy về phía Nam. Đi đến đâu, Mỵ Châu rắc lông ngỗng đến đấy. Trọng Thuỷ theo cha sang đánh Âu Lạc, nhận ra dấu lông ngỗng của Mỵ Châu và dẫn quân đuổi theo. Vua An Dương Vương chạy đến Nghệ An, ở một nơi sát bờ biển, cùng đường than thở. Thần Kim Qui (Rùa Vàng đã cho nhà vua chiếc nỏ thần) hiện lên bảo: Giặc ngồi ngay sau lưng nhà vua kia kìa. Vua quay lại, thấy Mỵ Châu vẫn tiếp tục dải lông ngỗng, tức giận rút gươm chém con gái rồi đâm đầu xuống biển tự tử. Trọng Thuỷ tới nơi, ôm lấy xác Mỵ Châu khóc thương và mang về chôn ở Loa Thành. Ngày ngày, thương nhớ Mỵ Châu, Trọng Thuỷ ra ngồi bên bờ giếng Ngọc. Một lần nhìn xuống nước thấy hình ảnh Mỵ Châu hiện lên, chàng nhảy xuống giếng tự tử.

Người ta đồn rằng khi chết, Mỵ Châu hoá thành ngọc trai và những con trai lấy ở Biển Đông đem về rửa nước Giếng Ngọc thì sáng rực lên.

Khu di tích gò Đống Đa

Khu di tích Đống Đa và Chùa Bộc Hằng năm cứ đến ngày mồng 5 tết âm lịch, nhân dân Hà Nội và các tỉnh, đặc biệt là nhân dân tỉnh Bình Định, quê hương của Nguyễn Huệ lại tụ hội về gò Đống Đa (nay thuộc quận Đống Đa – Hà Nội) để kỷ niệm chiến thắng oanh liệt của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đại phá hơn 29 vạn quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu (1789).

Kết quả hình ảnh cho gò đống đa

Ngày 5 tết đúng là ngày đại quân của Nguyễn Huệ tiến vào giải phòng Thăng Long.

Gò Đống Đa nơi chôn xác hàng chục vạn quân Thanh, là bằng chứng về sự thất bại của giặc Thanh. Tại đây, có bức tượng vua Quang Trung oai phong sau chiến thắng được dựng lên trong một khuôn viên đẹp để nhân dân và du khách đến tưởng niệm.

Cách gò Đống Đa khoảng 1 km về phía Nam, có một ngôi chùa đã được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích, đó là Chùa Bộc, tên chữ là Thiên Phúc Tự. Chùa thờ Phật, nhưng đặc biệt có bức tượng lớn nhân dân quen gọi là tượng Đức ông. Năm 1962, các nhà sử học Hà Nội đã phát hiện dòng chữ khắc sau bệ tượng: Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng (tượng vua Quang Trung tạo năm Bính Ngọ). Sự kiện này đã nổi lên lòng tôn kính của nhân dân đối với vị anh hùng Nguyễn Huệ. Tượng Quang Trung thờ trong chùa Bộc, vị trí chùa xưa kia cũng nằm trong bán kính trận địa của đại quân Nguyễn Huệ.

Công viên Lê Nin

Công viên Lê Nin cạnh của công viên này là các phố Trần Nhân Tông, Nguyễn Đình Chiểu, Lê Duẩn và Đại Cồ Việt. Với diện tích hơn 50 ha, công viên Lê Nin là một khu thiên nhiên có hồ nước, cây xanh, có đảo chim (đảo Hoà Bình) và nhiều khu vui chơi cho thiếu nhi.

Vườn thú và công viên Thủ Lệ

Vườn thú và công viên Thủ Lệ ở phía tây thành phố, trên một khu đất rộng hơn 30 ha, có hồ nước, có thế đất tự nhiên như hình rồng lượn. Vườn thú Thủ lệ đã có quan hệ với nhiều vườn thú trên thế giới. Hiện nay vườn thú chia thành nhiều khu vực: khu nuôi cá, loài bò sát có trăn, rắn, kỳ đà V.V.. ở sát hồ nước. Khu chim muông có công, trĩ, uyên ương, hạc, cò, hoạ mi, hoàng yến V.V.. Khu thú dữ có hổ, báo, gấu, sư tử, voi V.V.. Ngoài khu nuôi thú, công viên còn cổ các khu cây cảnh, hoa… khu vui chơi giải trí và sân khấu.

Vườn thú Thủ lệ nằm kề bên đền Voi Phục. Đền được lập từ thời Lý (1065) để thờ vị danh tướng có công đánh giặc giữ nước. Vị danh tướng đổ tương truyền là Linh Lăng Vương, sau khi dẹp tan quân Tống thì bay về trời. Uy danh của người còn trấn giữ phía tây kinh thành Thăng Long.

Đài kỷ niệm Khâm Thiên

Đài kỷ niệm Khâm Thiên và trận Điện Biên Phủ trên không Việt Nam có trận Điện Biên Phủ (Lai Châu), do chiến thắng ở Điện Biên Phủ ngày 7-5- 1954 quân ta toàn tháng, quân Pháp kéo cờ trắng ra hàng, quyết định đến kết quả Hội nghị Geneve 1954, lập lại hoà bình ở Đông Dương. Còn Hà Nội có trận Điện Biên Phủ trên không. Bị sa lầy ở chiến trường, nhưng lại muốn dành ưu thế trên bàn đàm phán, chính quyền Nixơn quyết định thực hiện tội ác lớn nhất đối với nhân dân ta, dùng máy bay B52 ném bom rải thảm Hà Nội suốt 12 ngày đêm, từ ngày 18 đến 29 tháng 12-1972.

Nhiều khu vực ở Hà Nội bị ném bom, nhưng khủng khiếp nhất là trận ném bom đêm 26-12-1972 xuống phố Khâm Thiên: 283 người chết, 266 người bị thương, 534 ngôi nhà bị phá huỷ hoàn toàn và hơn 1200 ngôi nhà khác bị hư hỏng.

Để trừng trị lại tội ác thế kỷ của đế quốc Mỹ, lực lượng phòng không của quân và dân ta đã đánh trả bọn chúng thích đáng: 34 pháo đài bay B52 bị bắn rơi và chính quyền Nixơn phải chấp nhận ký kết hiệp nghị hoà bình, cam kết rút hết quân đội Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Ngày 23-1-1973 hiệp định Paris được ký kết lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Ngày nay du khách từ các nước đến thăm Hà Nội, muốm tìm lại chứng tích của cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ gây ra, người hướng dẫn du lịch hãy đưa họ đến phố Khâm Thiên, tháp nén nhang tại Đài tưởng niệm những người đã thiệt mạng đêm 26-12-1972. Nếu đi từ hồ Thiền Quang lại, Đài tưởng niệm ở phía tay trái, quãng gần giữa phố.

Phố Khâm Thiên xưa và nay Cách đây hơn 500 năm, ở khu vực này có một đài thiên văn của Việt Nam gọi là Khâm Thiên giám, có nhiệm vụ nghiên cứu khí tượng, theo dõi diễn biến về thời tiết và đo đạc sự vận động của các thiên thể để lấy căn cứ làm ra lịch hàng năm. Cách đây khoảng bảy, tám chục năm ở ngõ chợ Khâm Thiên ngày nay vẫn còn di tích của Đài thiên văn cổ ấy trên một gò đất cao gọi là núi Thiên Đài. Đó chính là nguồn gốc tên gọi Khâm Thiên.

Phố Khâm Thiên dài 1170 m, là một trong những phố khá dài của Hà Nội. Hơn thế, phố lại có nhiều ngõ rẽ ngang đi sâu vào trong, có tới 26 ngõ ở cả hai bên so chẵn và lẻ mang nhưng tên gọi của các thôn làng ngày xưa như: Tương Thuận, Trung Tiền, Trung Tả, Tồ Tiền, Lệnh Cư, Thổ Quan V.V.. Phố dài, lại nhiều ngõ nên dân cư rất đông. Người có cửa hàng ngoài mặt phố thì mở cửa hàng, người ở trong các ngõ thi bán hàng trong ngõ chợ… Và cũng vi nơi đây nhiều dân nên máy bay B52 của Mỹ chọn làm trọng điểm trút hết bom. Thời thuộc Pháp, Khâm Thiên là một phố nghèo. “Nghề” chính được mở cửa hiệu ở phố này là những sòng bạc, tiệm nhảy, nhà cô đầu (nơi để những người giàu đến án chơi, hát xướng và ngủ qua đêm với các ca nữ).

Khâm Thiên ngày nay đã trở thành một khu buôn bán tấp nập các mặt hàng, nhiều nhất vẫn là những cửa hàng may quần áo các kiểu. Người các tỉnh còn đến Khâm Thiên buôn quần áo may sẵn.

Tóm tắt lịch sử Hà Nội ngàn năm

Theo tài liệu thế giới nghiên cứu lịch sử các thủ đô ở vùng Đông Nam Á như Viên Chăn (Lào), Phnômpênh (Campuchia), Bang Kok (Thái Lan), Kualalampe (Malaisia), Giakacta (Indonesia), v.v… thì trong số các thủ đô trên, Hà Nội là thủ đô nhiều tuổi hơn cả.

Tóm tắt lịch sử Hà Nội ngàn năm
Tóm tắt lịch sử Hà Nội ngàn năm

Thủ đô Hà Nội ngày nay xuất hiện trong lịch sử dân tộc Việt Nam chính thức vào năm 1010 (mùa thu tháng 7 năm Canh Tuất)  với tên gọi Thăng Long.

Nhà Lý

Người sáng lập Thăng Long là Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) cũng là người khai sinh triều đại Lý huy hoàng trong lịch sử Việt Nam. Ông là một nhà chính trị, một nhà quấn sự, một nhà văn hoá lớn.

Lên ngôi ở Hoa Lư (Ninh Bình), thấy vùng đất này không thuận cho việc phát triển thế nước đi lên, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Khi đoàn thuyền của nhà vua vừa cập bến sông Nhị (sông Hồng) có rồng vàng hiện ra, thấy điềm lành, vua Lý cho đổi tên Đại La thành Thăng Long (Rồng bay lên) – nay là Hà Nội.

Chiểu dời đô của vua Lý Thái Tổ nối rõ mục đích dời đô là:”đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời saun. Nơi co đủ điều kĩện để thực hiện mục đích đổ chính là Thăng Long: “Ở trung tảm bờ cõi dát nước, dược cái thế rồng cuộn, hổ ngồit vị trí ỏ giữa bốn phương Đông, Tấy, Nam, Bắc tiện hình thế núi sông sau trước. Ở dó địa thế rộng mà bàng phàngy vùng đát cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rát phong phú tốt tươi. Xem khảp nước Việt ta,f chỗ áy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhát của đé vương muôn dời”.

Tại Kinh thành Thăng Long, nhà Lý cho xây dựng nhiều lâu đài,  cung điện, đền chùa và thành luỹ bảo vệ. Từ đố, Thăng Long với  hình ảnh Rồng bay lên đẹp đẽ và tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, mở đàu một giai đoạn phát triển lớn của đất nước. Cũng vì ý nghỉa đố, Lý Thái Tổ đặt quốc hiệu là Đại Việt. Trước đố, thế kỷ m (trước công nguyôn) Thục Phán dựng nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương cũng dời đô từ miền trung du về miền Cổ Loa. Ngày nay tại xã Cổ Loa, huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội, vẫn còn di tích vòng thành Cổ Loa xây đáp cách đây 23 thế kỷ.

Nhỉn vào lịch sử thăng trầm của đất nước càng thấy được vị thế của đất Thăng Long so với các vùng khác trong nước là không đâu bằng. Triều đại Lý mở đầu, định đô ở Thăng Long đã chiến tháng hoàn toàn quân xâm lược Tống (xâm lược nước ta lần thứ hai). Tháng 3-1077 Lý Thường Kiệt người con sính ra ở Thăng Long, người anh hùng dân tộc đã biết kết hợp tài tình giữa quân sự, chính trị và ngoại giao, lập nên chiến thắng cố giá trị đè bẹp mộng tưởng xâm lược nước ta của vua quan nhà Tống. Từ sau chiến thắng đố, suốt 200 năm sau, nhà Tống không dám đụng chạm đến nước ta.

Nhà Trần

Nhà Lý suy vong. Triều Trần thành lập. Vua Trần Thái lồng lên ngôi năm 1226, vẫn đống đô ở Thăng Long. Kinh thành Thăng Long được mở rộng hơn trước, khu vực cư trú của nhân dân được chia thành 61 phường.

Triều đại nhà Trần đã lập nên chiến công hiển hách: ba làn chiến tháng những đạo quân xâm lược khét tiếng của đế quốc Nguyên Mông tràn sang nước ta trong vòng 30 năm (1258 – 1288). Tại kinh thành Thăng Long, đầu năm 1285 khi giặc Nguyên đang ào ào áp sát biên giới nước ta, vua Trần Nhân Tồng triệu tập hội nghị Diên Hồng. Các cụ phụ lão những đại biểu có uy tín của nhân dân cả nước được nhà vua mời về kinh thành để hỏi kế đánh giặc. Tiếng hô đồng thanh đánh! vang lên từ hội nghị Diên Hồng lại một lần nữa khẳng định đất thiêng Thăng Long là nơi qui tụ khí phách anh hùng dân tộc.

Nhà Trần suy vong. Nàm 1400 Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra triều Hồ và cho xây dựng kinh đô mới ở vùng An Tồn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) gọi là Tây Đô (nhân dân quen gọi là thành nhà Hồ). Thời kỳ này Thăng Long gọi là Đông Đô.

Lợi dụng sự suy yếu của các vương triều nước ta, cuối năm 1406, nhà Minh huy động tới 20 vạn quân gồm bộ binh và kỵ binh vượt biên giới phía bắc vào xâm lược nước ta. Nhà Hồ chống đỡ với quân xâm lược không được bao lâu thì cha con Hồ Quí Ly bị giặc bắt đưa về giết ở Trung Quốc. Nãm 1407 giặc Minh chiếm Kinh thành Thàng Long, đổi tên là Đông Quan.

Nhà Lê

Lê Lợi khởi nghỉa ở Lam Sơn (Thanh Hoá), sau 10 năm chiến đấu đã đánh đuổi toàn bộ quân Minh ra khỏi bờ cõi, giải phống kinh thành Đông Quan và sau đổ đổi tên là Đông Kinh.

Tới triều Mạc, kinh thành trở lại tên gọi Thăng Long (1527).

Thời Lê – Trịnh (1533 – 1786) Thăng Long gồm hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức thuộc phủ Phụng Thiên.

Nhà Nguyễn

Năm 1802 Gia Long lập triều Nguyễn, đổng đô ở Phú Xuyên (Huế). Thãng Long vẫn là thủ phủ của 11 trấn Bắc Thành, nhưng chữ Long là Rồng được đổi thành chữ Long là Thịnh.

Năm 1831 Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội bao gồm .thành Thăng Long và một số vùng lân cận. Tền gọi Hà Nội cố từ đđ.

Năm 1858 triều đình Nguyễn bán nước, dâng Hà Nội cho Pháp. Thủ đô trở thành một thành phố thuộc Pháp suốt hơn nửa thế kỷ và vẫn mang tên là Hà Nội.

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2- 9-1945 tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, công bố với thế giới khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hà Nội trở lại vị trí thủ đô của một nước độc lập.

Thực dân Pháp tiếp tục dã tâm xâm lược nước ta. Dưởi sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta lại trường kỳ kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm (1946 – 1954) và kết thúc thắng lợi bàng chiến dịch Điện Biên Phủ toàn tháng ngày 7- 5-1954.

Năm 1954

Hội nghị Genève (Thuỵ Sĩ) công nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam dân chủ cộng hoà từ vỉ tuyến 17 trở ra Bác. Ngày 10-10-1954 thủ đô Hà Nội được giải phóng khỏi ách thực dân Pháp.

Trước khi rút khỏi Việt Nam, Pháp đã “bàn giao” miền Nam cho đế quốc Mỹ. Thế là nhân dân ta lại phải một làn nữa kháng chiến chống Mỹ hơn 20 năm và kết thúc bằng chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30- 4- 1975, giải phống hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối. Đất nước được thống nhất, Quốc hội khoá VI họp ngày 25-4-1976 đã chọn Hà Nội làm thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lịch sử Hà Nội thời kỳ đổi mới

Từ ngày ấy đến nay, Hà Nội đã trải qua nhiều tháng năm phấn đấu gian khổ để đi lên cùng cả nước.

Từ hai thập kỷ gần đây, Hà Nội không những mở rộng về bốn hướng mà đã vươn lên tầm cao bằng những công trình xây dựng ngày càng đồ sộ. Chiều dài cắc đường phố’trong nội thành cộng lại tới gàn 400 km. Hà Nội ngày xưa trong tâm tưởng mọi người là 36 phố phường thì ngày nay con số đđ đã gấp lên nhiều lần, tới gần 500 phó phường (con số này sẽ còn tăng lên nữa).

Số dân Hà Nội hiện nay nếu kể cả ngoại thành là hơn 2 triệu người, ơ thời điểm này, người Hà Nội đang cùng với nhân dân cả nước chuẩn bị hành trang để kỷ niệm 1000 năm thành lập Hà Nội – nghìn nãm Thăng Long (1010 – 2010).

Theo quy hoạch đang được thực hiện thì đến năm 2010, Hà Nội sẽ có khoảng 3 triệu dân cả nội và ngoại thành. Diện tích thành phố sẽ lên tới 8000 km2. Xung quanh nội thành là các khu công nghiệp công nghệ cao, các thành phố vệ tinh… Lúc đđ số quận và số đường phố sẽ tăng khoảng gấp đôi hiện nay.

Tên gọi Hà Nội qua các thời

Địa điểm và tên gọi thủ đô Việt Nam từ thời vua Hùng đến nay:

Thời Hùng Vương (2879 – 258 trước CN) thủ đô ở Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ) ngày nay còn di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Nãm 257 trước CN, Thục Phán thống nhất được hai nước Âu Vỉệt và Lạc Việt, đặt quốc hiệu là Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, đổng đô ở Phong Châu (Phú Thọ).

Sau chiến công vỉ đại đánh tháng 50 vạn quân xâm lược nhà Tần, An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Từ đố Cổ Loa trở thành kinh đô (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Thời Trưng Vương (40 – 43) tức thế kỷ I sau CN thủ đô ở Mê Linh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).

Thời tiền Lý (542 – 602) thủ đô ở Long Biên (nay thuộc Hà Nội).

Thời Bố Cái Đại Vương và họ Khúc, họ Dương (thế kỷ vm đến thế kỷ X) thủ đô ở Đại La (nay là Hà Nội).

Thời kỳ Ngô Quyền (938 – 967) thủ đô ở Cổ Loa (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Thời nhà Đinh và (tiền) Lê (968 – 1009) thủ đô ở Hoa Lư (Ninh Bình).

Thời Lý, Trần, Lê thế kỷ XI đến thế kỷ xvm, thủ đô ở Thảng Long, Hà Nội).

Thời Hồ (1400 – 1407) thủ đô rời về Thanh Hoá gọi là Tây Đô (Thăng Long gọĩ là Đông Đô).

Sau 10 nãm kháng chiến chống quàn Minh giành thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua năm 1428, đặt thủ đô ở Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh.

Thời lầy Sơn, vua Quang Trung (1788 – 1801) đặt thủ đô ở Phú Xuân (Huế).

Thời Nguyễn (1802 – 1945) thủ đô cũng ở Phú Xuân.

Thời Việt Nam DCCH (từ 1945 trở đi) thủ đô là Hà Nội (Thăng Long xưa).

Với bề dày gần 1000 năm lịch sử, Hà Nội có gần 500 di tích lịch sử văn hoá đã được Bộ Vãn hoá thông tin công nhận và xếp hạng di tích.

Thành cổ Hà Nội

Cố từ đời Lý (thế kỷ 11). Lúc đầu thành bằng đất, về sau xây bằng gạch. Phía ngoài thành cố đảo, ngòi Ngự (con ngòi dành

riêng cho thuyền của vua nối liền với sông Hồng). Như vậy thuyên vua có thể theo sông TO Lịch rồi ngòi Ngự để ghẻ vào cung vua.

Thành có bốn cửa mở theo bốn hướng Đông, Tầy, Nam, Bắc. Bến sông Đông Bộ Đầu (gần dốc phố Hàng Than và Hoè Nhai) là quân cảng chính cùa kinh thành. Phía trước cửa Tầy (trước chùa Một Cột) là một quảng trường, thời nhà Lý hay mở hộí mừng sinh nhật vua. Phía cửa Nam có chợ và quảng trường nơi quan dân mở hội tung còn ngày Tết (chỗ vườn hoa Cửa Nam ngày trước, nay là các làn đường giao thông mới mở). Cửa Bắc mở ra trước sông lồ Lịch tức đường Phan Đình Phùng ngày nay.

Trong thành có núi Nùng, trên xây điện Kính Thiên. Thành chia làm 2 khu: khu Cấm thành là nơi vua ở, cổ cung Long An, Long Thuỵ để vua nghỉ ngơi và cung Thuý Hoa là nơi ở của vài trăm cung tần mỹ nữ. Bên ngoài Cấm thành cd điện Càn Nguyên, phía trước điện là hồ Long Tri cổ trường đấu voi, cũng là nơi để cho quân sĩ thi tập múa võ, đá càu, hất phất… Ngoài ra còn có làu chuông, treo quả chuông lớn để ai cố việc oan ức thì lên đánh chuông sẽ được vua đích thân nghe và xử.

Xung quanh thành cố đắp một luỹ đất vừa làm thành, vừa làm đê, đđ là La Thành, hay còn gọi là Đại La Thành nay vẫn còn dấu vết. La Thành cố trổ nhiều cửa ô, c<5 lính canh gác như cửa ô Càu Giấy, cửa ô Yên Phụ, cửa ô Đống Mác, cửa ô Chợ Dừa…

Cuối thời Lý, Hoàng cung bị đốt cháy gần hết. Nhà Lê lên, phải xây dựng lại.

Đời Lê, thành được mở rộng sang phía Đông, chúa Trịnh lại xây phủ ở phía Đông Nam.

Năm 1803 vua Gia Long nhà Nguyễn đòng đô ở Huế, ra lệnh phá thành cổ Hà Nội, để xây thành mới vào năm 1805 theo kiểu vauban của Pháp. Thành hình vuông, bốn gdc có múi khế nhô ra, chu vi 5.142m, cao 4,4m, dày 16m. Mỗi phía có một cửa, riêng phía Nam cò 2 cửa. Cửa Bắc còn đến ngày nay vẫn mang vết đạn đại bác cùa quân Pháp bắn ngày 25- 4-1882 trong đợt Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Vị tướng giữ thành là Hoàng Diệu biết không giữ nổi thành đa tự treo cổ ở cây đa Võ Miếu (nay ở cạnh sổ nhà 32 đường Điện Biên Phủ).

Thành này cũng đã bị người Pháp phá huỷ từ nãm 1884 – 1887, nay chỉ còn lại vết tích điện Kính Thiên.

Điện Kính Thiên Xây năm 1428 đã bị phá hết nay chỉ còn lại nền và thềm đá tạc vào năm 1467. Đđ là bốn bậc đá chạm chạy dài suốt 8 cấp tạo thành 3 lối đi lên điện. Hai thành giữa chạm hình rồng uốn khúc. Hai dãy thành bên chạm những khối mây lửa cuồn cuộn và hoa lá cách điệu thể hiện tài nghệ chạm khắc đá của các nghệ nhân xưa.

Trong kho tàng cổ vật của Hà Nội, phải kể đến 3 pho tượng bàng đồng đen cỡ lớn, đặt thờ tại ba đền, chùa nội, ngoại thành.

–        Tượng Trấn Vũ bằng đồng đen đặt thờ tạỉ đền Quán Thánh (quận Ba Đình): tượng đúc năm 1677 đời vua Lê Hy Tồng. Tượng nặng 3.600 kg, cao 3,28m, chu vi 3,48m. Tượng cố hình dáng như một đạo sĩ, tốc bỏ xoã, một tay bất quyết,, một tay chổng thanh gươm lên lưng con rùa, có một con rắn quấn vào thanh gươm.

–        Tượng Trấn Vũ bằng đồng đen đặt thờ ở đền Trấn Vũ xã Thạch Bàn huyện Gia Lâm. Tượng được khởĩ công đúc từ năm 1788 đến năm 1802 mới hoàn thành, nặng 4.000 kg, cao 3,8m, chu vi tới 8m. Tượng ngồi uy nghi mặc áo giáp, đội mũ, chân để trần, cũng một tay bát quyết, một tay chống gươm cố rắn quấn.

–        Pho tượng đồng thứ ba đúc gần đây nhất và cũng co trọng lượng lớn nhất Việt Nam là tượng Phật A- di- đà đặt thờ tại chùa Ngũ Xá (quận Ba Đình). Tượng nặng 9.500 kg, cao 3,95m, chu vi 10,5 m, va ĩ rộng 2,3m, mắt và miệng đo theo chiều ngang bầng 20 cm, tai dài hơn 60 cm theo chiều dọc. Tượng đúc năm 1952 do kíp thợ đúc đòng của làng Ngũ Xá vốn nổi tiếng về kỹ thuật đúc đồng của Hà Nội đảm nhiệm.

Giới thiệu về địa lý Thủ Đô Hà Nội

Vị trí

Địa lý Hà Nội thuộc đồng bằng sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc và Thái Nguyên, phía Tầy giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên, phía Nam giáp tỉnh Hoà Bỉnh. Thành phố Hà Nội ở vị trí từ 20°25’ vĩ độ Bắc và từ 105° 15’ đến 106°03’ kinh độ Đông.

  • Diện tích: 920,6 Km2
  • Số dân: 2.672.122 người
  • Mật độ số dân: 2.902,6 người / Km2 (theo số liệu năm 2000)

Khí hậu

Khí hậu Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có gió mùa. Nếu phân chia thật chi tiết và tinh tế, Hà Nội cố đủ bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nhưng để giúp người ở xa dễ nhận biết khí hậu Hà Nội khi chuẩn bị đến thủ đô này, có thể tạm chia thành 2 mùa chính là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá lạnh, không mưa to. Từ tháng 1 đến tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng là tiết Xuân nên có mưa nhẹ (mưa Xuân) đủ độ ẩm cho cây cối đâm trồi nảy lộc. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng có mưa to và bão. Trong các tháng 9, 10 Hà Nội có những ngày thu. Mùa Thu Hà Nội trời trong xanh, gió mát. Những ngày cuối thu se se lạnh và nhanh chóng hoà nhập vào mùa Đông.

Địa lý hà nội
Địa lý hà nội

Nhiệt độ trung bình mùa Đông: 17,2°c (lúc thấp nhất xuống tới 5°C). Trung bình mùa hạ: 29,2°c (lúc cao nhất lên tới 40°C). Nhiệt độ trung bình cả nãm: 23,2°c. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800 mm.

Sông Hồng là vùng đất cổ, Hà Nội được sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp tạo nên, do đổ Hà Nội gắn bổ với sông Hòng mật thiết như con với mẹ. Xưa kia người ta đã gọi sông Hồng là sông Cái- sông Mẹ. Tên gọi Hà Nội cổ ý nghĩa là vùng đất bên trong sông. Đoạn sồng Hồng ôm lấy Hà Nội dài gần 100 km chiếm 1/5 chiều dài của sông Hồng trên đất Việt Nam. Hà Nội có hơn 150 km đê sông Hồng.

Các sông khác chày qua Hà Nội là sông Đường, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Đặc biệt sông Tô Lịch đã được nhắc đến nhiều trong văn chương Hà Nội xưa như một con sông đẹp chảy trong lòng thành phố. Ngày nay, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu chỉ cổ giá trị như một hệ thống thoát nước cho thành phố. Nhà nước đã có kế hoạch cải tạo hai con sông này để trả lại vẻ đẹp ban đầu.

Hồ Hà Nội là thành phố của những hồ đẹp 18 hồ với diện tích mặt nước hơn 220 ha. Những hồ nổi tiếng đã đi vào văn thơ là hồ Hpàn Kiếm (hồ Gươm), Hồ Tầy, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thủ lệ, hồ Giảng Võ… đổ còn là những lá phổi xanh của thành phố với vườn hoa và hàng hàng, lớp lớp cây xanh tạo cho thành phố nguồn sinh lực trong thiên nhiên tươi mát.

Hiếm có thủ đô nào với diện tích không lớn lắm mà có nhiều hồ như Hà Nội. Khoảng 5000 năm trước, dòng sông Hồng chảy qua khu vực nội thành hiện nay sau đo dòng sông ngày càng tiến về phía đông, để lại khúc sông Hòng và những bãi phù sa. Phù sa lấp dàn khúc sông cổ ấy và tạo thành đất đai nội thành thủ đô. Những nơi sâu nhất của khúc sông cổ ấy chưa bị phù sa bồi lấp chính là các hồ hiện nay.

Cũng do vị trí kiến tạo đặc biệt, Hà Nội nằm ở vị trí không bị động đất lớn và là một thành phố sông – hồ.

Giao thông

Giao thông Hiện nay Hà Nội đang chuyển mình cùng cả nước, hàng loạt phố mới, với những đại lộ, đường cao cấp ra đời. Nhiều khách sạn, công sở cao tầng hiện đại, đan xen với các khu phố cổ tạo nên một dáng vẻ mới cho thành phố gần 1000 năm. Sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm khoảng 40 km. Đây là một trong hai sân bay lớn nhất nước với nhiều đường bay trong và ngoài nước. Sân bay đang được xây dựng lại thành một sân bay hiện đại.

Khu vực hành chính

Khu vực hành chính: Hà Nội chia thành 7 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành.

Quận Hoàn Kiếm là trung tâm Thủ đô, có các cơ quan đầu não của thành phố, các khu thương mại lớn, các nghê thu công truyền thông. Tbàn bộ khu phô cổ trong danh mục bảo tôn di sản nằm trong quận này.

Quận Ba Đình có quảng trường Ba Đình lịch sử và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là khu vực cổ nhiều cơ quan Chính phủ, nhiều đại sứ quán các nước và các di tích lịch sử thắng cảnh.

Quân Đống Đa có nhiều khu dân cư lớn, mới xây dựng trong vòng hai, ba thập kỷ gần đây như: khu Kim Liên, Trung Tự. Quận Đống Đa còn nhiều di tích lịch sử như gò Đống Đa, chùa Bộc, chùa Láng…

Quận Hai Bà Trưng cổ nhiều công trình mới xây dựng đã và đang hình thành trên trục đường Giải Phổng (quốc lộ 1). Một làng đại học phía Nam thành phố đã bước đầu hình thành với Bộ Giáo dục và đào tạo, các trường đại học Bách khoa, Xây dựng, Kinh tế Quốc dân v.v.

Quận Tây Hồ được thành lập tháng 10 năm 1995 do yêu cầu phát triển của Thủ đô. Mặt nước hồ chiếm 48% diện tích toàn quận. Nơi đây đã nổi danh với những làng hoa đào Nhật lần, làng quất Quảng Bá, làng cây cảnh Nghi làm… và hơn 20 di tích lịch sử được Nhà nước xếp hạng là thế mạnh của quận. Một dự án xây dựng quận Tầy Hồ thành trung tâm du lịch của Hà Nội đang được thực thi từng bước.

Quận Thanh Xuân mới thành lập tháng 1 năm 1997. Địa bàn quận nằm theo trục đường lớn mang tên danh nhân Nguyễn Trãi. Có nhiều trường đại học như: Ngoại ngữ, Kiến trúc, Cao đẳng sư phạm nhạc hoạ, An ninh V.V..

Quận Câu Giấy mới thành lập tháng 8-1997. Nơi đây là khu dân cư mới xây dựng, bên cạnh đường cao tốc Thăng Long – Nộí Bài. Nhiều trường học, viện nghiên cứu được xây dựng ở quận Cầu Giấy.