Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc

( Cột cờ Lũng Cú ) Nếu mô phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc thành một chóp nón, thì hai điểm thấp nhất theo kinh độ là Tây Trang – Điện Biên và Xa Vĩ – Móng Cái, còn đỉnh của chóp này chính là Lũng Cú nằm tại Vĩ độ 23021 Bắc và là điểm cao nhất cực Bắc Việt Nam.

Nhưng theo số liệu nghiên cứu chính xác thì bản Lô Lô Chải với 80 hộ, gần 400 khẩu mới là điểm cao nhất, nhọn nhất của hình chóp nón, Lũng Cú mới là nhì thôi. Nhưng Lũng Cú trước nay vẫn nổi trội hơn trong tâm linh lẫn tâm thức của con dân Việt về cương vực lẫn chủ quyền quốc gia. Có lẽ phần nổi trội, ấn tượng ấy là lá cờ với diện tích 54 m2 đang tung bay trên đỉnh cột cờ Lũng Cú kia.

Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc
Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc

Ý nghĩa của tên gọi Lũng Cú

Từ bãi đỗ xe giữa lưng chừng núi, chinh phục 200 bậc đá lên độ cao 1700m của đỉnh núi có địa danh là Lũng Cú. Lũng trong tiếng Mông là ngô, Lũng Cú là thung lũng ngô. Có tên vậy là vì từ xưa đến nay, cả cánh đồng Thèn Pả – cánh đồng lớn nhất ở Lũng Cú đều trồng ngô. Đó là cách giải thích đơn giản nhất, chất phác như chính con người và cuộc sống nơi đây. Nhưng cũng có cách lý giải theo huyền thoại về ngọn núi Long cung nơi rồng ở. Người dân ở đây vẫn kể cho nhau nghe về sự tích rồng thiêng đến ở tại ngọn núi linh Lũng Cú hay xưa kia là núi rồng. Nhưng nghe nói ở gần đỉnh Lũng Cú về phía Tây có 2 vũng nước mà trên độ cao chót vót này không bao giờ cạn cả. Nông thôi nhưng nước rất trong. Hai vũng ấy được dân ở đây coi như 2 cái  giếng.

Hơn thế nữa là long nhã tức là hai mắt rồng. Đời sống người dân nơi đây rất thiếu thốn về nước sinh hoạt, điều đó đã làm cho rồng tiên động lòng trắc ẩn. Nên trước khi bay về trời đã để lại đôi mắt cho dân làng, từ đôi mắt đã tạo nên hai chiếc hồ. Một bên là hồ của làng Then Pả của dân tộc Mông. Một bên là hồ của làng Lô Lô Chải. Nước không cứ sâu, núi không cứ cao nhưng có rồng đến ở đều là đất linh thiêng. Nếu cứ chiểu theo câu nói của người xưa, thì điểm cực Bắc này linh thiên mọi nhẽ. Hay chữ nghĩa một chút Lũng Cú là đọc chệch âm Hán sang âm Hmông từ Long Tổ nghĩa là trống của nhà vua, nguyên do là vì vua Quang Trung. Có sách nói rằng, trước đó là thời Lê Lợi, sau khi đại thắng quân xâm lược đã cho treo cái trống thật to ở trạm gác vùng biên này. Dùng cái trống ấy báo tin dữ tin lành về sự an nguy của biên ải. Mỗi lúc cầm canh âm thanh chủ quyền ấy lại vang lên 3 hồi đĩnh đạc, cách mấy dặm còn nghe được. Tiếng trống vang trên miền biên diễn này, khiến người dân có thêm một điểm tựa tinh thần. Tiếng trống của cha ông từ thủa xa xưa và sắc đỏ là cờ tổ quốc hôm nay, bay hiên ngang trên bầu trời tổ quốc địa đầu là một lời nhắc nhở với cháu con về chủ quyền đất nước.

Khi Lý Thường Kiệt hồi quân chấn ải biên thùy, thì ông đã cho cắm một lá cờ tại nơi này để đánh dấu mốc chủ quyền lãnh thổ. Cũng chính vì lá cờ đó mà trong suốt quá trình lịch sử, mảnh đất biên ải này vẫn luôn được giữ vững.

Trước khi qua thăm cột cờ, du khách nên ghé qua đồn biên phòng Lũng Cú. Nơi từng ngày từng giờ các anh đang đối đầu với thời tiết khắc nghiệt của vùng cao núi thẳm, với những kẻ thù dấu mặt, giữ bình yên cho từng làng bản hẻo lánh, giữ chủ quyền tổ quốc trên từng cột mốc biên cương. Hình ảnh lá cờ tổ quốc tung bay ở nơi cực Bắc này mang đếm cảm giác thiêng liêng khó tả.

Lịch sử xây dựng cột cờ

Những mốc thời gian của cột cờ Lũng Cú dù chưa quá xa, nhưng câu chuyện vẫn nhuốm màu huyền sử giữa núi rừng thăm thẳm này. Cột cờ Lũng Cú được dựng lên đầu tiên từ thời Lý Thường Kiệt và ban đầu làm bằng cây Xa mộc cao trên 10m. Cột được xây lại vào thời Pháo thuộc năm 1887. Năm 1978 khi tuyến đường lên Lũng Cú được khánh thành , bác Hùng Đình Quý nguyên là chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Đồng Văn thấy lá cờ cắm lúc trước chưa đủ rộng để mọi người dân sống ở chân núi rồng có thể ngắm nhìn. Bác nảy ra sáng kiến dựng cột cờ cao hơn, may lá cờ rộng hơn và lá cờ phải tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. May một lá cờ rộng 54 m2 sẽ rất hợp lý. Thế là ngày 12-8-1878 lá cờ rộng 54m2 chính thức tung bay trên cột cờ Lũng Cú.

Năm 1991 được sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, nhân dân các dân tộc Lô Lô, Mông, Dao ở Lũng Cú đã đi khắp các vùng rừng, lên các núi cao nhất, xa nhất để tìm cho được 1 cây pơ mu cao 13m thân thẳng đứng  như mũi tên hướng lên trời kiêu dũng. Mất 2 ngày cưa cây, gần 20 trai tráng đã nâng bổng thân cây nặng hàng tạ đã đưa lên đỉnh núi Rồng làm cột cờ bằng gỗ đầu tiên. Đến năm 2000 từ tháng 8 – tháng 12 những chiếc quẩy  thô mộc của người dân Lũng Cú lại kéo lên đỉnh núi cao hơn 1500m này gần 2 tấn thép, 8000 viên gạch gần 70m2 đá và cát để dựng nên cột cờ xây. Cột cờ được xây dựng thiết kế với tổng chiều cao 33,5m. Trong đó phần chân cột cao 20,25m. Phần cán cờ cao 12,9m. Đừng kính ngoài chân cột 3,8m. Cột cờ được thiết kế theo hình bát giác giống hình dáng cột cờ Hà Nội.  Chân bệ có 8 bức phù điêu đá xanh mang nét hoa văn của trống đồng Đông Sơn. Và minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc.

Cột cờ Lũng Cú được tu sửa năm 2010
Cột cờ Lũng Cú được tu sửa năm 2010

Ngày 8-3 năm 2010 tỉnh Hà Giang đã trùng tu tôn tạo, nâng cấp lại cột cờ Lũng Cú với quy mô hiện đại. Việc trùng tu tôn tạo cột cờ Lũng Cú cùng gắn với 4 huyện vùng cao tỉnh Hà Giang được công nhận là công viên địa chất cao nguyên đá toàn cầu. Cột cờ Lũng Cú thì nhiều người đã đến. Cái tên Lũng cú nhiều người đã thuộc. Chuyện chào cờ trên Lũng Cú được chuyển thành phim tài liệu khiến nhiều người xúc động. Nhưng còn nhiều câu truyện cảm động khác quanh việc xây dựng và gìn giữ để lá cờ trên đỉnh Lũng Cú luôn tươi thắm, luôn phấp phới bay giữa bầu trời cực Bắc. Nghe kể từ năm 1978 lá cờ 54 m2 đã được kéo lên ở mảnh đất thiêng này.

Không có thông số chính xác về áp lực gió tại độ cao 1700, mỗi cm2 hay mỗi m2 cờ phải chịu áp lực lên là bao nhiêu tạ bao nhiêu tấn. Nhưng nghe chuyện anh em biên phòng kể lại. Nhiều nhất những kỳ lặng gió được đến 4 tuần thì phải thay cờ. Đứng dưới chân núi dùng óng nhòm, loại đặc chủn để xăm xoi xem có vết rách nào cũng là một cách. Nhưng nghe anh em nói lại kiểu ấy không chính xác. Vì nếp cờ luôn sao động, luôn uốn lượn hoặc có thời khắc có lúc cờ không reo thì khó mà biết gió đánh toạc ở vị trí nào. Vì thế mà phải thay nhau gò người lên độ cao 1700m kiểm tra. Đứng dưới chân tháp cờ dùng mắt thường mà dõi từng cm2 cờ.

Những lá cờ tổ quốc ở cột cờ Lũng cú sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã phai màu vì nắng mưa, bị rách vì gió xé sẽ được giành tặng lại cho những đoàn khách đặc biệt nơi đây. Và được mang về kỷ vât là cờ tổ quốc đã từng tung bay trên cột cờ Lũng Cú địa đầu cực bắc đất nước. Quả là không thể có gì thiêng liêng hơn.

Đứng bên cột cờ tổ quốc nơi cực bắc, không gian đá núi mơ màng, để cho gió biên giới thổi căng lồng ngực. Bất giác nghe tiếng trống ngực rộng ràng như tiếng trống hào hùng của cha ông xưa. Cho con biển rộng sông dài, cho con lưỡi kiếm đá mài nghìn nằm. Đất nước của những ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể, bỗng hiện hữu âm ỷ tuôn chảy trong từng thớ thịt, mạch máu.

Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc

Dân tộc Dao – Tuyên Quang,  một tỉnh miền núi thuộc Đông Bắc Việt Nam ,Nằm ở trung tâm lý lưu vực sông Lô. Tuyên Quang là nơi cư trú của cộng đồng  20 dân tộc anh em. Trong đó dân tộc Dao có quy mô dân số đứng thứ 3 sau người Kinhngười Thái hội tụ đủ cả 9 ngành Dao. Như  người Dao tiền, người Dao Đỏ, người Dao quần trắng…

Mỗi ngành có một đặc trưng văn hóa riêng, tạo nên sắc thái văn hóa đang dạng, phong phú và giàu bản sắc. Bài viết dưới đây sẽ đưa chúng ta về với bản làng ở Tuyên Quang, để hòa chung không khí với đồng bào dân tộc Dao nơi đây.

Trong kho tàng văn hóa dân gian của Việt Nam, khi đồng bào dân tộc Dao có nhiều đóng góp đáng kể, thông qua đời sống tinh thần hết sức phong phú. Từ tập quán sinh sống, Lao động sản xuất, cách thức bài trí nhà cửa,  trang phục, cho đến hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ đều có những nét đặc trưng riêng mà chúng ta có thể nhận ra.Và ngay trong từng ngành Dao cũng có sự khác biệt với nhau. Đối với người Dao tiền hay Dao Đỏ thì ở nhà  trệt, Dao Quần Trắng, Dao áo dài thì ở nhà sàn. Trang phục của các ngành Dao cũng hết sức đa dạng. Người phụ nữ chính là những người gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc
Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc

Trang phục dân tộc Dao

Với bản tính chịu thương chịu khó, những người phụ nữ Dao chỉ bằng những khung dệt thôi xơ mộc mạc, Và những chất liệu sẵn có ở địa phương tạo ra những bộ trang phục truyền thống với những đường nét hoa văn tinh tế, và lộng lẫy sắc màu.  Tuy mỗi một ngành Dao có một trang phục đặc trưng riêng,  từ kiểu dáng đến cách phối màu. Xong nhìn chung trang phục của phụ nữ Dao bao giờ cũng cầu kỳ và tinh xảo.Từ phản đối đầu, váy áo cho đến xà cạp, tất cả đã góp phần tôn lên vẻ đẹp và sự duyên dáng cho người phụ nữ Dao.

Đời sống

Người Dao vốn sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Tuy nhiên cùng với thời gian do sự thay đổi về điều kiện tự nhiên cũng như tập quán sinh sống.  Ngày nay, người Dao đã phát triển lúa nước và một số loại hoa màu khác, đặc biệt là ngô.Cũng nghe nhiều dân tộc khác và con người dân tộc Dao vẫn có cuộc sống tự cung tự cấp, dựa vào chăn nuôi, trồng trọt nên việc gieo trồng và chăm sóc mùa màng rất được quan tâm . Cũng từ đó trong cuộc sống của con người Dao dần hình thành những tín ngưỡng nông nghiệp và các hình thức sinh hoạt văn hóa, phục vụ cho việc cầu mưa, cầu gió nhằm đối phó với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cầu mong cho mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi, vật nuôi không bị dịch bệnh.

Sinh hoạt văn hóa

Trong các hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ phổ biến của người dân tộc Dao, thì dân ca, dân vũ có đời sống rất phong phú về nội dung và hình thức thể hiện. Tùy theo đối tượng hoàn cảnh diễn ra các cuộc hát, nhằm phản ánh kinh nghiệm sản xuất, dự báo thời, phép ứng xử trong xã hội, đề cao đạo đức, lẽ sống àm người và tình yêu quê hương hay tình yêu đôi lứa.  Mỗi nhóm dao có những làn điệu ít nhiều khác nhau, Nhưng nhìn chung những bài hát của người Dao đều được hình thành trên thể thơ thất ngôn hoặc lục bát.Hát giao duyên trong tiếng rao gọi là “Pao dung toi tong dai Dung”  lời ca tiếng hát để bày tỏ tình cảm của mình.

Cứ mỗi độ xuân về khi hoa mận nở trắng khắp núi rừng, cũng là lúc nông nhàn sau khi mùa màng kết thúc. Thanh niên nam nữ người Dao, lại tổ chức hội hát giao duyên. Vừa để tạo không khí mùa xuân vui tươi vừa để tìm hiểu kết thành đôi lứa.  Đây là nét đổi mới trong văn hóa của người Dao.  Trước đây, người Dao bị ràng buộc khắt khe bởi những lễ giáo phong kiến và những hủ tục mê tín dị đoan, nên việc bày tỏ tình cảm việc giao duyên như thế này là điều rất khó khăn.Với ca từ nhẹ nhàng, sâu lắng các chàng trai cô gái muốn trao gửi cho nhau những nhắn nhủ từ sâu thẳm trong lòng mình một cách tinh tế và tràn đầy cảm xúc.

Khi lời ca đã làm cho tâm hồn sao xuyến, tình cảm đã tâm đầu ý hợp thì họ trao nhau những chiếc khăn thêu như để tin, để gửi gắm vào đó những tình cảm dành cho người đã chọn.

Theo  phong tục, thì giao duyên chỉ được tổ chức với các chàng trai cô gái ở các bản làng nhau. Việc tổ chức ca hát rất đơn giản.Trai gái bản này muốn ca hát với trai gái bạn khác nếu là hát trong nhà thì chỉ cần xin phép gia chủ,  còn ở ngoài trời thì họ tự chia thành hai bên nam nữ hát đối với nhau.Ngoài hình thức  hát Giao Duyên dành cho những người chưa có gia đình thì người dân tộc Dao còn tổ chức hát đối đáp cho những người đã có gia đình.Với mục đích giao lưu văn nghệ, tạo không khí vui tươi sau những ngày lao động vất vả.

Nội dung của các bài hát này chủ yếu ca ngợi tinh thần lao động sản xuất, thăm hỏi 2 công việc ruộng đồng, nương rẫy hay ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên. Mỗi cuộc hát đối thường kéo dài cho đến khi gà gáy canh 2, canh 3 bây giờ về hay về nhà đấy. Một hình thức khác tương đối thú vị, bài hát Uống Rượu, tức là khi uống rượu vui vẻ mọi người cùng hát cho nhau nghe nhằm tăng thêm phần hưng phấn cho tiệc rượu và tăng thêm tình đoàn kết gắn bó cộng đồng. một hình thức sinh hoạt văn nghệ có lẽ được nhiều người yêu thích, tham gia nhất là hát đối đáp trong đám cưới. Trong nghi thức cưới hỏi của người Dao, khi đến nhà gái, nhà trai thường hay cho phù rể đi lên trước, đồng thời nhà gái cũng cử hai cô gái phù dâu ra tiếp đón.Hai bên cùng nhau hát đối đáp để xin dâu. Nếu nhà trai đối được thì nhà gái mới cho đón dâu. Qua vòng đối đáp này, nhà gái Mời nhà trai vào nhà và cùng ngồi uống rượu nói chuyện, trong khi hai đôi phù dâu phù rể vẫn tiếp tục hát đối với nhau.

Đồng bào dân tộc Dao, Vốn là những người có đời sống tinh thần phong phú nên họ rất thích hát, rất hay hát. Đối với họ lời ca tiếng hát Không chỉ là công cụ hữu ích để giao duyên kết bạn, để thể hiện tình cảm lứa đôi hay tình làng nghĩa xóm. Mà những giai điệu dân ca dao đã ăn sâu vào những suy nghĩ trẻ thơ ngay từ khi còn tấm bé thông qua những khúc hát ru của bà, của mẹ. Để rồi những giai điệu ngọt ngào thấm đậm hồn quê, ngấm sâu trong ký ức ngọt ngào và lớn lên cùng những em bé người Dao.

Không chỉ nuôi dưỡng những làn điệu dân ca mượt mà, người Dao còn sáng tạo ra các điệu dân vũ rất độc đáo và đặc biệt gắn ăn liền với nghi lễ tôn giáo của đồng bào. Trong các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người dân tộc Dao không thể thiếu các điệu múa, thể hiện sức mạnh, thể hiện sự giao tiếp với các thế lực siêu, Hay để xua đuổi tà ma hơn là một hình thức sinh hoạt văn nghệ đơn thuần. Bởi vậy để có các bạn múa đúng nghi thức, người Dao khá cầu kỳ trong câu tổ chức, từ việc chọn trang phục cho đến việc thực hiện các động tác múa.

Tùy từng nhóm Dao mà trang phục múa có khác nhau, xong dù nhóm Dao nào trang phục múa cũng được may hết sức cầu kỳ và đẹp mắt. Không chỉ tạo nên vẻ rực rỡ cho buổi lễ mà còn mang đậm màu sắc tâm linh. Các điệu múa của người Dao là hình thức sinh hoạt cộng đồng được nhiều người yêu thích và tham gia, không phân biệt già trẻ gái trai.  Bởi vậy để bảo tồn và phát huy các điệu múa cổ truyền, người Dao đã hình thành hẳn một nghi lễ dạy múa.  Theo đó, người dạy múa phải là người có hiểu biết, có uy tín trong cộng đồng và được mọi người tín nhiệm. Trong các điệu múa của người dân tọc Dao, thì Tết nhảy là một người đã rất phổ biến là sự kế tục của ngày lễ cúng Bản Vương lượng tinh tướng để bảo vệ cuộc sống  gia đình, dòng tộc, và bản làng. Tham gia vào lễ Tết nhảy chúng ta có dịp chiêm ngưỡng điệu múa có một không hai của người Dao, mà không có tộc người nào khác có được. Đó là điệu múa tái tạo lại cuộc sống lao động sản xuất đầy thú vị của người Dao.

Trong khi đó, các điệu múa trong lễ cấp Sắc, hay còn được gọi là nghi lễ vòng đời xuất hiện trong nghi lễ tín ngưỡng của người Dao, trở thành hình thức tín ngưỡng văn nghệ sinh hoạt Văn nghệ dân gian phổ biến, nhằm mô tả quá trình lịch sử hình thành và phát triển của cả tộc người.

Còn nhiều nữa những giai điệu dân ca dân vũ, và những hình thức sinh hoạt văn hóa thú vị làm say đắm lòng người của đồng bào dân tộc Dao ở Đông Bắc Việt Nam. song, chỉ những hình ảnh trên đây cũng đã đủ để cho chúng ta thấy một cách rõ ràng về dài truyền thống, cũng như đời sống văn hóa hết sức phong phú và giàu bản sắc cuộc sống người dân tộc Dao. những sinh hoạt văn hóa ấy không chỉ có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn mà còn là tinh thần đoàn kết,  tương thân tương ái vượt qua mọi khó khăn thách thức, để bà con chung tay xây dựng quê hương, để bản làng ngày một ấm no, hạnh phúc.

Đèo Mã Pì Lèng Hà Giang – Vua của các con đèo Việt Nam

(Đèo Mã Pì Lèng) Nếu Tây Bắc và những cung đường trong mây len giữa núi rừng bạt ngàn biểu hiện sức sống mãnh liệt. Thì về phía Đông Bắc đèo Mã Pì Lèng trên công viên địa chất toàn cầu trên cao nguyên đá Đồng Văn có vẻ khô cằn khắc nghiệt.

Thế nhưng chính sự khô cứng ấy đôi khi lại tạo nên cảnh sắc thiên nhiên trầm mặc nhưng đầy lãng mạng. Đèo Mã Pì Lèng đệ nhất hùng quan vùng sơn cước biên cương Việt Nam nằm trên cung đường dài 200km mang tên Hạnh Phúc. Nối liền từ thành phố Hà Giang đến các huyện miền núi Đồng Văn, Mèo Vạc tận cùng phía cực bắc. Theo người bản địa Mã Pì Lèng có nghĩa là đỉnh núi dựng đứng giống sống mũi con ngựa. Nhưng nghĩa bóng lại hàm ý  địa hình đèo dốc tại đây hiểm trở tới mức ngựa dù khỏe mạnh hung hãn, mà khi qua đây đều phải kiệt sức ngã quỵ. Mã Pì Lèng được xếp vào tứ đại đỉnh đèo miền Bắc Việt Nam.

Đèo Mã Pì Lèng Hà Giang – Vua của các con đèo Việt Nam
Đèo Mã Pì Lèng Hà Giang – Vua của các con đèo Việt Nam

Đèo Mã Pì Lèng Hà Giang – Vua của các con đèo Việt Nam

Con đường này được hàng vạn thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam làm trong 6 năm, từ năm 1959 đến năm 1965. Trong đó riêng đoạn đèo Mã Pì Lèng được các thanh niên trong đội cảm tử treo mình trên vách núi làm trong 11 tháng. Vượt qua khó khăn gian khổ trong sự thiếu thốn, vượt qua sự ngáng trở của mẹ thiên nhiên hung dữ, từ sức người phi thường cùng tinh thần bất khuất vượt khó, nhân dân các dân tộc Việt Nam đã khai rừng phá núi để làm nên những con đường thần diệu cho chúng ta ngày nay. Đi để biết, để chiêm ngưỡng. Đi để thêm yêu quê hương Việt Nam. Và cũng từ ấy con đường này mang tên là đường Hạnh Phúc. Đèo tuy không dài , chỉ hơn 20km hầu hết men theo vách đá thẳng đứng, lởm chởm đá tai mèo trên độ cao từ 1200 – 1600m trong dãy núi cùng tên Mã Pì Lèng.

Đèo Mã Pì LèngKhúc cua uốn lượn trên đường đèo Mã Pì Lèng

Cũng có lúc con đèo vào khúc cua tay áo , rồi thả dốc giữa những quần thể toàn núi hình dạng kim tự tháp. Đỉnh nhọn nhô cao trong biển mây và dưới vực sâu ngàn thước xuống thăm thẳm. Trên đỉnh đèo Mã Pì Lèng cũng lời nơi cao nhất của đường Hạnh Phúc , hiện có một điểm dừng chân cho khách du ngoạn ngắm cảnh. Đi trên Mã Pì Lèng đèo hun hút gió, sẽ khiến cảm xúc rơi vào vòng luẩn quẩn . Hết lo lắng vì sợ tai ương bất ngờ ập xuống. Nhưng sau đó lại quên lúc nào không hay khi thỏa mình trong vẻ đẹp dưới chân trời.

Dòng Nho Quế - Đèo Mã Pì LèngĐứng trên đỉnh đèo Mã Pì Lèng ngắm dòng Ngo Quế tuyệt đẹp

Đâu đó những bản người Mông chưa tới chục nóc nhà lúp xúp sống cô lập trên sườn núi dựng đứng của đèo Mã Pì Lèng – đệ nhất trong tứ đại đỉnh đèo, sống hưu quạnh giữa lưng chừng trời. Nhà nào cũng có vài thửa đất ruộng bậc thang chật hẹp, chênh vênh trên vực sâu để làm ruộng nương hoặc trồng ngô, tam giác mạch.

Bản làng dưới đèo Mã Pì Lèng

Lác đác các bản làng dưới đèo Mã Pì Lèng

Bên cạnh sự kỹ vĩ của tự nhiên, cung đường đèo Mã Pì Lèng nối liền Đồng Văn và Mèo Vạc còn được xem như một bằng chứng về sức mạnh của con người trong việc chinh phục , khai phá tự nhiên. Trong đó có đoạn đèo chín khoanh dài 20km được mọi người ví như một vạn lý trường thành của Việt Nam, hay kim tự tháp của người Mèo. Mã Pì Lèng hứa hẹn một tiềm năng du lịch rất lớn, bởi bên cạnh sự hùng vĩ của thiên nhiên, các dân tộc sinh sống trong vùng còn bảo lưu được gần như nguyên vẹn những nét văn hóa dân gian truyền thống, những lễ hội đậm màu sắc cao nguyên đá. Nơi đây là điểm đến lý tưởng cho những du khách ưa mạo hiểm, thích khám phá và tìm hiểu văn hóa vùng cao.

Hồ Ba Bể – Vẻ đẹp huyền thoại của núi rừng Đông Bắc

Một vùng nguyên sơ, một nơi mà những ồn ào của thế giới hiện đại chưa len lỏi được tới đây. Hồ Ba Bể đẹp ở khung cảnh tĩnh lặng, ở màu xanh bạt ngàn của núi rừng, ở những nét văn hóa đặc sắc rất riêng của các dân tộc.

Vị trí vườn quốc gia Ba Bể

Hồ Ba Bể chinh phục lòng người ở vẻ đẹp thanh bình, giản dị mà người ta chỉ còn cách đặt tên vẻ đẹp ấy là vẻ đẹp huyền thoại giữa núi rừng Đông Bắc.

Vị trí hồ ba bểVị trí hồ Ba Bể

Ở tỉnh Bắc Cạn, được thiên nhiên ban tặng cho một danh làm thắng cảnh là Hồ Ba Bể. Hồ Ba Bể là một trong hơn 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất. Và là một trong những kỳ quan thiên nhiên Việt Nam được Unesco công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Hồ Ba Bể theo tiếng địa phương Slan Pé nghĩa là 3 hồ. Gồm Té Nậm, Té Lù và Té Lè. Từ núi cao nhìn xuống, hồ lọt thỏm giữa dãy núi đá vôi. Hồ co lại và bị kẹp giữa các vách đá dựng đứng được bao quanh bởi rừng già nguyên sinh. Giữa một vùng núi đá vôi lại có một cái hồ lớn thật kỳ diệu. Mặt nước lúc nào cũng phẳng lặng, xanh trong như một tấm gương im đậm bóng núi, mây trời. Toàn cảnh hồ là một bức tranh thủy mặc làm say lòng những du khách tới nói đây. Những vách núi đá vôi dựng đứng với bao điều kỳ lạ trong những câu truyện cổ tích kể về những biến cố của thiên nhiên để tạo ra hồ Ba Bể một viên ngọc xanh giữa rừng Đông Bắc.

Kết quả hình ảnh cho hồ ba bể
Trên lòng hồ Ba Bể

Động Puông

Những đợt bào mòn hàng triệu năm của con sông thời gian vào dãy núi đá Lũng Nhan đã tạo nên một chiếc động kỳ vĩ. Đó là động Puông Dòng sông uốn mình thơ mộng trong những khúc cua trong lòng hang. Xuyên qua núi tạo thành đường giao thông chính cho người dân địa phương. Đây làm một động đá vôi có trần cao 30m với nhiều hình thù lạ do nhũ thạch tạo ra. Bên ngoài động có nhiều ánh sáng nên để lộ những mảng đá hoa cương. Những thạp rêu xanh dày theo năm tháng. Bên trong động mờ ảo với những thạch nhũ lung linh rủ xuống. Vào sâu trong nữa động rất tối nhưng lại là điều kỳ thú vì trên vòm động là nới trú ngụ của hàng vạn con dơi.

dong-puong-ho-ba-be
Động Puông hồ Ba Bể

Rời động Puông là một sơn cảnh thần tiên của vùng sơn cước vỡ òa. Những gốc cây cổ thụ trăm năm tuổi uốn mình ngả nghiêng bên dòng sông như một bức tranh thủy mặc hiện giữa trần gian. Có những đoạn 2 bên là vách núi đá dựng đứng cao hàng trăm mét như những tòa tháp nơi thành phố. Những bản làng mở ảo hai bên bờ sông có thể gặp gỡ những người dân địa phương trong các sinh hoạt hàng ngày. Trồng ngô 2 bên bờ sông, đánh cá hoặc đang đi chợ bằng thuyền độc mộc. Và chẳng mấy chốc thác Đầu Đẳng hiện ra trước mắt.

Các dòng thác hồ Ba Bể

Thác Đầu Đẳng là một khúc gãy của sông Năng đổ nước xuống phía tây của vườn quốc gia. Thác trải dài 1 cây số.Thác Đầu Đẳng cao tới 53m đổ nước của toàn bộ hẻm sông Năng. Thế nhưng dòng nước vẫn phải len lỏi giữa những khối đá vôi lớn nằm chồng chất lên nhau, lên cao hàng chục mét. Thác là do nhiều đá chồng lên nhau mà thành. Vào mùa mưa, mực nước của thác có thể lên cao tận mép bờ, chảy cuồn cuộn khiến cho thác trở nên hùng vĩ và dữ dội.

Bổ xung vào quần thể du lịch Hồ Ba Bể thêm đa dạng phong phú . Và chắc chắn khi đươc đầu tư đi vào khai thác sẽ là điểm hấp dẫn du khách. Bởi vẻ đẹp thiên nhiên còn nguyên nét hoang sơ của tạo hóa.

Đời sống nhân dân quanh hồ Ba Bể

Nét độc đáo nhất của vườn Quốc gia Ba Bể chính là Hồ Ba Bể. Hồ Ba Bể là một hồ nước mênh mông trải dài gần 8 cây số với những chỗ thắt lại, phình ra và vô số những khe suối nhỏ luồn lách qua khe núi chảy xuống hồ. Đi trên lòng hồ dễ dàng gặp cảnh người dân đánh bắt cá bằng thuyền độc mộc truyền thống.

Đánh lưới trên hồ Ba Bể
Đánh cá trên hồ Ba Bể

Các tầm lưới được thả rộng trên mặt hồ và được treo lơ lửng bằng những ống tre bản địa. Chiếc thuyền độc mộc mỏng manh tựa như chiếc là tre lướt nhẹ theo dòng nước. Đôi lúc giật mình lo sợ chiếc thuyền kia liệu có đủ an toàn. Nhưng với những động tác thành thạo, họ đi lại và đứng trên lòng thuyền nhỏ bé. Họ lướt thuyền nhẹ nhàng êm du. Ta chợt nhận ra rằng đó là cuộc sống thường nhật của họ.

Lênh đênh trên lòng hồ ta còn bắt gặp những cô gái Tày trong trang phục dân tộc truyền thống, ngân nga điệu hát Then. Và đang phiêu cùng điệu hát thì bản Pác Ngòi hiện ra với những bóng nhà sàn cổ nghiêng mình soi bóng xuống mặt hồ. Bản Pác Ngòi có hơn 40 nếp nhà sàn truyền thống nằm nép mình dưới triền núi, nhưng hiện hữu ngay trên hồ Ba Bể. Do đó càng làm tôn thêm vẻ đẹp vùng du lich sinh thái vốn nổi tiếng nơi đây.

Bản làng trên hồ Bả BểBản làng bên hồ Ba Bể

Người Tày xây dựng nhà sàn của mình bằng 4-7 hàng cột đỡ. Tạo thành 2 khu vực rõ rệt. Phần dưới gầm sàn là nơi  giữ công cụ lao động, máy tuốt lúa, củi đun và chuồng nuôi gia xúc gia cầm. Vật liệu làm nhà sàn thường làm bằng gỗ, mây , tre, nứa lấy trên rừng. Tuy được dựng từ những vật liệu đơn sơ, nhưng nhà sàn của người Tày rất vững trãi nhờ việc tạo tỷ lệ hợp lý trong kết cấu khung gỗ. Mặc dù hiện nay nhiều gia đình đã có sự cách tân khi xây nhà trực tiếp lên nền đất. Nhưng những ngôi nhà cổ vẫn còn được bảo tồn. Cuộc sống của người dân vùng hồ giản dị mộc mạc chân chất với những nghề gắn liền với vùng sông nước như đan chài , đan lát và dêt thổ cẩm.

Đến với Hồ Ba Bể giờ đây du khách sẽ được ở những nhà nghỉ sinh thái. Du khách vừa được ngắm hồ, vừa được hít thở không khí trong lành vừa được thưởng thức những món ăn được chế biến theo kiểu của người Tày. Ai đã từng được thưởng thức thì không thể quên món thịt nướng. Người ăn có thể cảm nhận được hương vị đặc biệt và ấm áp của món thịt nướng này. Hồ Ba Bể đẹp và hấp dẫn du khách chính là sự kích thích những nét văn hóa của người Tày cổ mà suốt ngàn đời nay người dân vùng hồ còn giữ hầu như nguyên vẹn.

Du khách đến ngẩn ngơ đến vẻ đpẹ hoang sơ của Hồ Ba Bể thì khi ra về lòng cũng ngẩn ngơ một lời hẹn quay lại. Và những người ở lại dù là người bản xứ hay người dưới xuôi thì chắc chắn một điều đó là họ có một tình yêu mãnh liệt với vùng đất này. Họ là những người con của núi rừng Ba Bể.

“Bắc Kạn có suối đãi vàng / Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh”

Khám phá cao nguyên đá Đồng Văn hùng vĩ

(Cao nguyên đá Đồng Văn) Hà Giang – Mảnh đất địa đầu của cực Bắc Việt Nam với nhiều cảnh đẹp làm nao lòng người. Mỗi bước chân đặt lên mảnh đất Hà Giang là một niềm cảm xúc khác nhau. Từ những vẻ đẹp nguyên sơ, bí ẩn, đậm chất núi rừng của tạo hóa ban tặng cho cao nguyên đá Đồng Văn đến những cánh đồng hoa bao la rực rỡ sắc màu và con người bình dị đôn hậu nơi đây. Chính sức hút kỳ diệu đó đã làm cho mảnh đất Hà Giang trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam luôn là mảnh đất là mảnh đất địa đầu, thiêng liêng của tổ quốc.

Vùng cao Hà Giang hấp dẫn bởi kiến trúc và phong tục đặc sắc của đồng bào các dân tộc. Sự kết hợp hài hòa giữa con người, đá và hoa nơi cao nguyên đá này có sức cuốn hút rất lớn với khách du lịch. Đó là việc được tận mắt chứng kiến sự kỳ vĩ của một vùng cao nguyên đá, khu cao nguyên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn.

Khám phá cao nguyên đá Đồng Văn hùng vĩ
Khám phá cao nguyên đá Đồng Văn hùng vĩ

Con đường đi tìm hành trình từ đáy biển thành cao nguyên đá tuy có những đoạn vào cua tay áo đến chóng mặt, giữa một bên là vực thẳm và một bên là núi đá, từng lớp núi tai mèo. Nhưng những ai đã từng nghe đến sự tích con đường Hạnh Phúc thì sẽ không khỏi trầm trồ xen lẫn sự khâm phục và niềm tự hào dân tộc. Con đường Hạnh Phúc bắt đầu khởi công vào ngày 10-9-1959 có chiều dài khoảng 200km . Chạy từ Hà Giang qua cao nguyên đá Đồng Văn và đỉnh Mã Pì Lèng rồi đến Mèo Vạc. Sau dần 8 năm thực hiện con đường đã đi vào hoạt động và được Bác Hồ đặt tên là con đường Hạnh Phúc.

Cao nguyên đa Đồng Văn nằm ở độ cao trung bình từ 1000- 1600m so với mực nước biển. Trải dài qua địa bàn 4 huyện là Quản Bạ, Yên Ninh, Mèo Vạc và Đồng Văn của tỉnh Hà Giang. Do địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh nên khí hậu cao nguyên đá mang nhiều sắc thái ôn đới và chia làm 2 mùa. Mùa mưa từ tháng 5 – tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 – tháng 4 . Theo khảo sát của các nhà khoa học thì cao nguyên đá Đồng Văn có 139 biểu hiện di sản địa chất, thuộc đủ loại. Trong đó có 15 di sản địa chất cấp quốc tế, 68 cấp quốc gia và 56 cấp địa phương cùng nhiều hóa thạch đã làm nên bức tranh lịch sử phát triển địa chất của cao nguyên đá Đồng Văn. Chính vì lẽ đó mà cao nguyên đá Đồng Văn đã được hội đồng tư vấn mạng lưới công viên địa chất toàn cầu Unesco chính thức công nhận là công viên địa chất toàn cầu duy nhất của Việt Nam và thứ 2 tại Đông Nam Á năm 2010. Không những thế, cao nguyên đá Đồng Văn còn sở hữu nhiều di tích lịch sử lâu đời. Những công trình kiến trúc nghệ thuật gắn liền bản sắc văn hóa dân tộc Mông, Tày, Nùng, Lô Lô, Giáy…và hàng loạt di sản thiên nhiên thuộc loại đặc biệt, có một không hai ở Việt Nam.

Cao nguyên đá 2Cao nguyên đá Đồng Văn hùng vĩ

Thiên nhiên hào phóng đã ưu đãi cho Hà Giang rất nhiều cảnh đẹp, gắn liền với những câu truyện mang đầy màu sắc huyền thoại. Câu truyện Núi Đôi Cô Tiên cùng truyền thuyết chàng trai Mông tuấn tú với chiếc đàn môi déo dắt và say đắm biết bao thôn nữ vùng sơn cưới.

Núi đôi Quản BạNúi đôi Quản Bạ – Cao nguyên đá Đồng Văn

Trong đó có một nàng tiên trên thượng giới đã theo tiếng đàn xuống trần gian và phải lòng chàng. Họ nên vợ nên chồng và   sinh được một người con trai. Ngọc Hoàng biết chuyện đã sai người bắt nàng về.Thương chồng một mình nuôi con, thương con thơ thiếu sữa mẹ, nàng đã bỏ lại đôi nhũ của mình dưới hạ giới cho con. Hai quả núi đó được gọi là Núi Đôi hay núi Cô Tiên. Tương Truyền nhờ dòng sửa của nàng mà vùng đất này có khí hậu mát mẻ, đào , mận, lê, hồng có hương vị thơm ngon lạ thường, rau cỏ thì luôn xanh tươi, lúa ngô thì luôn nặng hạt.

Khoác trong mình một phần của đại dương cổ xưa với trên 80% diện tích lộ diện đá vôi. Nhưng điều đó không làm cho ý chí người dân nơi đây gục ngã mà họ cần cù chăm chỉ thay đổi nó từng ngày. Đất và nước rất ít. Nhưng cứ mỗi độ xuân về cao nguyên đá Đồng Văn lại phủ một màu xanh bạt ngàn của ngô, lúa, đậu và của cây trái trổ bông. Màu xanh ấy được chắp nối bởi sự cần cù chịu khó của đồng bào các dân tộc. Điều đó thôi thúc họ hòa mình với cuộc sống nơi đây. Trời, đất và con người giao hòa cùng nhau xây đắp cho hình ảnh cao nguyên đá thêm đẹp, thêm hùng vĩ.

Nhà vua mèo - Cao nguyên đá

Nhà vua Mèo trên cao nguyên đá Đồng Văn

Đến với Hà Giang, không ai là không  được nghe kể về vua Mèo với lòng quyết tâm cùng câu truyện thoát nghèo của vùng núi đá nhọc nhằn đến việc anh dũng chống lại sự xâm lược của quân Pháp. Nằm ẩn mình trong thung lũng Sa Phìn, nhà vua Mèo là một công trình độc đáo với tường được xây bằng đất sét, móng nhà làm bằng đá, bên trong ghép ván, cột kèo bằng gỗ. Trải qua gần trăm năm, qua bao mưa nắng gió bão có chỗ đã bị thời gian mài mòn. Nhưng đến nay nhà Vương vẫn giữ được hình dáng xưa cũ. Nơi đây không những là chứng tích vĩ đại của một thời lịch sử đã xa của người dân tộc miền núi đá cao nguyên mà còn là niềm tự hòa của người Mông nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.

Cột cờ Lũng CúCột cờ Lũng Cú – cao nguyên đá Đồng Văn

Từ nhà vua Mèo chúng ta tiếp tục đi đến đỉnh đầu Lũng Cú của mảnh đất Hà Giang. Nơi tồn tại cùng với sự hình thành của dải đất thiêng liêng hình chữ S. Đây cũng chính là địa điểm tốt nhất để khách du lịch tham quan hình dung về hình thể của đất nước Việt Nam. Mà cực Bắc là Lũng Cú và cực Nam là đất mũi Cà Mau. Trên đỉnh đầu Lũng Cú có một cột cờ nằm trên chóp núi rồng. Là cờ đỏ sao vàng rộng 54 m2 tượng trưng cho 54 dân tộc đang chung sống trên mảnh đất Việt Nam thân yêu đang phấp phới bay nơi mảnh đất cực Bắc của tổ quốc.

Đi xa hơn nữa, ta có thể thấy khu phố cổ Đồng Văn. Nằm giữa thung lũng giữa 4 bề núi đá bao bọc, khu phố cổ chỉ vỏn vẹn có 40 nóc nhà năm xếp vào nhau với tuổi đời trên dưới 100 năm. Cá biệt có những ngôi nhà đã gần 200 năm tuổi. Khu phố cổ hình thành từ đầu thế kỷ 20 có người Tày, Mông và Hoa sinh sống.Phố mang dấu ấn kiến trúc của người Hoa với những mái ngói âm dương cùng những chiếc đèn lồng đỏ treo cao xua đi cái lạnh giá khắc nghiệt của cao nguyên đá. Bức tranh về khu phố cổ được thể hiện trên nhiều gam màu, thay đổi theo từng cung bậc thời gian theo một ngày. Buổi sáng bức tranh ấy được pha trộn tài tình bởi 2 tông màu vàng rực của nắng và màu xám của những ngôi nhà cổ. Đêm đến ánh đèn hắt ra từ những ngôi nhà thật bình dị. Vào đêm cuối tuần những quán café phố cổ nơi đây lại rộn ràng với những chàng trai cô gái từ các bản được chủ quán mời về hát những bài dân ca, thể hiện những điệu múa giao duyên.

Đèo Mã Pì Lèng - Hà Giang

Đèo Mã Pì Lèng – Cao nguyên đá Đồng Văn

Sau khi đi qua con dốc lược theo sườn núi, đạt chân lên đỉnh Mã Pì Lèng. Dưới chân núi dòng Nho Quế lúc ẩn lúc hiện khiến cảnh vật càng thêm hùng vĩ. Mã Pì Lèng còn được mệnh danh là tứ đại đỉnh đèo của vùng núi phía Bắc.

Bên cạnh những danh lam thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ, cao nguyên đá Đồng Văn còn ẩn chứa những bản sắc văn hóa dân tộc vùng cao vô cùng độc đáo. Như chợ phiên ngập trong sắc mà sặc sỡ của váy áo và trang sức đặc trưng của các dân tộc. Với các sản vật phong phú mộc mạc của dân địa phương. Đặc biệt với những ai muốn thưởng thức ẩm thực độc đáo của vùng cao thì chợ sẽ là một địa điểm lý tưởng với những gian hàng ẩm thực dân tộc đặc trưng như Mèn mén, Thắng cố, Thịt treo…

Những kiến tạo địa chất từ biển lên độ cao 1600m cách đây hàng trăm triệu năm, bãi đá Nấm Dầm- một tác phẩm điêu khắc bí ẩn với các nhà khoa học. Câu chuyện của Pao, câu chuyện vua Mèo và cuộc sống hô m nay trên cao nguyên đá Đồng Văn vẫn là điều bí ẩn với chúng ta. Và có lẽ chính vì vậy mà cao nguyên đá Đồng Văn luôn là điểm đến yêu thích của khác du lịch trong nước cũng như quốc tế khi đến với Hà Giang nơi địa đầu của tổ quốc.