“Tăng cẩu” (Lễ búi tóc )- Nét đẹp trong văn hóa người Thái đen

Người Thái có nhiều nhóm: Thái đen, Thái trắng, Man Thanh, Tày Mười, Tày Thanh… với dân số hơn 1 triệu người, phân bố ở nhiều vùng đất nhưng nhiều nhất vẫn là ở vùng Tây Bắc (Lai Châu, Sơn La, Hoa Bình, Nghệ An). Dân tộc Thái có vốn ; văn học cổ truyền quý báu với kho tàng thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao có nhiều điệu múa (khắp) độc đáo: xoè Thái, múa sạp. Văn hoá của người Thái rất phong phú thể hiện ở nhiều nghi lễ kháe nhau như: cúng trời đất, cúng bản mường, nghi lễ cầu mùa, đám ma được gọi lá lễ tiễn người chết về “mường trời”, người dân tộc Thái ở nhà sàn, riêng người Thái đen làm nhà có hình mai rùa và được trang trí theơ phong tục xưa. Nhưng tục búi tóc (tăng cẩu) lại chỉ phổ biến ở nhóm người Thái đen. Hôn nhân của người Thái đen là hôn nhân theo kiếu phụ hệ, nhưng từ trước tới nay, tập người này vẫn duy trì tục ở rể, gửi rể.

"Tăng cẩu" (Lễ búi tóc )- Nét đẹp trong văn hóa người Thái đen
“Tăng cẩu” (Lễ búi tóc )- Nét đẹp trong văn hóa người Thái đen

Khi chàng trai người Thái đen đến tuổi lấy vợ (trước đây là 13 – 14 tuổi), nay mười tám, đôi mươi sẽ tự đi tìm người con gái mà mình ưng ý hoặc do bố mẹ “nhắm cho”. Tiếp đến, nhà trai nhờ một ông Mối (tiếng Thái gọi là Phòlam) đến nhà cô gái để làm mối. Nếu được gia đình cô gái ưng ý, chàng trai sẽ bắt đầu cuộc đời ở rể.

Xem thêm: Trang phục dân tộc Thái

Chọn ngày lành, tháng tốt, nhà trai chuẩn bị cho con trai một số sính lễ để đến ở rể. Lễ vật gồm: một chiếc áo, một con gà mổ sẵn, một gói cơm, một chai rượu và một cái “Tô ống bai” là cái đựng vía (khoắn) được làm bằng một sợ dây mây một đầu được cuộn xoắn lại (theo như lời người Thái đen cho biết thì vật này để cho vía chú rể trú ngụ ở đó), ông Mối sẽ là người trực tiếp đưa chàng trai đến nhà cô gái. Sau khi kiểm xong lễ vật, nhà gái để mọi thứ lên bàn thờ để báo cho tổ tiên biết nhà đã có chàng rể. Trong thời gian ở rể chàng trại được đối xử như một thành, viên mới của gia đình.

Nhưng do phải có thời gian thử thách nên anh ta phải chăm chỉ, lao động cật lực, cùng ăn với cả gia đình vợ chỉ có điều anh ta chưa được ngủ cùng cô gái, mà phải ngủ ở vị trí dành cho khách (người Thái gọi là khơi). Trong ngôi nhà sàn của người Thái, ngoài các buồng thông thường, ở hai phía đầu hồi còn có hai phần được sử dụng với từng mục đích khác nhau, một đầu là khan dùng để làm công việc bếp núc. Đây là phần đầu hồi ở phía sau, để nước và làm bếp. Nơi này thường là chỗ sinh hoạt của phụ nữ. Khơi (trong tiếng Thái là rể, lục khơi là con rể), là phần đầu hồi nhà ở phía trước, phía cầu thang chính lên nhà. Đây là phần dùng để tiếp khách và nếu gia đình nào có chàng rể đang trong giai đoạn thử thách thì sẽ ngủ ở đây…

Sau thời gian ở rể có thể chỉ 3 tháng hoặc kéo dài cho đến khi chàng rể được nhà cô gái chấp nhận. Để đôi uyên ương được ngủ chung với nhau thì hai gia đình phải tiến hành làm lễ “tăng cẩu” (búi tóc), chính thức công nhận họ là vợ chồng. Búi tóc của người phụ nữ Thái đen từ thời điểm này được coi như là một dấu hiệu thông tin cho mọi người biết họ đã có chồng. Để làm lễ này, nhà trai lại phải mang tới nhà gái một số lễ vật. Theo tục lệ, lễ “tăng cẩu” được thực hiện ở gian gần bếp. Người ta chuẩn bị một chậu nước lá thơm, đại diện phía nhà trai gội đầu, chải tóc và búi tóc cho cô dâu. Tóc được búi lên, cuộn lại bằng một dây xà tích bằng bạc và cài một chiếc trâm bạc giữ cho tóc không bị xô ra. Trong lúc búi tóc cho cô gái, đại diện hai nhà cùng uống rượu và hát đổi đáp “khắp tóc”. Nội dung của các bài khắp nói lên hoàn cảnh của mỗi nhà và những lời dặn dò đôi trai gái.

Sau lễ “Tăng cẩu”, chàng trai và cô gái được ngủ chung với nhau, cũng từ đó cô gái phải luôn búi tóc vừa để làm đẹp vừa như là một dấu hiệu thông báo cho các chàng trai khác biêt họ đã có chồng. Về nguyên tắc, lễ cưới có thế được tổ chức bất kỳ lúc nào mà hai gia đình muốn, sau lễ “tăng cẩu”.

Trang phục dân tộc và tên 54 dân tộc việt nam

Xin được giới thiệu tới các bạn trang phục dân tộc  và tên 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam. Đây là các trang phục lễ hội truyền thống và các trang phục mặc thường ngày của họ.

Trang phục dân tộc và tên 54 dân tộc việt nam
Trang phục dân tộc và tên 54 dân tộc việt nam

Dân tộc Dao

Người Dao hiện có hơn 820 nghìn người, hiện có nhiều nhóm cư trú ở nhiều địa phương khác nhau. Tập trung đông nhất ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên… Người Dao chia thành nhiều nhánh như : Dao đỏ, Dao tiền… Sự phân biệt này thể hiện khá rõ trên trang phục dân tộc Dao. Ví dụ phụ nữ Dao đỏ, đội khăn đỏ, mặc áo dài xẻ ngực, áo yếm quần tràm.

Dân tộc Bố Y.

Là cộng đồng khoảng 2000 người, sống chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang , Tuyên Quang. Phụ nữ Bố Y mặc váy xòe. Hoa văn trên váy là nền trắng của vải, sau được phủ lớp sáp ong khi váy nhuộm tràm tạo nên. Nam giới Bố Y mặc áo cổ truyền tứ thân, áo ngắn .

Kết quả hình ảnh cho 54 dân tộc

Dân tộc Tày

Có hơn 1,6 triệu người cư trú chủ yếu ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Quảng Ninh, Lào Cai, Hà Giang. Trang phục truyền thống của người Tày làm từ vải truyền thống sợi bông tự dệt, nhuộm tràm, hầu như không thêu thùa trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần có áo ngắn bên trong, áo dài bên ngoài. Nam giới mặc quần dài, may chân khỏe, cạp lá tọa

Dân tộc Thái

Người Thái còn được gọi là Táy hoặc Thay. Dân tộc Thái có khoảng 1,5 triệu người. Được chia làm 2 loại: Thái Đen, Thái Trắng. Tập trung chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Nghệ An, Lâm Đồng, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa. Trang phục dân tộc của người Thái là áo lụa, váy lụa có hàng khuy bạc óng ánh , mềm mại. Chủ yếu màu tràm với nhiều hoa văn đặc sắc.

Dân tộc Cống

Có khoảng 2600 cư trú tập trung chủ yếu huyện Mường Tè – Lai Châu, Mường Nghé – Điện Biên. Trang phục truyền thống phụ nữ là váy quấn phía trước dài ngang bắp chân, áo ngắn rộng trùm ra ngoài cạp váy.

Dân tộc Hà Nhì

Tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc. Hiện nay có khoảng hơn 25 nghìn người.

Dân tộc Lự

Sinh sống ở vùng Tây Bắc, chủ yếu ở vùng Điện Biên, Lai Châu. Người Lự sống thành bản nhỏ, ở nhà sàn 4 mái lợp tranh. Trang phục của phụ nữ Lự là áo chàm ngắn thắt ngang lưng, thân rộng, hai bên tay áo có một thanh vài màu trắng, thêu chỉ đỏ, váy may rộng, quấn khăn dài trang trí nhiều màu. Nam giới mặc quần áo màu tràm , đen, áo cánh xẻ ngực, quần từ đầu gối trở xuống ống hơi hẹp.

Dân tộc Mạn

Chủ ở Lai Châu với khoảng hơn 4000 người. Trang phục phụ nữ Mạn có váy trắng trùm xuống chân, áo váy xẻ ngực, đầu để trống không đội khăn.

Dân tộc Si la

Có khoảng hơn 800 người, cư trú ở miền Tây Bắc nước ta. Chủ yếu ở Mường Tè – Lai Châu. Trang phục dân tộc cổ truyền người Sila có nhiều nét độc đáo, phong phú. Phụ nữ mặc váy ngắn hở bụng, áo gắn đồng xu, cài khuy phía nách phải và ngực khác màu, cổ áo và tay áo trang trí họa tiết khác nhau, váy màu đen hoặc màu tràm không thuê thùa phía mặt sau lưng.

Dân tộc La Hủ

Tên gọi dân tộc La Hủ có nghĩa là con hổ. Có các nhóm La Hủ Sư, La Hủ Na, La Hủ Phung. Có khoảng 10000 người. Tập trung chủ yếu ở Mường Tè – Lai Châu.Người La Hủ giỏi thủ công đan lát và nghề Dệt. Người đàn ông và đàn bà La Hủ mặc áo dài trùm xuống chân. Áo của phụ nữ có tay hẹp, nhiều màu rực rỡ, trên áo đính nhiều đồng xu, dây chỉ màu.

Dân tộc Kháng

Cư trú tập trung chủ yếu ở miền Tây Bắc nước ta, với khoảng hơn 11000 người  tập chung chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La, Điện Biên. Trang phục của phụ nữ mặc áo ngắn có hàng cúc bạc,  váy đen, đội khăn piêu. Nam mặc quần áo màu chàm đôi khi cũng đội khăn.

Dân tộc La Ha

Có khoảng 8000 người cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La. Họ sống thành từng bản hoặc xen kẽ với các dân tộc khác.  Ngày xưa nữ La Ha nhuộm răng đen và ăn trầu. Đàn ông có búi tóc sau gáy. Trang phục nam chủ yếu là màu chàm. Nữ mặc váy ngắn với hai hàng khuy bạc hình bướm, váy đen, có đội khăn trên đầu.

Dân tộc Lào

Có khoảng 15000 người, cư trú xen kẽ ở các dân tộc khác ở Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa. Trang phục dân tộc của đàn ông lào là quần dài, áo cộc. Phụ nữ Lào mặc áo khuy bụng cài thưa, hai bên nách áo đính vài đỏ, đeo lúc lắc hạt trám bằng bạc trạm trổ, váy quấn ngang kín ngực, áo mặc phủ ra ngoài cạp váy, đội khăn piêu.

Dân tộc Sinh Mun

Dân số khoảng hơn 20000 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu. Trang phục nữ có áo thân ngắn đến ngang eo, cổ cao, tay áo bó sát tới mắt cá tay, có hàng huy chính giữa trước ngực, hàng khuy làm bằng bạc, đồng , nhôm áo mặc hở thắt lưng và bó sát người.

Dân tộc Khơ Mú

Sinh sống trên các vùng núi Tây Bắc, tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái và miền tây tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa với khoảng 88700 người. Người Khơ Mú có nền văn hóa dân gian độc đáo. Bao gồm những truyện kể dân gian, làn điệu dân ca, các điệu múa đặc sắc. Trang phục truyền thống của nữ giới Khơ Mú thường mặc áo màu đen, đằng trước thường gắn hàng khuy bạc hình chữ nhật hoặc vải màu.

Dân tộc Mường

Cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La, Yên Bái, Ninh Bình. Dân số 1,2 triệu người. Trang phục dân tộc của phụ nữ có hoa văn tinh sảo, có nét tương đồng với họa tiết trống đồng Đông Sơn. Phụ nữ có áo yếm, áo bong bó sát, áo ngắn áo dài, có khăn tênh vào váy hình ống, gấu váy có hoa văn diềm phía trong. Nam giới có quần trùng may chân què rộng đũng, áo ngắn và khăn tênh dắt ngoài cạp quần

Dân tộc cờ Lao

Có hơn 2000 người chia làm 3 nhóm: Trắng, Xanh , Đỏ. Địa bàn cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang quy tụ thành từng bản nhỏ, thường có tường đá xếp ở. Trang phục phụ nữ làm từ vải bông với kỹ thuật thủ công. Họ tự trồng bông dệt vải, nhuộm vải , cắt may. Về kiểu dáng áo phụ nữ Cờ Lao là áo năm thân sẻ ngực sang nách dài đến dưới  dầu gối.

Dân tộc La Chí

Có dân số khoảng hơn 12000 người sống chủ yếu ở Hà Giang. Nghề làm ruộng nước khá phát triển. Trang phục truyền thống của người La Chí làm bằng vải bông nhuộm màu tràm. Nam giới là áo dài năm thân sẻ trước ngực chéo sang bên phải, cài khuy dưới nách phải. Nay họ thường mặc áo ngắn sẻ ngực. Phụ nữ thường mặc áo tứ thân sẻ ngực có yếm thêu và thắt lưng vải.

Dân tộc Lô Lô

Dân số khoảng hơn 3000 người , chủ yếu ở Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lai Châu . Căn cứ chủ yếu vào màu sắc của trang phục mà gọi là Lô Lô Hoa, Lô Lô Đen. Người Lô Lô biết tự dệt vải, phụ nữ mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, chui đầu, váy chiết li và gấp nếp khá đẹp. Nam y phục màu tràm.

Dân tộc Mông

Có các nhóm Mông Hoa, Mông Trắng, Mông Đỏ, Mông Xanh. Người Mông sống chủ yếu các tỉnh miền núi Bắc bộ, Nghệ An, Thanh Hóa, với dân số khoảng hơn 1 triệu người. Trang phục phụ nữ Mông rất sặc sỡ đa dạng. Gồm váy xếp thành nhiều nếp, áo sẻ ngực, mang tạp dề đằng trước và đằng sau, chân quấn sà cạp, váy hình nón cụt, áo mở chếch ngực về bên trái, cài 1 khuy, cánh tay và cổ áo đều thêu hoa văn, gấu áo cũng có khuy đè lên  ba bốn lớp vải màu, sẻ tà không khâu mà buộc dây giữ hai tà với nhau.

Dân tộc Pu Péo

Có khoảng hơn 700 người tập trung chủ yếu ở tỉnh Hà Giang. Trang phục nam giới Pu Péo chủ yếu là màu tràm. Nữ giới mặc áo ngắn quần tràm sẻ ngực chéo sang nách phải, quanh cổ áo có mảnh vải được ghép từ các miếng vải nhiều màu. Váy phụ nữ Pu Péo dài, rộng, màu đen, dọc theo mép váy có vải ghép màu như cổ áo.

Dân Tộc Phù Lá

Sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Điện Biên, Lào Cai. Các nhóm địa phương gồm có  Phù Lá Lão – Bồ Khô Pạ, Phù Lá Ðen, Phù Lá Hán . Dân số có khoảng hơn 10000 người. Nam giới Phù Lá mặc quần dài, áo ngắn tràm đen, hai bên nẹp áo trước ngực, dọc lưng đính nhiều hạt cườm hình chữ thập.

Dân tộc Pà Thẻn

Cư trú tập trung chủ  yếu ở Hà Giang, Tuyên Quan. Trang phục dân tộc của phụ nữ Pà Thẻn chủ yếu màu đỏ mang màu sắc truyền thống. Bộ nữ phục có áo váy, khăn trong khăn ngoài, hoa văn chữ thập, thắt lưng trắng, đội khăn rộng màu đen, bên ngoài khăn đen có vành khăn đỏ bên ngoài, có dua hai bên. Trang sức có vòng cổ, khuyên tai, vòng tay.

Dân tộc Giáy

Có khoảng 53000 người, sống chủ yếu ở Hà Giàn, Lào Cai, Lai Châu. Phụ nữ đẻ tóc dài vấn thành vòng khăn màu. Trên quấn khăn màu hơi lệch nghiêng rất duyên dáng. Tóc thường có các sợi chỉ hồng buông theo đuôi tóc. Đàn ông mặc đơn giản hơn, quần theo kiểu lá tỏa, quần rộng, áo cái cúc trước ngực hoặc mở khuy ngực cài bên.

Dân tộc Nùng

Có số dân khoảng 900000 hiện nay cư trú tập trung chủ yếu ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lài Cai, Thái Nguyên, Hà Giang. Trang phục thường làm bằng vả bông nhuộm tràm. Trag phục nữ có khăn đội đầu, áo, quần, khuyên tai, vòng tay, vòng chân bằng bạc. Nam giới có mũ lưỡi chai, áo ngắn sẻ trước ngực, cài cúc, hai túi cổ áo  có chân.

Dân tộc Ngái

Dân số khoảng 5000 người sinh sống chủ yếu ở các tỉnh miền núi Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang. Trang phục của người Ngái có nhiều nét độc đáo vào đặc trưng riêng. Đàn ông mặc áo sẻ ngực dài ngang hông với quần lá tỏa. Phụ nữ Ngái mặc áo 5 thân, trùm mông, cài cúc bên nách phải, quần lá tỏa, quần áo thường đồng màu và không trang trí hoa văn.

Dân tộc Sán chay

Có hai nhóm là Cao Lan và Sán Chỉ. Họ sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên. Hiện có hơn 162000 người. Người Sán chay còn duy trì được nhiều nét ăn măc truyền thống, điển hình là chiếc áo Cù rằng rinh. Ngày nay thường mặc áo nhộm tràm, tay trẽn, hơi rộng ngang, cúc áo bằng đồng, cổ áo trắng, váy tràm là tấm vải khâu khép kín cao đến thắt lưng, đầu quấn mảnh vải tràm, hai đầu vắt chéo sau gáy, sà cạp màu trắng quấn từ mắt cá chân đến gối

Dân tộc Sán Dìu

Có dân số khoảng 165000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở vùng núi các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Vĩnh Phúc. Trang phục dân tộc đặc trưng người Sán Dìu là áo bà ba nâu và quần nâu. Phụ nữ mặc áo lụa màu hoa đào, nâu non, váy hay quần màu chàm hoặc đen, đội khăn xếp mỏ quạ và đeo thắt lưng.

Dân tộc Thổ

Có gần 81000 người, cư trú chủ yếu ở Nghệ An, Thanh Hóa. Đàn ông dân tộc Thổ thường mặc quần cộc, dài may chân xòe, áo cộc ngắn tay, dài tay nhuộm nâu, cài khuy có hai túi trước. Phụ nữ mặc váy ống màu đen hoặc nhuộm tràm cổ viền, cài khuy, vạt sau che hông.

Dân tộc Ơ Đu

Chỉ có khoảng hơn 600 người, cư trú tập chung chủ yếu ở  huyện Tương Dương – Nghệ An. Họ còn có tên gọi khác là Tày Hán. Họ thường sinh sống xen kẽ giữa các dân tộc khác.

Dân tộc Chứt

Có các nhóm địa phương là Sách, Mày, Nục…Cư chú tập trung chủ yếu ở Quảng Bình, Hà Tĩnh. Dân số có khoảng hơn 5000 người. Trang phục xưa kia của người Chứt đơn sơ, mộc mạc. Về mùa hè, đàn ông đóng khố, phụ nữ mặc váy. Khi mùa đông đến họ đến vỏ cây rập phơi khô, rồi lấy vỏ cây làm áo mặc. Hiện nay bộ trang phục nam của dân tộc Chứt đã mai một và đang được nghiên cứu khôi phục lại.

Dân tộc Vân Kiều

Có khoảng 98000 người, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Trang phục truyền thống của nam giới là đóng khố. Phụ nữ mặc áo váy. Áo truyền thống của cả nam nữ đều chui đầu không có  tay. Áo làm bằng vải tấm ghép lại, khoét lỗ để chui đầu.

Dân tộc Tà ôi

Có khoảng 42000 người, cư trú chủ yếu ở Thừa Thiên Huế, Quảng Trị. Phụ nữ đều mặc váy ống ngắn đến ngang bụng chân, áo cộc tay chui đầu, đeo thắt lưng, song song thân áo váy là họa tiết bằng chỉ màu đỏ, trắng trang trí. Nam đóng khố, cởi trần hoặc mặc áo ngắn, quanh đầu quấn khăn.

Dân tộc Cơ Tu

Cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế. Có dân số khoảng hơn 60000 người. Người Cơ Tu thường mặc trang phục do chính tay họ tạo ra. Đàn ông thường đóng khố, cởi trần. Phụ nữ mặc váy ống, nếu váy dài thì che từ ngực trở xuống, váy ngắn thì che thân mặc áo ngắn luồn đầu, có ống tay hoặc không. Người Cơ Tu cũng dệt được những tầm vải lớn để choàng quanh người khi mùa đông đến.

Dân tộc Co

Sống chủ yếu tập trung ở tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam. Dân số khoảng hơn 33000 người. Trước đây nam thường đóng khố. Nữ thường mặc áo ngắn, yếm, áo ngắn cộc tay. Nền vải y phục người Co truyền thống màu chàm hoặc đen, bộ quần áo trắng dài được các bô lão mặc trong ngày cưới, lễ hội.

Dân tộc Rơ Rê

Có trên 120000 người, cư trú tập trung ở miền núi phía tây Quảng Ngãi, Bình Định.Trang phục dân tộc của nam giới thường mặc khố, áo đen ống dài tay, khuy phía trước, áo dài  không quá thắt lưng. Phụ nữ mặc váy ống. Áo cổ truyền màu tràm, ống tay dài hẹp cài khuy bên phải gấu áo, sống lưng viền chỉ trắng, bên trong mặc yếm.

Dân tộc Rẻ Chiêng

Có hơn 46000 người cư trú tập trung chủ yếu ở tỉnh Kon tum, Quảng Nam. Nữ giới mặc váy quấn, trên mặc áo cộc hoặc áo dài tay, có khi mặc váy ống che kín từ ngực xuống, đeo  nhiều đồ trang sức.  Nam đóng khố. Hiện nay trang phục truyền thống đang được khôi phục lại.

Dân tộc Sê Đăng

Có khoảng hơn 170000 người, cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Đàn ông đóng khố cởi trần. Đàn bà mặc váy áo có nhiều hoa văn đẹp và màu sắc rực rỡ.

Dân tộc Chăm

Có hơn 142000 người, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên và một bộ phận sinh sống ở các tỉnh Nam bộ như Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai, TP HCM. Trước đây người dân tộc Chăm cả nam lẫn nữ đều quấn váy ấm. Đàn ông mặc áo cánh ngắn, sẻ ngực, cài khuy. Đàn bà mặc áo dài chui đầu, trên đầu quấn khăn dài, khăn úp lên nhau trên đỉnh đầu, khăn áo váy đều mang màu trắng, vải sợi bông.

Dân tộc Rắc Lây

Có dân số khoảng hơn 130000 người cư trú tập trung chủ yếu ở tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Bình Thuận, Lâm Đồng. Trang phục truyền thống người Rắc Lây: đàn ông mặc áo bà bà, áo sơ mi, quần âu. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, áo sơ mi hoặc áo bà ba.

Dân tộc Bờ Râu

Có khoảng 352 người , cư trú chủ yếu ở tỉnh Kon Tum. Phụ nữ thường mặc áo sẻ ngực, váy quấn quanh thân mình buông dài xuống gót chân. Nam giới thường cởi trần đóng khố.

Dân tộc Rơ Măm

Có khoảng 400 người sống tại Làng Le – Mô Rai – Sa Thầy – Kon Tun. Trang phục truyền thống của người phụ nữ là áo ngắn tay, quấn quanh người không trang trí hoa văn. Nữ giới có tục xâu lỗ tai đeo vòng, đeo khuyên, hoa tai bằng ngà voi, gỗ , đồng. Đàn ông mặc khố, vạt trước dài đến đầu gối, vạt sau tới ống chân.

Dân tộc Chu Ru

Cư trú chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận. Dân số khoảng hơn 17000 người. Nữ thường quấn váy tấm, nửa thân trên choàng vải hở 1 bên vai. Đàn ông quấn Sà Rông mặc áo dài xẻ nách.

Dân tộc Bana

Có khoảng hơn 200000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh, Gia Lai, Kon Tum và phía tây các tỉnh Phú Yên, Bình Đinh. Trang phục dân tộc của người Ba na giản dị. Đàn ông mặc áo chui đầu, cổ xẻ , hở ngực cổ tay có đường sọc đỏ chạy ngang với gấu áo. Phụ nữ mặc áo chui đầu nhưng không xẻ cổ. Có loại cộc tay, dài tay, sọc tay ở cổ áo chạy ngang khủy tay.

Dân tộc Gia Rai

Có hơn 423000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Khánh Hòa. Phụ nữ mặc váy dài màu chàm ngang bắp chân, quanh thân và gấp dệt nhiều đường hoa văn, đeo nhiều đồ trang sức.Đàn ông đóng khố, kẻ sọc nhiều màu. Cả nam và nữ trong ngày lễ hội mặc Váy áo đẹp quán buôn tua dài quanh người.

Dân tộc Mạ

Dân tộc Mạ có trên 38000 người, Cư trú tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai. Phụ nữ Mạ thường mặc váy quấn dài quanh bắp chân, áo ngắn ngang thắt lưng chui đầu, hai vạt sau và trước bằng nhau, quanh áo và thân váy ống tay có nhiều hoa văn chạy song song. Nam nữ đều thích đeo vòng ở cổ tay bằng đồng, có ngấn khắc chìm.

Dân tộc Cờ Ho

Dân tộc chủ yếu sinh sống tập trung ở tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận. Dân số Cờ Ho có khoảng 135000 người. Đàn ông đóng khố, mùa nóng ở trần, khố của họ quấn chữ T, có nhiều đường màu đỏ để trang trí. Phụ nữ Cờ Ho mặc váy, áo ngắn chui, có 3 loại ngắn thân, cộc tay và áo dài, váy là tấm quấn quanh người ngắn cạp, nền váy màu đen, cạp thân và gấu váy dệt những sợi hoa văn vàng, trắng.

Dân tộc Ê Đê

Có trên 285000 người, sinh sống tập trung chủ yếu các tỉnh Đắc lắc, phía nam Gia Lai và miền tây Phú yên, Khánh Hòa. Trang phục truyền thống người Ê Đê là váy quấn dài đến gót chân, có những đường dệt hoa văn chỉ trắng đỏ trên nền vải chàm. Ngày nay phổ biến mặc váy ống, phía trên mặc áo ngắn chui đầu, ống tay dài hoặc cộc, với nhiều đường chỉ hoa văn ở vai và cổ tay áo.

Dân tộc Mơ Nông

Có khoảng 108000 người, đồng bào Mơ nông cư trú tập trung ở phía nam tỉnh Đắc Lắc, ĐẮc Nông và một phần tỉnh  Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai. Đàn ông thường đóng khổ ở trần.Đàn bà mặc váy quấn bông dài trên mắt cá chân. Thanh niên nam nữ thường mặc áo chui đầu, khố váy áo màu chàm sẫm trang trí hoa văn đỏ.

Dân tộc Siêng

Cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Phước, Lâm Đồng, Tây Ninh. Dân số khoảng hơn 78000 người có nhiều nhóm địa phương. Nam giới Siêng đóng khố mình trần, mùa lạnh mặc áo chui đầu. Phụ nữ thường mặc váy, áo ngắn tay với nhiều màu sắc hoa văn.

Dân tộc Chơ ro

Có hơn 28000 người,  cư trú tập trung ở tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu. Đàn ông thường đóng khố cởi trần, về mùa lạnh mặc quần áo ngắn, khoác thêm chiếc mền. Phụ nữ thì mặc chiếc váy quấn trên mặc áo ngắn, mùa rét cung khoác thêm tấm mền. Nam nữ chit khăn dài trên đầu. Phụ nữ thường đeo chuỗi hạt cườm ngũ sắc ở cổ, vòng bạc, đồng, nhôm ở cổ tay.

Dân tộc Hoa

Có dân số khoảng 970000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở tỉnh Tây Ninh, Sóc Trăng, Biên Hòa, TP HCM, Bà Rịa Vũng Tàu và một số tỉnh thành khác. Trang phục dân tộc cổ truyền của người Hoa làm từ vải bông với nhiều màu sắc. Nữ mặc áo năm thân dài trùm qua mông , sẻ ngực, chéo sang nách phải cài cúc phải. Nam mặc áo sẻ ngực cái cúc bằng vải có túi ở vạt trước.

Dân tộc Khơ me

Có số dân khoảng hơn 1,1 triệu người sống tập trung ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Bạc Liêu. Trang phục truyền thống của người Khơ me là quấn sà rông bằng vải tơ, áo mỏng bó sát người hoặc bộ quần áo bà ba màu đen, đầu quấn khăn rằn. Nam mặc sà rông. Nữ có thêm chiếc áo dài chui đầu.

Dân tộc Kinh

Sống tập trung chủ yếu ở đồng bằn Trung du, ngoài ra còn sống ở miền núi, hải đảo và cao nguyên. Dân tộc Kinh có số dân đông nhất trong cộng đồng 54 dân tộc khoảng hơn 70 triệu người.Trang phục dân tộc của người Kinh cũng khá đặc sắc. Xưa đàn ông mặc quần áo cánh, ngày tết mặc quần dài trắng , áo the đen đội khăn xếp đi guốc mộc. Đàn bà mặc váy đeo yếm, áo cánh chit khăn. Hiện nay áo dài truyền thống đã trở nên phổ biến cả trong và ngoài nước với nhiều màu sắc, kiểu dáng đẹp.

Dân tộc chăm – Tìm hiểu về người Chăm ở An Giang

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Chăm ( người Chăm) có khoảng 150.000 người họ thường cư trú quần tụ ở các làng thuộc từ Bình Định vào đến An Giang, nhưng tập trung đông nhất là ở Ninh Thuận, Bình Thuận và An Giang.

Người chăm là dân tộc duy nhất ở Việt Nam theo tín ngưỡng Hồi Giáo. Ở miền Trung Việt Nam cộng đồng dân tộc Chăm theo hồi giáo tự gọi mình là Chăm Bà Ni. Còn cộng đồng dân tộc Chăm ở Nam Bộ là người Chăm Islam theo tín ngưỡng của Hồi Giáo chính thống do cộng đồng này vẫn giữ được nhiều nghi lễ của đạo Hồi chính thống hơn so với đồng đạo của họ ở miền Trung. Chính cộng đồng người Chăm Islam này đã làm nên một bản sắc văn hóa Chăm độc đáo giữa vùng đồng bằng Nam bộ.

Phân bổ

An Giang, vùng đất trù phú được tạo nên từ phù sa của dòng sông Hậu. Đây cũng là vùng đất tụ cư của nhiều anh em trên đất Việt tìm đến sinh sống. Ở An Giang hiện nay có khoảng hơn 1 vạn người Chăm. Họ sinh sống chủ yếu ở các huyện thị như: Châu Phú, Tân Châu, An Phú và Châu Thành. Là cộng đồng cần cù chịu khó người Chăm ở An Giang chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, mua bán nhỏ và nghề thủ công.

Dân tốc Chăm - Người Chăm ở An Giang - Thánh đường người Chăm
Dân tốc Chăm – Người Chăm ở An Giang – Thánh đường người Chăm

Người dân tộc chăm ở đây thường sinh sống theo các tộc họ và tập trung trong các làng Chăm. Mỗi làng chăm có từ 300-400 hộ gia đình do mộ đơn vị quản lý của làng gọi là Hội đồng phong tục, trong đó có trưởng làng.

Tín điều

Người Chăm Islam ở An Giang họ rất nghiêm chỉnh chấp hành 5 tín điều đó là :

  • Tin tưởng tuyệt đối vào Thánh Ala
  • Hành lễ mỗi ngày 5 lần
  • Chay tịnh trong tháng lễ Ramadan
  • Chia sẻ với người nghèo
  • Hành hương về thánh địa Mecca

Với người Chăm niềm tin tôn giá sâu sắc, tin vào điều thiện luôn đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm lý, đồng thời chi phối hành động nhận thức tình cảm ý chí của mỗi cá nhân của cộng đồng người Chăm.

Tuy là một cộng đồng khá đông đảo sinh sôi bên dòng sông Hậu, nhưng người Chăm luôn sống gắn bó, hòa nhập với cộng đồng các dân tộc anh em, và giữ gìn bản sắc văn hóa riêng biệt của mình. Người chăm tại An Giang có rất nhiều lễ hội, mỗi lễ hội lại có những nghi thức truyền thống đặc sắc. Trong đó tháng Ramadan có ý nghĩa rất đặc biệt mang tính nhân văn sâu sắc với cả cộng đồng người Chăm.

Châu Giang là một miền quê năm bên bờ sông Hậu. Châu Giang luôn gợi lên một vẻ đẹp sông nước thơ mộng êm đềm, đồng thời nơi đây cũng là trung tâm giao thương của người trồng dâu,  ươm tơ, dệt lụa vốn là nghề truyền thống của người Chăm.Do đặc điểm cư trú của người Chăm, gắn liền với môi trường sông nước nên để phù hợp, nhà của người Chăm bao giờ cũng tôn cao hơn mặt nước khi có lũ. Do vậy, nhà được cất trên những hàng cột cao đến 2-3m với hoa văn trang trí và nội thất mang nét đặc trưng của dân tộc Chăm. Ở trong nhà, họ không sắp đặt hoặc trang trí các hình ảnh tượng thờ vào bàn thờ tổ tiên, có chăng chỉ là chiếc đồng hồ để biết giờ cầu nguyện với cuông lịch Islam. Bởi trong suy nghĩ của người chăm Islam khi treo những hình ảnh khác, sẽ tri phối tâm tư, làm cho họ sao nhãng việc cầu nguyện.Vào mùa khô, dưới sàng nhà được sử dụng làm nơi đặt khung dệt và các sinh hoạt thường ngày.

Bước vào làm Chăm, có cảm giác như lạc vào một thế giới khác, thế giới của những truyện cổ tích Ả Rập. Trong mỗi làng Chăm luôn có một thành đường Hồi Giáo bề thế, uy nghi. Người chăm An Giang không xây tháp như ở miền Trung, nhưng ở làng nào cũng có thánh đường Hồi Giáo. Tùy theo mỗi làng mà quy mô thánh đường lớn nhỏ khác nhau nhưng kiến trúc các thành đường thường có những đặc điểm chung. Các thành đường đều có ngọn tháp cao bên cạnh mái vòm bên cạnh thành đường. Nơi đó thường gắn một ngôi sao và vành trăng lưỡi liềm, vốn là biểu tượng của đạo Hồi. Vào trong là một khoảng sân cầu nguyện rộng rãi đây cũng là nơi hội họp ưa thích của cộng đồng người dân tộc Chăm.Với kiến trúc như vậy, thành đường Hồi giáo thể hiện rõ hai định hướng của đạo Hồi. Đó là hướng đến thượng đế và hướng đến cộng đồng tín đồ được biểu tượng bằng thánh địa Mecca – một trung tâm linh thiêng của tín đồ hồi giáo trên trần thế. Có lẽ vì thế mà tất cả các thánh đường của người Chăm ở An Giang đều hướng về nơi có thánh địa Mecca.

Tháng Ramadan

Tháng Ramadan diễn ra từ ngày 1-9 đến 30-9 theo lịch của đạo Hồi. Đây là một dịp để tất cả cộng đồng người Chăm Islam tự kiểm điểm lại những hành động đúng sai của mình trong từng ngày từng tháng của năm đã qua, để rồi mỗi người tự khắc phục những hành vi sai trái, hướng đến những điều thiện trong cuộc sống. Trong tháng Ramadan mỗi người Chăm phải tuyệt đối nhịn ăn , nhịn uống, không được sát sinh, và nhất là không gây gổ cãi vã làm mất đoàn kết với bất cứ ai từ lúc dạng đông đến tận buổi tối.

Trong tháng lễ thánh linh thiêng này, người Chăm Islam luôn tâm niệm với việc làm nhiều điều thiện có ích cho cộng đồng, tránh mọi việc xấu, đồng thời tôn kính về Thánh Allah cũng như thực hiện đầy đủ các nghi thức lễ nguyện và đọc kinh Coran.  Cũng trong dịp này người Chăm Islam ở An Giang trường cầu nguyện cho hòa bình và đẩy mạnh nhiều hoạt động xã hội từ thiện.

Tháng Ramadan còn là gì theo truyền thống của các thành viên trong cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang. Với tất cả những người Chăm Islam vì cuộc sống vì sinh kế có phải đi làm ăn ở phương xa,  nhưng Hàng năm cứ đến tháng Ramadan thì dù bận rộn đến mấy họ cũng tìm Trở Về đoàn tụ với gia đình thăm hỏi bà con thân thuộc xóm giềng. Chính vì vậy dân tộc Chăm Islam còn gọi tháng Ramadan là tháng của lòng nhân từ, tháng của việc hiện, hay tháng của tín nghĩa.  Mọi người trong cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang đều được khuyến khích tham gia tháng chay Ramadan. Bởi họ tin rằng càng khổ hạnh càng chứng tỏ đức tin của mình với Thượng đế.  Tuy nhiên cũng có những loại lệ như đối với người ốm người già hay trẻ em và phụ nữ mang thai thì được miễn tham gia vào tháng nhịn chay Ramadan.  Việc thực hành tháng chay Ramadan mang tính khuyến nghị chứ hoàn toàn không bắt buộc. Nhưng trên thực tế hầu như tất cả cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang đều tuân thủ nghiêm ngặt.

Trang phục truyền thống người Chăm

Lâu nay người Chăm ở An Giang, vẫn giữ được nét độc đáo riêng trong trang phục của mình. Người con gái Chăm thì thướt tha duyên dáng trong trang phục truyền thống, nhưng cũng có khi được cách điệu thành trang phục cùng tông màu rất đẹp. Đặc biệt là các thiếu nữ, lúc nào cũng có một chiếc khăn trùm đầu, được thả lơi hoặc cột gọn bao trùm lấy mái tóc.Chiếc khăn này luôn có những họa tiết, hoa văn rất trang nhã và quý phái. Còn đàn ông dân Chăm thì mặc Sarong kẻ sọc caro với áo sơ mi, và lúc nào cũng có chiếc mũ vải hình tròn đội trên đầu.

Trang phục đàn ông dân tộc Chăm An Giang
Trang phục đàn ông dân tộc Chăm An Giang

Giống như tâm lý của người Việt mỗi độ tết đến xuân về, người Chăm ở An Giang luôn muốn đón lễ Ramadan với trang phục đẹp nhất. Họ quan niệm, y phục trang trọng là thể hiện sự thành kính với đấng tối cao.

Trong suốt thời gian khoảng 1 tháng trước lễ Ramadan, mọi người ở đây luôn phải bận rộn đến tận lúc nửa đêm để kịp trao cho khách hàng những bộ Sarong trang trọng.

Các loại thực phẩm để chế biến món ăn của người Chăm đặc biệt là không bao giờ từ thịt lợn. Theo giáo luật mỗi người Chăm Islam điều phải nhịn ăn vào ban ngày trong suốt cả tháng Ramadan.  Vào ban ngày mỗi người ở đây đều cố gắng gìn giữ để không phải bất cứ điều gì có thể làm mất phước chay của mình.  Đến khi mặt trời lặn, họ mới ăn để bù thêm sau một ngày nhịn chay. Đây gọi là bữa ăn xả chay. Bữa ăn xả chay là hình thức để ăn mừng sự thi hành nghiêm chỉnh giá luật của cá nhân cũng như là của cả cộng đồng. Thông thường các bữa xả chay khá thịnh soạn với những món như Ca-yy, Ca-pua hay Tung-lo-mo cùng với đó là các loại bánh truyền thống của dân tộc Chăm. Nhưng tuyệt nhiên không có rượu bia hoặc bất cứ loại nước uống nào có men.Tuy bữa ăn cả chay diễn ra vào buổi tối nhưng không vì thế mà mất đi không khí vui vẻ. Bởi đây là dịp gia đình được đoàn tụ, là  lúc bà con chòm xóm tới thăm hỏi chúc mừng và để nói với nhau những lời xin lỗi nếu trong thời gian qua có những gì phật ý.

Bắt đầu từ đêm mùng 1 tháng 9 theo lịch của Hồi Giáo là thời điểm chính thức vào Ramadan. Mọi người trong đó là hiểu tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị thức ăn đêm và kiêng chuyện chăn gối để chuẩn bị lễ nguyệt trong tháng Ramadan linh thiêng. Đặc biệt vào thứ 6 mỗi tuần sau khi tắm xong, họ giữ gìn không cho bất cứ ai chạm vào người mình cho đến lúc vào thánh đường. Mỗi ngày mọi người vẫn đi hàng đến năm lần đó là vào lúc rạng đông, buổi trưa, buổi chiều,  lúc hoàng hôn và buổi tối. Vào cuối buổi chiều các tín đồ Chăm tập trung về đại thánh đường ngày càng đông . Họ chuẩn bị cho cuộc hành lễ thứ tư trong ngày vào lúc hoàng hôn. Theo giáo luật chỉ có những người đàn ông trưởng thành mới được phép đến thánh đường. Còn phụ nữ thì không được vào trong thánh đường.  Để tiến hành một buổi lễ cầu nguyện thì ít phất phải có 40 người tham gia. Họ quan nghiệp có như vậy thượng đế linh thiêng mới chấp nhận buổi lễ.
Tất cả mọi người đều mặc đồ truyền thống của người Chăm sạch sẽ tươm tất và đầu đội mũ trắng hoặc khăn trắng.  Trong cộng đồng người Chăm Islam, những tín đồ bằng khăn rất được kính trọng, bởi họ là những người đã hành hương đến thánh địa Mecca ít nhất một lần trong đời. Sau một ngày Nhịn ăn nhưng không ai được đến những thức ăn ở trước mặt mình tất cả đều chuyên tâm đọc kinh Coran với một niềm tin mãnh liệt vào Thượng đế.

Khi có  tiếng trống báo hiệu hết giờ đọc kinh các tín đồ mới được phép ăn uống trong bữa xả chay đầu tiên. Cho đến khi có tiếng trống lần thứ 2, mọi người đều phải dừng lại để tiến hành các nghi thức của buổi cầu nguyện.

Một buổi cầu nguyện của dân tộc Chăm
Một buổi cầu nguyện của dân tộc Chăm

Bắt đầu vào buổi hành lễ cầu nguyện thứ tư trong ngày, các tín đồ người Chăm Islam sẽ thực hiện việc tối ở đâu sự hướng dẫn của người điều hành buổi cầu nguyện. Theo giáo lý Islam vì mọi người đều bình đẳng như nhau và chịu trách nhiệm với Đấng Tạo hóa nên không có hệ thống giáo phẩm hoặc Giáo Sỹ. Tuy nhiên để điều hành được cầu nguyện của các tín đồ ở trên đường cũng có một số tín đồ thông hiểu giáo lý đứng ra làm việc này. Đó là một người có hiểu biết sâu rộng về giáo lý và thuộc lòng kinh sách đứng ra hướng dẫn cách để nguyện cầu tập thể.  Một người nữa cũng có hiểu biết rộng nhưng chỉ đảm trách việc hướng dẫn cầu nguyện của ngày thứ 6 hoặc vào ngày lễ. Một người nữa đảm trách việc sướng kinh kêu gọi đồng đạo đến dâng lễ nguyện tập thể. Khi cầu nguyện phải quay mặt về hướng tây – hướng của thánh Allah cũng là hướng của thánh địa Mecca và đọc kinh bằng tiếng Ả Rập.Mọi tín đồ hành lễ rồi đứng ngay hàng thẳng lối và đồng loạt thực hiện các thao tác như khoanh tay trước ngực hoặc ngồi để tay lên đùi, vuốt mặt hay cúi đầu sát đất với lòng thành kính của những tín đồ sùng đạo. Những lời cầu nguyện của các tín đồ phải hướng tới thượng đế nói về sự vĩ đại từ bi đáng kính của người đồng thời họ cầu xin đừng tới cao ban cho những điều tốt lành trong cuộc sống. Theo giáo lý Islam vào buổi trưa thứ 6 hàng tuần các tín đồ phải cùng nhau đến thánh đường Cầu Nguyện tập thể đó là thể hiện sức mạnh của cộng đồng, sức mạnh của những người có cùng đức tin.

Theo giáo luật, những người phụ nữ chăm không được đến thánh đường để cầu kinh. Nhưng việc cầu kinh của phụ nữ vẫn được diễn ra tại nhà. Việc cầu nguyện tại nhà của những người phụ nữ Islam thông thường giao cho người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình đảm nhiệm. Vai trò của họ cũng giống như vai trò của người hướng dẫn ở thánh đường . Mỗi ngày họ cũng tiến hành cầu nguyện 5 lần giống như những người đàn ông. Khi cầu nguyện những người phụ nữ sử dụng các bộ trang phục riêng bị hành lễ. Những bộ lễ phục này đều do chị em tự lo cho mình. Những người phụ nữ Chăm Islam tin rằng việc nghiêm cẩn cầu nguyện và tích cực làm việc thiện sẽ giúp họ được nhiều sức lực của Thánh Allah, bởi sự ân thưởng của Thượng đế sẽ tăng lên nhiều hơn so với ngày thường. Sau khi hành lễ xong họ sẽ đọc kinh Coran hoặc nghe giảng đạo ở nhà.

Trong suy nghĩ của người Chăm Islam đối với những người thân đã khuất đó là sự ra đi của họ sang một thế giới khác. Trong những ngày của tháng Ramadan người Chăm Islam tin rằng họ có thể kết nối với người đã khuất, bởi vì lúc này các thiên thần sẽ cho phép họ được giao cảm với những người thân trong gia đình. Vì vậy họ rất coi trọng việc đến tận ngôi mộ của người thân để đọc kinh Coran. Đây là việc làm thấm đậm tính nhân văn của cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang.

Đạo Hồi là một trong những tôn giáo được sự quan tâm của nhà nước Việt Nam vì thế cộng đồng người Chăm Islam An Giang đã thành lập Ban đại diện đó là niềm vui lớn của các cộng đồng dân tộc Chăm ở đây. Ban đại diện có nhiệm vụ lo toan giải quyết các công việc của cộng đồng giáo dân Chăm. Bên cạnh đó ở ban đại diện Cộng đồng hồi giáo luôn gương mẫu làm tốt vai trò cầu nối giữa nhà nước với tín đồ hồi giáo đồng thời tuyên truyền định hướng cho các tín đồ thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước sống tốt đời đẹp đạo, đoàn kết bảo vệ xây dựng xóm làng, giữ gìn an ninh trật tự, giúp nhau vươn lên trong cuộc sống.

Ngoài ra việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cũng như việc đầu tư cho giáo dục ở cộng đồng dân tộc Chăm cũng được chính quyền địa phương quan tâm coi trọng.  Tại các thánh đường đều tổ chức dạy học song ngữ Việt – Chăm.

Tuy có nhiều tôn giáo với những giáo luật chặt chẽ khác nhau trên cùng một đất nước nhưng tôn giáo nào cũng hướng mọi người tới mọi điều thiện trong cuộc sống. Với cộng đồng người dân tộc Chăm Islam ở đây các giáo luật đó đã giúp con người nghĩ nhiều việc thiện và thực hành điều thiện. Qua đó nâng cao đời sống đạo hạnh và thể hiện tình thương yêu trách nhiệm đối với những người nghèo khó đồng thời chung tay cùng với chính quyền các cấp trong lo phút nữa những người không may mắn trong cuộc sống. Đây là những việc làm thiết thực mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc của cộng đồng người Chăm Islam trên đất nước Việt Nam.

Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc

Dân tộc Dao – Tuyên Quang,  một tỉnh miền núi thuộc Đông Bắc Việt Nam ,Nằm ở trung tâm lý lưu vực sông Lô. Tuyên Quang là nơi cư trú của cộng đồng  20 dân tộc anh em. Trong đó dân tộc Dao có quy mô dân số đứng thứ 3 sau người Kinhngười Thái hội tụ đủ cả 9 ngành Dao. Như  người Dao tiền, người Dao Đỏ, người Dao quần trắng…

Mỗi ngành có một đặc trưng văn hóa riêng, tạo nên sắc thái văn hóa đang dạng, phong phú và giàu bản sắc. Bài viết dưới đây sẽ đưa chúng ta về với bản làng ở Tuyên Quang, để hòa chung không khí với đồng bào dân tộc Dao nơi đây.

Trong kho tàng văn hóa dân gian của Việt Nam, khi đồng bào dân tộc Dao có nhiều đóng góp đáng kể, thông qua đời sống tinh thần hết sức phong phú. Từ tập quán sinh sống, Lao động sản xuất, cách thức bài trí nhà cửa,  trang phục, cho đến hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ đều có những nét đặc trưng riêng mà chúng ta có thể nhận ra.Và ngay trong từng ngành Dao cũng có sự khác biệt với nhau. Đối với người Dao tiền hay Dao Đỏ thì ở nhà  trệt, Dao Quần Trắng, Dao áo dài thì ở nhà sàn. Trang phục của các ngành Dao cũng hết sức đa dạng. Người phụ nữ chính là những người gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc
Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc

Trang phục dân tộc Dao

Với bản tính chịu thương chịu khó, những người phụ nữ Dao chỉ bằng những khung dệt thôi xơ mộc mạc, Và những chất liệu sẵn có ở địa phương tạo ra những bộ trang phục truyền thống với những đường nét hoa văn tinh tế, và lộng lẫy sắc màu.  Tuy mỗi một ngành Dao có một trang phục đặc trưng riêng,  từ kiểu dáng đến cách phối màu. Xong nhìn chung trang phục của phụ nữ Dao bao giờ cũng cầu kỳ và tinh xảo.Từ phản đối đầu, váy áo cho đến xà cạp, tất cả đã góp phần tôn lên vẻ đẹp và sự duyên dáng cho người phụ nữ Dao.

Đời sống

Người Dao vốn sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Tuy nhiên cùng với thời gian do sự thay đổi về điều kiện tự nhiên cũng như tập quán sinh sống.  Ngày nay, người Dao đã phát triển lúa nước và một số loại hoa màu khác, đặc biệt là ngô.Cũng nghe nhiều dân tộc khác và con người dân tộc Dao vẫn có cuộc sống tự cung tự cấp, dựa vào chăn nuôi, trồng trọt nên việc gieo trồng và chăm sóc mùa màng rất được quan tâm . Cũng từ đó trong cuộc sống của con người Dao dần hình thành những tín ngưỡng nông nghiệp và các hình thức sinh hoạt văn hóa, phục vụ cho việc cầu mưa, cầu gió nhằm đối phó với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cầu mong cho mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi, vật nuôi không bị dịch bệnh.

Sinh hoạt văn hóa

Trong các hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ phổ biến của người dân tộc Dao, thì dân ca, dân vũ có đời sống rất phong phú về nội dung và hình thức thể hiện. Tùy theo đối tượng hoàn cảnh diễn ra các cuộc hát, nhằm phản ánh kinh nghiệm sản xuất, dự báo thời, phép ứng xử trong xã hội, đề cao đạo đức, lẽ sống àm người và tình yêu quê hương hay tình yêu đôi lứa.  Mỗi nhóm dao có những làn điệu ít nhiều khác nhau, Nhưng nhìn chung những bài hát của người Dao đều được hình thành trên thể thơ thất ngôn hoặc lục bát.Hát giao duyên trong tiếng rao gọi là “Pao dung toi tong dai Dung”  lời ca tiếng hát để bày tỏ tình cảm của mình.

Cứ mỗi độ xuân về khi hoa mận nở trắng khắp núi rừng, cũng là lúc nông nhàn sau khi mùa màng kết thúc. Thanh niên nam nữ người Dao, lại tổ chức hội hát giao duyên. Vừa để tạo không khí mùa xuân vui tươi vừa để tìm hiểu kết thành đôi lứa.  Đây là nét đổi mới trong văn hóa của người Dao.  Trước đây, người Dao bị ràng buộc khắt khe bởi những lễ giáo phong kiến và những hủ tục mê tín dị đoan, nên việc bày tỏ tình cảm việc giao duyên như thế này là điều rất khó khăn.Với ca từ nhẹ nhàng, sâu lắng các chàng trai cô gái muốn trao gửi cho nhau những nhắn nhủ từ sâu thẳm trong lòng mình một cách tinh tế và tràn đầy cảm xúc.

Khi lời ca đã làm cho tâm hồn sao xuyến, tình cảm đã tâm đầu ý hợp thì họ trao nhau những chiếc khăn thêu như để tin, để gửi gắm vào đó những tình cảm dành cho người đã chọn.

Theo  phong tục, thì giao duyên chỉ được tổ chức với các chàng trai cô gái ở các bản làng nhau. Việc tổ chức ca hát rất đơn giản.Trai gái bản này muốn ca hát với trai gái bạn khác nếu là hát trong nhà thì chỉ cần xin phép gia chủ,  còn ở ngoài trời thì họ tự chia thành hai bên nam nữ hát đối với nhau.Ngoài hình thức  hát Giao Duyên dành cho những người chưa có gia đình thì người dân tộc Dao còn tổ chức hát đối đáp cho những người đã có gia đình.Với mục đích giao lưu văn nghệ, tạo không khí vui tươi sau những ngày lao động vất vả.

Nội dung của các bài hát này chủ yếu ca ngợi tinh thần lao động sản xuất, thăm hỏi 2 công việc ruộng đồng, nương rẫy hay ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên. Mỗi cuộc hát đối thường kéo dài cho đến khi gà gáy canh 2, canh 3 bây giờ về hay về nhà đấy. Một hình thức khác tương đối thú vị, bài hát Uống Rượu, tức là khi uống rượu vui vẻ mọi người cùng hát cho nhau nghe nhằm tăng thêm phần hưng phấn cho tiệc rượu và tăng thêm tình đoàn kết gắn bó cộng đồng. một hình thức sinh hoạt văn nghệ có lẽ được nhiều người yêu thích, tham gia nhất là hát đối đáp trong đám cưới. Trong nghi thức cưới hỏi của người Dao, khi đến nhà gái, nhà trai thường hay cho phù rể đi lên trước, đồng thời nhà gái cũng cử hai cô gái phù dâu ra tiếp đón.Hai bên cùng nhau hát đối đáp để xin dâu. Nếu nhà trai đối được thì nhà gái mới cho đón dâu. Qua vòng đối đáp này, nhà gái Mời nhà trai vào nhà và cùng ngồi uống rượu nói chuyện, trong khi hai đôi phù dâu phù rể vẫn tiếp tục hát đối với nhau.

Đồng bào dân tộc Dao, Vốn là những người có đời sống tinh thần phong phú nên họ rất thích hát, rất hay hát. Đối với họ lời ca tiếng hát Không chỉ là công cụ hữu ích để giao duyên kết bạn, để thể hiện tình cảm lứa đôi hay tình làng nghĩa xóm. Mà những giai điệu dân ca dao đã ăn sâu vào những suy nghĩ trẻ thơ ngay từ khi còn tấm bé thông qua những khúc hát ru của bà, của mẹ. Để rồi những giai điệu ngọt ngào thấm đậm hồn quê, ngấm sâu trong ký ức ngọt ngào và lớn lên cùng những em bé người Dao.

Không chỉ nuôi dưỡng những làn điệu dân ca mượt mà, người Dao còn sáng tạo ra các điệu dân vũ rất độc đáo và đặc biệt gắn ăn liền với nghi lễ tôn giáo của đồng bào. Trong các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người dân tộc Dao không thể thiếu các điệu múa, thể hiện sức mạnh, thể hiện sự giao tiếp với các thế lực siêu, Hay để xua đuổi tà ma hơn là một hình thức sinh hoạt văn nghệ đơn thuần. Bởi vậy để có các bạn múa đúng nghi thức, người Dao khá cầu kỳ trong câu tổ chức, từ việc chọn trang phục cho đến việc thực hiện các động tác múa.

Tùy từng nhóm Dao mà trang phục múa có khác nhau, xong dù nhóm Dao nào trang phục múa cũng được may hết sức cầu kỳ và đẹp mắt. Không chỉ tạo nên vẻ rực rỡ cho buổi lễ mà còn mang đậm màu sắc tâm linh. Các điệu múa của người Dao là hình thức sinh hoạt cộng đồng được nhiều người yêu thích và tham gia, không phân biệt già trẻ gái trai.  Bởi vậy để bảo tồn và phát huy các điệu múa cổ truyền, người Dao đã hình thành hẳn một nghi lễ dạy múa.  Theo đó, người dạy múa phải là người có hiểu biết, có uy tín trong cộng đồng và được mọi người tín nhiệm. Trong các điệu múa của người dân tọc Dao, thì Tết nhảy là một người đã rất phổ biến là sự kế tục của ngày lễ cúng Bản Vương lượng tinh tướng để bảo vệ cuộc sống  gia đình, dòng tộc, và bản làng. Tham gia vào lễ Tết nhảy chúng ta có dịp chiêm ngưỡng điệu múa có một không hai của người Dao, mà không có tộc người nào khác có được. Đó là điệu múa tái tạo lại cuộc sống lao động sản xuất đầy thú vị của người Dao.

Trong khi đó, các điệu múa trong lễ cấp Sắc, hay còn được gọi là nghi lễ vòng đời xuất hiện trong nghi lễ tín ngưỡng của người Dao, trở thành hình thức tín ngưỡng văn nghệ sinh hoạt Văn nghệ dân gian phổ biến, nhằm mô tả quá trình lịch sử hình thành và phát triển của cả tộc người.

Còn nhiều nữa những giai điệu dân ca dân vũ, và những hình thức sinh hoạt văn hóa thú vị làm say đắm lòng người của đồng bào dân tộc Dao ở Đông Bắc Việt Nam. song, chỉ những hình ảnh trên đây cũng đã đủ để cho chúng ta thấy một cách rõ ràng về dài truyền thống, cũng như đời sống văn hóa hết sức phong phú và giàu bản sắc cuộc sống người dân tộc Dao. những sinh hoạt văn hóa ấy không chỉ có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn mà còn là tinh thần đoàn kết,  tương thân tương ái vượt qua mọi khó khăn thách thức, để bà con chung tay xây dựng quê hương, để bản làng ngày một ấm no, hạnh phúc.

Dân tộc Ê đê – Cùng tìm hiểu nét văn hóa của người Ê đê ở Đắc lắc

Dân tộc Ê đê ở Tây Nguyên nói chung, hay người Ê đê ở Đắk Lắc nói riêng có đời sống vật chất và tinh thần rất đặc sắc. Chính những giá trị văn hóa truyền thống của người Ê đê đã tạo nên những nét đặc trưng văn hóa của vùng đất Tây Nguyên.

Tây nguyên, một dải trường sơn xanh thắm với những cánh rừng đại ngàn. Nơi cư trú của hơn 20 tộc người da nâu mắt sáng, vóc dáng  hiền hòa. Tây Nguyên, vùng đất cao nguyên đại ngàn đầy nắng và gió.Nơi có những bản trường ca, sử thi,  truyền thuyết về đồng bào dân tộc. Đăk Lăk cái nôi của văn hóa Tây Nguyên nơi chứa đựng nhiều nét văn hóa dân gian truyền thống, những phong tục tập quán lễ hội. Có một nhà văn đã nói rằng hóa Tây Nguyên là văn hóa rừng và văn hóa làng. Còn người Tây Nguyên là một bộ phận của gia đình và buôn làng. Điều đó không chỉ được thể hiện bởi cuộc sống sinh hoạt của họ luôn gắn với cộng đồng mà còn thấy rõ qua kết cấu ngôi nhà mà họ sinh sống.

Dân tộc Ê đê – Cùng tìm hiểu nét văn hóa của người Ê đê ở Đắc lắc
Dân tộc Ê đê – Cùng tìm hiểu nét văn hóa của người Ê đê ở Đắc lắc

Nhà dài của người Ê Đê

Nếu như người Ba Na tự hào với những ngôi nhà rộng chọc trời thì người Ê Đê tại Đắk Lắk lại được biết đến với những chiếc nhà dài truyền thống. Từ bao đời nay, nơi đây đã đi vào truyền thuyết sử thi cũng như các câu chuyện cổ như là một phần của lịch sử, của văn hóa Tây Nguyên . Nhà dài không chỉ là biểu tượng vật chất của thể chế gia đình mẫu hệ mà còn là nơi giữ những giá trị văn hóa tinh thần của người ta Ê đê qua năm tháng.

Nhà dài của đồng bào Ê đê là một công trình văn hóa độc đáo, đó là sản phẩm tiêu biểu của tổ chức công xã thị tộc nhằm thích ứng với môi trường thiên nhiên, tránh thiên tai thú dữ và bảo vệ sự sống của các thành viên trong cộng đồng đồng, thời cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của đồng bào.  Nhà dài của người Ê đê là nhà sàn làm, làm bằng tre nữa và bằng gỗ mặt sàn và vách tường bao quanh nhà làm bằng thân cây bương hay thân cây tre già đập dập, mái lợp cỏ tranh.  Nhà dài Ê đê do một phụ nữ làm chủ phản ánh sự tồn tại của chế độ mẫu hệ.  Nhà dài của người dân tộc Ê đê có thể dài đến 100m bởi mỗi khi một thành viên nữ trong gia đình xây dựng gia thất nhà lại được nối dài thêm, đó là nơi cư trú của đại gia đình cho hàng chục người và thể hiện danh tiếng địa vị của gia đình đó trong cộng đồng . Điều thú vị là nếu bạn muốn biết gia đình nào có bao nhiêu con gái hãy nhìn vào cửa sổ. Nhà nào có bao nhiêu cửa sổ thì có bầy nhiêu con gái.  Cửa sổ nào đóng kín nghĩa là cô gái ấy chưa bắt chồng.  Còn cửa sổ nào mở rộng có nghĩa là cô gái ấy đã bắt chồng.

Đặc biệt là dài người Ê đê bao giờ cũng có hai cầu thang đực và cái.  Thang đực để dành cho những thành viên nam trong gia đình, thang cái dành cho những thành viên nữ và khách.  Bậc cầu thang từ đất liền đến sàn nhà luôn mang số lẻ.  Người Ê đê tin rằng số chẵn là số của ma quỷ, số lẻ mới là số của con người.  Trên cầu thang luôn được khắc đôi bầu vú mẹ tượng trưng cho chế độ mẫu hệ,  nó cũng là lời giáo dục dù ai đi đâu về leo lên sàn nhà, cũng phải nhớ tới người mẹ thân sinh ra mình.

Nhà Dài người dân tộc Ê đê ở Đăk Lăk
Nhà Dài người dân tộc Ê đê ở Đăk Lăk

Ngay trước cửa nhà dài, người Ê đê có thêm chiếc nồi thể hiện mong ước no đủ đến với gia chủ . Bước qua sân trước chúng ta sẽ vào không gian quan trọng nhất của ngôi nhà. Đây là nơi dùng để tiếp khách và sinh hoạt chung của đại gia đình.  Nhà càng sang thì ngăn khách càng to và hoành tráng.  Tại đây chúng ta có thể chiêm ngưỡng những đồ vật quý giá và tình thương của người Ê đê.  Như câu nêu, chén rượu, trống chiêng…

Người dân tộc Ê đê thường sử dụng kết cấu cột kèo bằng gỗ tốt để tạo sự chắc chắn cho mỗi nhà, trên đó có chạm trổ rất nhiều hoa văn hình mặt trăng, ngôi sao, ngà voi hay các động vật như rùa voi thằn lằn thể hiện tín ngưỡng đa thần sâu sắc. Nó cũng chứng tỏ trí tưởng tượng phong phú và sự gắn kết giữa con người Tây Nguyên với thiên nhiên. Phần tiếp  sau của nhà dài là không gian riêng cho các đôi vợ chồng nơi này được chia làm nhiều buồng nhỏ mà theo thứ tự thì  từ buồng thứ nhất cửa sau vào là của bà chủ nhà.

Cây nêu

Cây nêu của người Ê đê thường được dùng để buộc trái rượu và là mọt thành viên không thể thiếu trong những ngày diễn ra lễ hội.  Không chỉ có vậy cây nêu còn thể hiện những bước thăng trầm của cả một bộ tộc qua những họa tiết thể hiện trên cây nêu ta có thể thấy được sự ra đời và phát triển của cả tộc người. Truyền thuyết kể rằng, tổ tiên của người Ê đê là ở vùng biển nên trong tâm thức hay văn hóa sinh hoạt của người Êđê cũng có ảnh hưởng ít nhiều. Điều này không chỉ thể hiện qua hình dáng của ngôi nhà dài, mà còn hiện hữu ở ngay chiếc ghế Kpan.

Ghế Kpan

Chiếc ghế Kpan mô phỏng hình dáng của chiếc thuyền và được đẽo từ một thân cây gỗ quý. Chân và mặt ghế liền nhau, hơi con ở hai đầu. Thông thường ghế Kpan dài hơn chục mét.  Ghế Kpan chỉ dùng vào việc tiếp khách quý hoặc để các nghệ nhân nổi đánh chiêng trống trong những lễ hội cúng mừng của gia đình hay cộng đồng. Ghế Kpan là tài sản quý của những gia đình giàu và có vị thế của người Ê đê.

Cồng chiêng dân tộc Ê đê
Cồng chiêng dân tộc Ê đê

Cồng chiêng

Vai trò của Cồng Chiêng mang một sức mạnh to lớn ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống sinh hoạt của các thế hệ người Ê đê.  Tước đây gia đình nào ở Tây Nguyên cũng có cồng chiêng. Đồng bào Tây Nguyên coi cồng chiêng như là sức mạnh vật chất, sự giàu có của cá nhân, gia đình, dòng họ và buôn làng.  Cồng Chiêng là những tài sản quý giá của ông bà tổ tiên để lại, có những bộ cồng chiêng quý phải đổi vài chục con trâu, mấy con voi mới có được. Bởi vậy Chiêng là tài sản quý hiếm được lưu giữ và truyền từ đời này sang đời khác, ăn sâu vào đời sống tâm linh của người dân tộc Ê đê.

Họ tin rằng mỗi khi vang lên âm thanh của Cồng Chiêng có thể giúp con người thông tin trực tiếp đến các đấng thần linh, là chiếc cầu nối giữa các thành viên trong cộng đồng từ lúc cất tiếng khóc chào đời con người đã nghe tiếng chiêng trống. Khi lớn lên dựng vợ gả chồng tiếng chiêng lại rộn ràng trong ngày vui hạnh phúc. Và để có lời với tổ tiên thì cũng có tiếng chiêng, tiếng cồng. Cồng chiêng không được sử dụng một cách bừa bãi mà chỉ được sử dụng trong các nghi lễ, lễ hội của gia đình và buôn làng cho những dịp tiếp khách quý.  theo quan niệm tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thì tiếng chiêng cũng có hồn. Do đó con người phải tôn trọng quý mến thờ cúng thần chiêu, thì thần chiêng  mới cho âm thanh hay trong trẻo và giúp cho con người giày sang, khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc.

Ngoài cồng chiêng, người Ê đê còn có một loại nhạc cụ khác đó là chiếc khèn.Được chế tạo từ quả bầu khô và 6 chiếc ống nữa. Khèn dành nam giới sử dụng trong dịp lễ tế, lễ hội của buôn làng, trong những dịp đón khách quý. Ngày thường thanh niên Ê đê cũng rất ưa chuộng tiếng đàn. Họ hay thổi với nhau khi lên nương, đi rẫy, hoặc đệm trong các bài hát truyền thống.

Trong hệ thống các nhạc cụ của người dân tộc Ê đê, thì bộ chiêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh. Trong tiềm thức của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thì Giàng là một vị thần rất linh thiêng cao quý, luôn phù hộ, che trở , bảo vệ cho dân làng. Vì thế đồng bào tuyệt đối tin tưởng và thường xuyên cúng tế. Những vật dụng sử dụng cho việc cúng tế Giàng cũng rất phong phú.

Người Ê đê ở Đắk Lắc có đời sống vật chất và tinh thần rất đặc sắc. Chính những giá trị văn hóa truyền thống của người Ê đê đã tạo nên những nét đặc trưng văn hóa của vùng đất Tây Nguyên, tạo nên nét khác biệt trong văn hóa so với các vùng văn hóa khác. Những nét văn hóa phong phú và đa dạng của người dân tộc Ê đê đã thực sự đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam những tri thức văn hóa lịch sử quý giá.

Dân tộc Kinh – Giới thiệu về dân tộc Kinh ( Việt)

Dân tộc kinh còn gọi với cái tên khác và Việt, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường với dân số chiếm số đông nhất Việt Nam ( khoảng 70 triệu người)

Người dân tộc Kinh cư trú tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Chủ yếu tập trung ở các vùng đồng bằng, trung du. Xa xưa, họ sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Lịch sử đã ghi lại nhiều hệ thống đê điều, kênh rạch phục vụ cho việc trồng lúa nước này. Ngoài ra, người Việt còn làm thêm nhiều nghề khác như làm vườn, trồng dâu nuôi tằm, đệt vải, chăn nuôi. Những vùng gần biển hay có nhiều sông ngòi còn có thêm nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản. Người Việt có nhiều tập tục phong phú như , ăn trầu, hút thuốc, uống trà…

 

Trang phục dân tộc Kinh 3 miền
Trang phục dân tộc Kinh 3 miền

Đặc điểm cư trú

Với đời sống người dân tộc Kinh, thường sống theo hình thức cộng đồng. Điển hình là họ sống quần tụ trong các làng xã. Mỗi làng xã lại có những nét sinh hoạt cộng đồng riêng. Ngôi đình làng được coi là nơi trung tâm văn hóa, nơi diễn ra mọi sinh hoạt của dân làng.

Văn hóa gia đình

Trong hôn nhân và gia đình, người kinh thì người đàn ông được coi là người chủ gia đình, là trụ cột quan trọng nhất của gia đình. Người kinh đặt tên con cái theo họ của người cha. Họ của người cha được gọi là họ nội còn họ người mẹ được gọi là họ ngoại. Trong gia đình, người đàn ông có vai trò quan trọng. Người Kinh có tục lệ khi cưới , người con gái sẽ về nhà chồng chung sống, gọi là làm dâu. Nên người con trai nhiều tuổi nhất trong gia đình có trách nhiệm thờ phụng cha mẹ, ông bà tổ tiên. Với những dòng họ lớn, thì những người trưởng họ cũng có trách nhiệm lớn tương tự.

Văn hóa của người Kinh cũng rất đa dạng. tuy mỗi vùng có những nét riêng đặc trưng, nhưng nhìn chung họ vẫn có những điểm chung nhất mang đậm bản sắc của dân tộc mình.

Nhà ở

Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà được coi là ba việc lớn nhất cuộc đời của người đàn ông dân tộc Kinh. Vì thế ngôi nhà của người Việt được coi là rất quan trọng. Cách xây nhà của mỗi vùng cũng có khác nhau. Do sự khác nhau từ điều kiện tự nhiên, khí hậu…Người miền Bắc có đặc trưng với những ngôi nhà có kết cấu vỉ kèo, bình đồ. Các ngôi nhà này thường làm ba gian hai trái. Với gian chính giữa nhất thường là nơi thờ cúng ông bà tổ tiên. Cũng có thể là nơi tiếp khách. Điều này thể hiện sự hiếu khác của người Việt. Muốn dành nơi trang trọng nhất để thiết đãi khách. Các gian hai bên được dùng làm nơi sinh hoạt của các thành viên trong gia đình. Người miền Trung lại có kiểu nhà đặc trưng là nhà giường. Cách bố trí đồ đạc và cách sinh hoạt trong nhà cũng có khác đôi chút so với người miền Bắc. Nhà của người miền trung tại một số nơi cũng có một nét độc đáo, đó là nhà mái lá. Loại nhà này có hai lớp nóc. Một lớp bằng đất, một lớp bằng lá. Do miền Trung thường xuyên có gió Lào mang hơi nóng thổi ra. Nên loại nhà nhà có tác dụng chống nóng tốt hơn.

Trang phục

Về trang  phục người Kinh cũng khá đa dạng với nhiều loại y phục như khăn áo, váy, quần, mũ nón…các trang sức đi kèm.Có những nét khác hẳn với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ.

Xưa đàn ông dân tộc Kinh mặc quần áo cánh,ngày  lễ tết mặc quần dài trắng, áo the đen, đội khăn xếp đi guốc mộc. Phụ nữ mặc váy, đeo yếm, áo cánh chit khăn. Hiện nay áo dài truyền thống đã trở nên phổ biến cả trong và ngoài nước với nhiều màu sắc, kiểu dáng đẹp.

Dân tộc Tày – Đặc sắc văn hóa của người Tày

Cộng đồng dân tộc Tày cư trú ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Họ sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp lúa nước và trồng các loại cây công nghiệp như thuốc lá, hồi, chè. Cũng như nhiều dân tộc khác, người ta có tín ngưỡng Đa Thần. Thờ cúng và tin vào các thế lực siêu nhiên có tác động đến đời sống của con người.

Văn hóa người dân tộc Tày

Ngoài ra, người Tày còn có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú. Bên cạnh các thể loại thơ, truyện cổ tích, còn có các làn điệu dân ca. Như hát ru con, hát đám cưới, hát then, hát lượn. Trong đời sống hiện đại, những nét văn hóa dân gian này vẫn được cộng đồng người Tày giữ và bảo lưu từ đời này sang đời khác.

Dân tộc Tày – Đặc sắc văn hóa của người Tày

Phụ nữ dân tộc Tày

Từ bao đời nay, người Tày ở Lạng Sơn vẫn lưu giữ được những phong tục và bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. Trong đó không thể không về đến tục thờ chó Ma-hin. Trước cửa chính có gia đình đều đặt một con chó đá với tư thế khác nhau. Đó là nét đặc trưng rất dễ nhận thấy khi đặt chân vào bất kỳ vật lạ nào của người Tày Lạng Sơn. Với cộng đồng dân tộc này, chó đá tiếng Tày là Ma-hin có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, và có ảnh hưởng sâu đậm đối với đời sống.

Theo phong tục Cổ truyền của người Tày, mỗi khi xây nhà mới thì người chủ gia đình sẽ đến nhà thầy cúng xem tuổi, chọn ngày tốt để đục đẽo và rước chó đá  về nhà. Những việc này được làm rất cẩn thận .Bởi người ta quan niệm rằng do đó trước cửa nhà để cai quản cõi âm, mỗi khi có tiếng chó sủa ma quỷ không dám lại gần để làm phải con người.  Đặc biệt, với những nhà có phong thủy xấu thì sự xuất hiện của chó đá lại càng cần thiết. Sau khi đã chọn được ngày tốt, chính người thầy ấy sẽ ra bờ suối tìm đá để đục đẽo chó đá. Tùy vào năm sinh, hướng nhà gia chủ bà thầy sẽ chọn trọng lượng bao nhiêu kilôgam, tư thế nằm hay ngồi của con chó đá.

Chính bởi niềm Tin tuyệt đối vào vai trò giữ yên cửa nhà và Con Chó Đá,  mà người ta rất coi trọng chó đá Ma-hin. Vào các ngày rằm và mùng 1 hàng tháng, ngày trọng đại của gia đình cho ta cũng được chủ quan tâm đặc biệt.  Chỉ một nén hương thôi nhưng trong đó đã chứa đựng biết bao tình cảm của người dân tộc Tày  với chó đá.Đặc biệt, vào dịp tết cho nó cũng được thực hiện những người rất trang trọng. trong ngày Tất niên người chúng ta sẽ đi lấy lá bưởi để tắm cho chó đá nhà mình. Với ý nghĩa, sau một năm lao động vất vả sẽ được tắm rửa thơm tho để chào đón năm mới. Lá bưởi hái về, sẽ được đun sôi để nguội rồi mới tắm cho chó đá Ma-hin .

Theo quan niệm của người Tày,  lá bưởi có tác dụng trừ tà ,loại bỏ vận đen.  Vì thế, dùng lá bưởi tắm cho chó đá người Tày hi vọng rằng sẽ giúp được nhiều may mắn, tài lộc về nhà.Sau khi đã tắm rửa sạch sẽ, chó đá sẽ được gia chủ quan cho một chiếc khăn đỏ quanh cổ. Có lẽ quàng một chiếc khăn cũng như mặc một chiếc áo mới cho chó đá, trong một sự tôn vinh của người  Tày. Tỏ lòng biết ơn, nó đã đem lại sự may mắn cho gia đình trong năm qua.

Đối với dân tộc quanh năm sống giữa núi rừng, thì niềm tin của họ vào các lĩnh vực là rất lớn. Và người dân tộc Tày ở Lạng Sơn đã lấy niềm tin chân thành về điểm này mặt chó đá mang lại để làm đòn bẩy tinh thần cho dân tộc mình.

Tín ngưỡng thờ chó đá chỉ thấy xác ở một số vùng miền, chứ không quá phổ biết trong đời sống của người Việt Nam. Dạo Qua phố Nghi Tàm, có thể dậy khá nhiều cho đã được bày bán trước cửa những cửa hàng bán đồ cổ, và giả của. Loại chó đá này được đục đẽo tự nhiên  nên mang lại cảm giác gần gũi thân thuộc của làng quê năm xưa.  Những gia đình giàu có, chôn cho nó dễ canh giữ nhà và thể hiện sự quyền uy, phú quý của gia chủ. Nhà phong thủy, chôn chó đá để thay đổi dương cơ, âm phần tránh được những điều hòa do thời tiết xấu  gây ra. Còn dân gian ,chân chó đá để  xua đuổi tà ma. Có thể thấy rằng, tín ngưỡng thờ chó đá đã có từ rất lâu và cho đến nay vẫn còn được gìn giữ trong văn hóa của người Việt nói chung và người Tày nói riêng. rất khó để chứng minh sự mầu nhiệm của tín ngưỡng ngày. nhưng chắc chắn rằng khi có niềm tin, con người sẽ cảm thấy yên tâm và cuộc sống tốt đẹp hơn. Và đây chính là giá trị đích thực của tục thờ chó đá trong tâm thức của dân tộc Tày.

Hát Ieu trong văn hóa người Tày

Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Tày, thì hát ca dao giao duyên luôn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc. Trong vô vàn những làn điệu dân ca giao duyên của các chàng trai cô gái tày,  phải kể đến hát “Ieu” –  một hình thức giao duyên khá đặc sắc của dân tộc Tày. Đây là thể loại hát dân ca chỉ dành cho người chưa vợ  và chưa có chồng. Tuy nhiên vì sức hấp dẫn của loại hình dân ca này, những người có vợ có chồng thậm chí là những người lớn tuổi đều có thể hát. Hát Ieu là hình thức đối đáp của một nam một nữ, hoặc một tốp nam nữ tình cờ gặp nhau, ở lễ hội, ở chợ, hay tình cờ trên đường đi làm nương rẫy. Hát ieu  không chỉ là thức sinh hoạt văn hóa, mà còn là chức năng trao đổi tình cảm lứa đôi và là một nét đẹp trong phong tục tập quán của người Tày.Bởi vậy hat ieu  còn được ví von như làn điệu quan họ giao duyên của người Tày. Hát ieu  có nhiều làn điệu khác với những làn điệu hát khác của người Tày,  từ nội dung đến  trình tự bài hát, những cách thức tổ chức. Ví dụ hát Then là dân ca được truyền từ xưa,  lời bài hát đều đã theo khuôn mẫu nhất định.  Còn ieu  là lời hát đối đáp chỉ xuất hiện theo sự ngẫu hứng,  một bên ra lời hát còn bên kia phải hát đối đáp lại sao cho hợp lý và thuyết phục. Sao vậy,  Ở hát ieu  biên độ sáng tạo,  những khẩu rộng rãi hơn so với các thời đại khác.  người tham gia hát  phải thật thông minh, nhanh nhạy và có tài ứng biến. Hát Ieu  giao duyên,  còn gắn kết nhiều cặp trai gái nên nghĩa vợ chồng.  Và có lúc,  hát ieu  còn thay lời muốn nói để bày tỏ tâm trạng nỗi lòng của mình. Có những lúc, hát ieu diễn ra tại nhà sàn những lúc có khách đến chơi. 5 loại hát ieu được xem như các cung bậc trong nghệ thuật của người Tày

Dân tộc Thái – Bản sắc văn hóa người dân tộc Thái

Dân tộc Thái – Xuất phát từ yếu tố tự nhiên, Các dân tộc trong quá trình phát triển đều hình thành nên những dấu ấn riêng. Trong phương thức lao động nhà ở, đời sống vật chất, đời sống tinh thần.Trong 54 dân tộc Việt Nam, người Thái được coi là dân tộc có diện mạo, bản sắc riêng độc đáo.

Cộng đồng người Thái là một cộng đồng chặt chẽ từ gia đình,  làng bản, tộc người.  Tuy bản nhưng chung Mường, tuy khác phương nhưng chung vùng. Mỗi nhà một khe suối nhưng chung một bản. Cả bản đều nghe một tiếng chiêng.Qua câu ca dao, khẳng định nguồn cội cộng đồng, và của dân tộc.

Lịch sử

Cũng như nhiều dân tộc khác, người Thái rất chú ý đến trang phục. Trang phục dân tộc Thái chính là một trong những yếu tố văn hóa không chỉ là hình thức, giới tính, mà còn mang tính chất xã hội. Đặc biệt trang phục người phụ nữ, thì rất được chú trọng nó thể hiện tính cách, sự cần mẫn, tài hoa của con người. Chính vì thế, khi lớn lên đến lúc về già, phụ nữ thay vẫn luôn chú trọng đến lĩnh vực này. trên  nền tảng của một Kinh tế nông nghiệp, ruộng rẫy, thung lũng người Thái đã tạo dựng một cơ cấu xã hội chặt chẽ. Tính cộng đồng không chỉ thể hiện trong cuộc sống chung lưng đấu cật để làm ăn sinh sống mà còn thể hiện rõ trong các hoạt động xã hội.  Đặc biệt trong các hình thái nghệ thuật văn hóa, mang tính tập thể cao.  Múa dân gian Thái lại càng thể hiện điều đó.

Kết quả hình ảnh cho dân tộc thái

Theo Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi,  thì Mường Sang là một trong những nơi cổ xưa nhất của người Thái vùng Tây Bắc. Nơi đây là một trong những khối nguồn gốc gác tổ tiên của dân tộc Thái tại Việt Nam. Tên Mường Sang ra đời theo truyền thuyết về những cuộc di cư của người ta Thái từ Lào sang. Họ sống quy tụ với nhau hòa đồng với thiên nhiên và các tộc người khác để tạo dựng cuộc sống. Những làng bản cổ của người Thái Tây Bắc tuy có nhiều đổi thay nhưng vẫn giữ được truyền thống và nét chung nhất của Cộng đồng.

Nhà sàn người Thái

Từ nếp nhà sàn mang đặc trưng riêng hài hòa gần gũi với thiên nhiên. đây là một kiểu nhà văn minh. Chỉ riêng việc tạo ảnh toàn là nhà sàn bằng gỗ kiểu vách, kết cấu giống nhau, được đặt để có trật tự quy củ đã phản ánh một đề lối quy mô tổ chức của xã hội Thái có bản sắc riêng, độc đáo. Tất nhiên kiến trúc nhà ở cũng như mọi hoạt động của người Thái cũng ít nhiều đã ảnh hưởng, giao thoa với kiến trúc và hoạt động của các dân tộc khác.Trong một Không Gian Sống ngôi trường, điều kiện tự nhiên xã hội có sự tác động qua lại. Nhưng bản sắc, dấu ấn văn hóa Việt vẫn tồn tại, tạo nên tính riêng biệt của từng dân tộc. Làm phong phú thêm diện mạo của cộng đồng 54 dân tộc.

Trang phục dân tộc thái

Trang phục lời yếu tố quan trọng. các dân tộc ít người ở Tây Bắc Tổ quốc đệt vải thổ cẩm, dệt lụa, quay tơ. Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có một cách phối màu, cách dệt vải riêng. Tùy theo tư duy và cảm quan về thế giới thiên nhiên của từng động người. Những bộ trang phục được làm nên, đã góp phần làm cho ngày lễ, hội hè, và các sinh hoạt văn hóa múa hát thêm phần sinh động rực rỡ sắc màu, làm tôn vinh thêm nét đẹp của một tộc người, cô hồn quê xứ sở.

Vào thời của nền kinh tế vô cùng khó khăn, vải vóc hàng tiêu dùng khan hiếm. Dưới mỗi máy nhà sàn, dưới ánh đèn khuya, đêm đêm người phụ nữ này lại tần tảo bên khung cửi. Tiếng lách cách thoi đưa như một tiếng âm thanh nối tiếp xa gần.Ở đâu, người phụ nữ Thái đã gửi gắm tình cảm, nét tài hoa của mình vào từng tấm vải, những trang sức làm đẹp cho vùng, làm đẹp cho đời. Nói về phong tục người Thái, sách Đại Nam Nhất Thống Trí triều Nguyễn ghi:  dân phần nhiều là ăn gạo nếp, mặc váy vải tràm, thổ cẩm, sau lưng địu con, gần nhà đặt cối dùng sức nước để giã gạo, làm guồng nước để tưới ruộng, dùng ống vầu để múc nước,lấy vợ thì rể, người chết thì chia của.

Văn hóa dân tộc Thái

Người Thái dẫu ở nơi nào.:Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, hay Yên Bái đều dựa vào thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên để sáng tạo, làm ra những vật dụng dụng cụ tận dụng sức khỏe,điều kiện tự nhiên của thiên nhiên đem lại những lợi ích cho mình .Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, thành tựu văn hóa đáng lưu ý nhất và sự đa dạng phong phú của văn hóa dân gian. Được thể hiện qua những câu chuyện cổ, điệu hát dân ca, điệu xòe, ca dao tục ngữ. Một kho tàng văn hóa truyền thống hết sức đồ sộ, chứa đựng nhận thức, tình cảm về thiên nhiên xã hội, con người, những cảm quan, ước vọng.

Múa dân tộc Thái không mạnh mẽ như điệu múa của dân tộc Dao hoặc các dân tộc khác. Nhưng lại khỏe khoắn, nhịp nhàng chứa chan niềm khát vọng sống nơi núi rừng hùng vĩ. Dân tộc Thái có tới gần 50 điệu múa. trong đó múa xòe là điệu múa chủ đạo. Múa xòe thể hiện các động tác lao động, trồng bông dệt vải, thu hoạch ngày mùa, xòe khăn, xòe quạt,xòe nón. Múa dân tộc, chúc mừng cơm mới mùa mới. Nói chung, vũ điệu Thái đa dạng sắc màu.

Dân tộc Thái - điệu múa sạp của người Thái

Dân tộc Thái – Điệu múa sạp của người Thái

Núi rừng Tây Bắc, một không gian thiên nhiên hùng vĩ với những đồi rừng và những thung lũng ngút ngàn cây xanh tươi đẹp lạ thường. Đã xa rồi cái thời lên miền Tây xa vời vợi nghìn trùng. Tây Bắc nay trải rộng một sức sống, cảnh sắc đẹp giàu. Tây Bắc với nhiều đặc trưng nổi bật của nền văn hóa dân tộc, đa dạng nhưng thống nhất. Các thế hệ tiếp nối ngày càng làm giàu thêm vốn văn hóa của dân tộc mình.Thiên nhiên đã ưu đãi cho xứ sở này, để tạo nên những thảo nguyên chè,hoa trái, nuôi trồng và chế biến sữa. Các nhà nghiên cứu đã cho rằng người Thái đã làm nền văn minh thung lũng. Từ những núi đồi hoang sơ,đã trở nên màu xanh sự sống. Cũng có thể nói, người Thái đã sáng tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc trên nhiều phương diện phát trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

Những đổi thay trong từng bước đi lên cùng cộng đồng dân người Thái, đi không ồn ào sôi động Nhưng nhìn cảnh tượng xưa mới đi hết những nỗ lực lớn lao,ý chí, và bản lĩnh của một tộc người. Các thế hệ đã truyền kinh nghiệm, ý thức cho nhau qua những lời ca dao đã biến thành những lời hát nuôi dạy con cái.

Với văn hóa dân gian, múa sạp cũng là một điệu múa dân gian của người Thái, người nhảy từng đôi nam nữ biến chuyển mạnh mẽ. Từng sự kiện của dân tộc, từng ngày vui của làng bản đều không thể thiếu được điệu nhảy này.Điệu nhảy đã đi vào tâm thức tình cảm người Thái, phản ánh khát vọng của con người hướng tới một cuộc sống no đủ, hướng thiện .Do cùng chung một không gian sống, một nguồn gốc, 1 ngôn ngữ, chữ viết, tập quán nên người Thái có nhiều nét chung. người Thái ở đâu cũng có điệu múa, lời khóc giống nhau, nhà ở trang phục và món ăn như nhau.

Văn hóa tâm linh nghi lễ, ruộng nương cũng có nét chung. Chiều dài và bề sâu lịch sử của dân tộc Thái được hình thành và phát triển từ trong đời sống tạo nên những giá trị văn hóa bền bỉ qua sóng gió thời gian. Bởi vậy, trước sức ép của nền kinh tế thị trường nhưng nét đẹp văn hóa truyền thống của người Thái vẫn vững vàng cùng với đời sống. Nó trở thành một nguồn mạch hiển nhiên vốn có, hồn nhiên trong trẻo như suối nguồn.

Theo các nhà nghiên cứu, những năm đầu thế kỷ 20 múa dân gian Thái phát triển lan rộng rất nhanh. do sự chăm sóc của những thủ lĩnh người Thái coi các đội văn nghệ thôn bản là hạt nhân thu hút cộng đồng. Múa dân gian Thái không mang tính chất phục vụ nghi lễ tôn giáo như thế dân tộc khác. Chủ yếu là phục vụ vui chơi giải trí. Quá trình hoàn thiện phát triển múa dân gian Thái cũng hòa nhịp với sự phát triển của xã hội, trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống.

Nghĩa Lộ, một trong những chức năng của điệu xòe. Hàng năm có lễ hội hàng nghìn người tham gia. Vòng xòe rộng hàng trăm mét, xòe đơn,xòe đôi, xòe ba. Vòng càng rộng thì may mắn càng lớn, mùa màng bội thu. Đó là một cuộc vui chơi tập thể đầy hứng thú, ngẫu hứng. có khi vòng xòe lên tới 500 người. Từ một điệu xòe gốc người Thái phát triển thành nhiều điệu xòe khác

Điều đặc biệt, múa dân gian Thái tồn tại trong từng bản làng. bạn nào cũng có đội văn nghệ múa hát, chứ không tồn tại ở những đoàn văn công văn nghệ. Ở đâu cũng vậy người Thái ở Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái đều có chung truyền thống văn hóa của người Thái. Bảo lưu được vốn có của nghệ thuật dân gian truyền thống, điều đó không dễ gì khi hàng ngày các dòng văn hóa khác luôn thâm nhập và đời sống. Phải khơi dậy tiềm năng sức sống của nghệ thuật cổ truyền. Làm cho nó thăng hoa phát triển trên nền tảng tâm hồn dân tộc. Có như vậy mới giữ được bản sắc của tộc người .

Dân tộc Thái là lịch sử của một tộc người bền bỉ đấu tranh, kiên cường lao động để duy trì bảo tồn sự sống, để vươn lên giành no đủ hạnh phúc.  Người Thái đã xây dựng gia đình, cộng đồng, quê hương, dân tộc mình phát triển hòa đồng bền vững. Bởi vậy, mọi giá trị văn hóa vẫn vượt qua mọi thách thức, tỏa sáng. Bao nhiêu đời nay, người Thái Tây Bắc cũng như người Thái khắp nơi trên mọi miền tổ quốc đã xây nên những công trình, Những di sản vật chất tinh thần vô giá.  Tạo nên bản sắc dung dị lắng sâu trong cộng đồng các dân tộc. Từ trong đời sống vất vả người Thái đã nâng tầm trí thức của mình được phát triển đồng hành cùng các dân tộc anh em.

Lễ hội Lồng tông của dân tộc Tày

Lề hội Lồng Tông  – Khác với người dân miền xuôi,  người miền núi lại có phong tục đón tết rất đặc trưng mang đậm nét văn hóa của dân tộc mình. Với người Tày cũng vậy.

Họ cũng có nét văn hóa đón năm mới rất riêng của mình. Những ngày này, trai gái trong bản khẩn trương trang trí lại nhà cửa, quét dọn sạch sẽ và trang trí lại đồ đạc trong nhà để cho gian nhà thêm mới mẻ và ấm cũng hơn. Ngày tết cũng là cơ hội để cho cả người già, trẻ em, thanh niên nam nữ kéo nhau đi xem các lễ hội vui xuân như tung còn, múa xòe và trao cho nhau những điệu hát Sli, hát lượn thật hay, thật tình tứ.

Lễ hội Lồng tông của dân tộc Tày
Lễ hội Lồng tông của dân tộc Tày

Ý nghĩa lễ hội Lồng tông

Lề hội Lồng Tông có nghĩa là xuống đồng. Cũng như nhiều lễ hội của các dân tộc khác , Lồng Tông lễ hội truyền thống của dân tộc Tày ở khu vực miền núi phía Bắc có hai phần, Phần lễ và phần hội. Phần nghi lễ chủ yếu là cúng tết trời đất và thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, con người khỏe mạnh, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu. Phần hội có các trò chơi của dân làng. Đồng bào thường chọn những bãi cỏ bằng phẳng , rộng có vị trí trung tâm thuận lợi cho việc đi lại vui chơi của dân bản và các bản lân cận.

Nghi lễ

Lễ hội Lồng Tông, theo nghi thức truyền thống người ta dựng một kệ tồng 3 tầng làm bằng tre ở giữa khu ruộng lớn. Đây là nơi đặt các mâm có chứa đồ lễ để cúng thánh thần, thần nông, thổ địa cầu cho 1 năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhà nhà yên lành, người người khỏe mạnh. Ngày tổ chức lễ hội Lông Tông khi trờ hửng sáng, mặt trời bắt đầu lên cũng là lúc đoàn rước mâm tồng ra nơi làm lễ. Đi đầu là 7 thanh niên trai tráng, mỗi người cầm trên tay 1 cành là cây, vừa đi vừa vung vẩy. Theo quan niệm của đồng bào Tày là để xua đuổi tà khí, rủi ro. Đi sau là đoàn múa lân.

Tiếp đến là thày cả tức là người cúng chính của buổi lễ và những người giúp việc. Theo sau là 9 mâm tồng được các thiếu nữ đội trên đầu. Lễ vật gồm có gà luộc, các loại bánh, các loại hạt giống như lúa, ngô, lạc, đỗ tương, hoa quả và rượu trắng. Các mâm lễ được đặt thứ tự lên kệ tồng. Tầng trên cùng được gọi là thượng án là nơi mâm tồng chính lễ. Tầng thứ 2 là trung án. Tầng thứ 3 là hạ án. Mỗi tầng đặt 4 mâm. Sau khi thầy cả làm lễ đặt mâm tồng là đến lễ tạ ơn và lễ cầu sự ấm no, cầu mưa và lễ cày ruộng. Sau đó là phần cấy lúa gieo hạt. Bước sang phần hội, hoạt động đầu tiên đặc trưng nhất, đông vui nhất là hội tung còn. Đây là trò chơi nhưng cũng là một nghi thức không bao giờ thiếu trong lễ hội Lồng Tông. Trên cây còn treo 3 vòng nhật nguyệt, tượng trưng cho thiên, địa, nhân tức là trời, đất và con người. theo quan niệm của đồng bào, còn phải được ném thủng, nếu thủng trước giờ chính ngọ thì năm đó mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Lễ Hội Lồng tong là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Thể hiện niềm khát vọng của người dân trong sự hòa hợp trời đất, âm đương cầu cho cuộc sống khỏe mạnh no đủ, sinh sôi. Những trò chơi trong lễ hội thể hiện nét đẹp tâm hồn phong phú, gắn với thiên nhiên gắn với những tập tục văn hóa lâu đời của cư dân lúa nước. Lễ hội Lồng Tông là một trong những nét văn hóa độc đáo của dân tộc Tày. Góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

Dân tộc Khmer – Ngày tết của người Khơ me

Chúng ta cùng tìm hiểu một số ngày tết của dân tộc Khmer. Đây đều là những lễ tết lớn, người Khơ me rất coi trọng những dịp lễ tết này, bởi nó mang nhiều ý nghĩa văn hóa nhân văn sâu sắc của dân tộc.

Tết Chol Chnam Thmay

Diễn ra vào trung tuần tháng 4 hàng năm tết Chol Chnam Thmay mang đậm nét văn hóa của nguời Khơ me với nhiều ý nghĩa linh thiêng. Với ước vọng năm mới nhiều may mắn và tốt lành. Cùng với đó là nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật phong phú. Hát dặm mang đặc trưng của dân tộc mang hướng phật giáo tiểu thừa. Cũng như tết cổ truyền của những dân tộc khác, tết chol Chnam thmay của đồng bào Khơ me Nam bộ tuy có cùng ý nghĩa nhưng được tổ chức với nhiều tập tục khác biệt. Người dân tộc Khmer không cố định ngày giờ chính xác đón năm mới bằng lễ giao thừa như những dân dộc khác. Mà thay đổi giờ phút thiêng liêng này theo lịch riêng. Giờ khắc thiêng liêng trong đêm giao thừa, gia đình người Khmer nào cũng làm cỗ, thắp hương, đốt đèn, làm lễ tiễn đưa các vị thần tiên năm cũ đi và đón các vị thần tiên năm mới. Cả gia đình ngồi trước bàn thờ tổ tiên cầu mong được ban phước lành.

Tết thường kéo dài từ 3-4 ngày, trong những ngày đó mọi công việc ruộng rẫy được dừng lại, để mọi người được nghỉ ngơi vui chơi thỏa thích. Vào dịp này con cháu ở xa xôi đến đâu cũng trở  về xum họp cùng gia đình, thể hiện sự cung kính với ông bà cha mẹ trong 3 ngày tết.

Ngày tết đầu gọi là Maha Songkran, ngày thứ 2 gọi là Virak Wanabat, ngày thứ ba gọi là Tngay Leang Saka. Mọi người tắ rửa sạch sẽ, nấu nướng thức ăn, đi chùa. Tết Chol chnam thmay không chỉ thể hiện quan niệm của người khơ me về chu kỳ vận động của năm, lấy mùa mưa làm mốc để đánh dấu thời gian. Mà còn giáo dục con người về tấm lòng hiếu thảo, lòng biết ơn đối với tổ tiên ông bà cha mẹ, đoàn kết gắn bó chặt chẽ với cộng đồng.

Dân tộc Khmer – Tìm hiểu các lễ tết của người Khmer
Dân tộc Khmer – Tìm hiểu các lễ tết của người Khmer

Tết Đôn ta

Cuối tháng 8 đầu tháng 9 âm lịch, lúc mùa nước nổi tràn về thì bà con Khmer nam bộ lại cùng nhau bước vào ngày tết Đôn ta. Nếu như lễ Chol chnam thmay, diễn ra với những nghi thức truyền thống, để cũng rước các vị thần, cầu mong bình an cho thôn sóc thì lễ Đôn ta thì là ngày tết để cúng ông bà tổ tiên. Đây là lễ lớn thứ 2 của người Khơ me. Được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 20-9 đến 1-9 âm lịch để tụng kinh , cầu siêu , cầu phước cho linh hồn thân nhân đang sống bơ vơ trên cõi trần, hay còn nơi địa ngục, để sớm được lên cõi Phật.

Trong dịp này, bên cạnh niềm vui chung là đón tết Đôn ta, thì với bà con dân tộc Khơ me vùng An Giang thì lại có thêm niềm háo hức nữa. Đó là chờ đợi lễ hội đua bò. Đâu là một lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống của bà con Khmer. Không chỉ riêng đồng bào Khmer và trong dân Việt nói chung. Từ xa xưa trong suy nghĩ của nhà nông, con trâu con bò được xem là đầu cơ nghiệp, là một trong những tài sản lớn nhất của mỗi gia đình. Sự giàu có của mỗi hộ thường được đo đếm bằng số trâu, bò đo đếm được trong chuồng. Bởi vậy, con trâu con bò giữ một vị trí, vai trò quan trọng không chỉ trong đời sống vật chất, mà cả trong đời sống tinh thần của người dân. Đồng bào Khơ me đã thể hiện sự coi trọng đối với những “đầu cơ nghiệp” của mình bằng cách tổ chức lễ hội đua bò hàng năm vào mùa nước nổi, thời điểm chuyển giao một mùa mới ở vùng đất phương Nam này.Theo quan niệm của đồng bào Khmer, đua bò có một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Trong năm, tham gia vào hội đua giành được giải cao, không những mang lại cho chủ nhân của đôi bò niềm kiêu hãnh mà còn mang đến cho cả thôn sóc một niềm vui. Sang một mùa vụ mới, bò của thôn khỏe mạnh, có sức dẻo dai, cày bừa tốt. Giúp cho người dân, gieo trồng dễ dàng đem lại vụ mùa bội thu, dân làng no ấm. Do đó, để có những cặp bò tham gia vào ngày hội này, các gia đình đã phải lựa chọn một cặp bò giống tốt, và huấn luyện kỹ càng vào đầu năm. Cuộc đua được tổ chức trên nền đất ruộng ngập nước, hình chữ nhật dài 160m, rộng 60m. Trong đó đường đua chính khoảng 8m, xung quanh là bờ mẫu cao 1m để tránh cho bò chạy sai đường đua. Các đôi bò sẽ đua theo thể thức loại trực tiếp.

Đến nay, trong Lễ Đôn ta , đua bò không chỉ còn là một lễ hội thể thao truyền thống riêng của đồng bào Khmer vùng An Giang mà đã trở thành một nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân tộc Khmer nói chung.

Sau 3 ngày lễ Đôn ta kết thúc, bà con dân tộc Khơ me Nam bộ lại cùng nhau bước vào một mùa sản xuất mới. Những cách đồng, thửa ruộng, khu vườn đã được dòng sông cửu long vun đắp phù xa màu mỡ, hứa hẹn một mùa mang bội thu. Để rồi lúc thời tiết bắt đầu sang mùa khô, lúa ngoài đồng chớm chín người Khơ me lại nhộn nhịp bước vào lễ lội Oc om boc.

Lễ Oc om boc

Lễ Oc om boc là lễ tết của người Khmer thường được tổ chức vào đêm 14 hoặc 15 của tháng 10 âm lịch. Đây là 1 trong 3 lễ hội lớn nhất và cũng là lễ hội cuối cùng trong năm của người Khơ me ở Nam bộ. Trong lễ hội Óc om boc cũng trăng rằm tháng 10, đồ cùng ngoài các loại trái cây dừa chuối  thì cốm dẹp là một trong những lễ vật không thể thiếu trong mâm lễ dâng lên thần linh. Khi mua vừa dứt hạt, gió hiu hiu làm căng sữa những hạt  lúa đầu mùa. Người Khơ me cùng nhau hái lúa nếp làm cốm  dâng cúng ông bà và làm món quà ra mắt đầu năm. Thóc để làm cốm sau khi phơi khô, sẽ mang rang chín và bắt buộc phải rang trong nồi đất. Đây là một công đoạn quan trọng quyết định sự thành công của mẻ cốm.Loại cối giống như cối giã gạo nhưng lòng cối hẹp vào sâu hơn. Chày giã làm bằng gỗ, dài độ 1 thước rưỡi. Tay cầm được vót tròn nhỏ cho vừa nắm tay. Tham gia giã cốm là 1 nam, 1 nữ. Khi giã đứng đối diện nhau bên cối, mỗi người 1 tay cầm chày 1 tay cần cây gạt , vừa giã vừa gạt cho đến khi hạt nếm dính chày xuống cối. Họ luân phiên giã nhờ thế mà cảm thấy vui và hứng thú trong công việc. Khi những hạt nếp đã dẹp lại, người phụ nữ sẽ đảm tiếp công việc là cho cốm vào nia. Xàng xẩy cho hết trấu, sạch bụi cho cốm ngon. Cốm mới giã xong rất giòn và dẻo, ăn không cũng cảm nhận được hương vị đặc trưng của nó. Xưa kia người Khmer ăn cốm với tép rang hoặc ăn với chuối cho chắc bụng. Ngày nay, cốm dẹp được trộn với dừa, đường thốt nốt hoặc đường cát thành một món ăn chơi. Theo kinh nghiệm dân gian, 1 kg cốm dẹp thì dùng 1 trái dừa rám vỏ đã nạo cùng nửa ký đường cát hoặc đường thốt nốt, trộn đều để khoảng 1 nửa ngày cho những hạt cốm thấm đường, dừa trở nên mềm dẻo thơm ngon hơn. Cốm dẹp trong lễ Óc om bóc còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cốm dẹp để cúng trăng, để tạ ơn thiên nhiên trời đất ban tặng cho họ một mùa lúa bội thu. Mọi người có hạt lúa hạt nếp thơm lừng, nuôi cái bụng. Và cũng từ hạt nếp ấy người Khmer đã làm ra món cốm thơm mùi nếp mới mang tặng cho đời.

Sau lễ cúng trăng, sáng hôm sau , hội đua ghe Ngo sẽ được diễn ra. Đua ghe Ngo là lễ hội có nguồn gốc từ rất xa xưa của người dân tộc Khmer. Trong dân gian đến nay có truyền lại rằng: vào thời xưa  các tính thuộc đồng bằng sông Cửu Long người dân sử dụng ghe để đi lại trên các sông kênh rạch. Khi có chiến tranh họ lại nghĩ chế tạo ra những chiếc ghe nhẹ và chạy được với tốc độ nhanh. Đó chính là tiền thân của chiếc ghe Ngo bây giờ. Ghe Ngo theo tiếng Khơ me là loại thuyền độc mộc. Bằng thân cây gỗ tốt, ra đời từ nhiều thế kỷ trước. Đây là một loại ghe đua đặc trưng của người Khmer . Trong văn hóa dân gian của người Khmer họ coi ghe đua không giống như các loại ghe thông thường mà là một vật thiêng.

Nhừng người tham gia đội bơi đua được chọn lựa gồm những trang trai khỏe mạnh, có kinh nghiệm, biết phối hợp động tác chặt chẽ. Người ngồi đầu chỉ huy được chọn là những người có uy tín và thông thạo đường nước. Trước khi đến hội thì các thanh niên trai tráng tham gia đội đua phải trải qua quá trình tập luyện và chuyển bị kỹ càng. Ghe Ngo dài hay ngắn không quan trọng, mỗi ghe có từ 40 – 60 người chèo, trong đó có 1 đội trưởng, 1 dầm chính và 2 dầm phụ. Họ sẽ là những người có vai trò chủ đạo, điều khiển những hoạt động của toàn đội đua, sao cho nhịp nhàng, đạt được tốc độ cao nhất trong quá trình đua. Cuộc đua diễn ẩ nghiêm trang và đầy hào hứng, có sức cuốn hút hàng chục vạn người xem. Trên chặng đường đua kéo dài tới mấy cây số người xem đứng đông kín cả 2 bên bờ, có nhiều người còn lội xuống nước hoặc bơi ghe nhỏ ra để xem cho gần, cho rõ.

Được duy trì và tổ chức liên tục, đến nay lễ hội đua ghe Ngo đã trở thành một lễ hội thể thao truyền thống, và cũng là dịp vui chơi giải trí mang tính cộng đồng rộng lớn của đồng bào dân tộc Khmer và của đồng bào sông nước vùng tây nam bộ. Trong những năm trở lại đây, thậm chí có năm còn có những đội ghe từ nước bạn Campuchia đến tham gia. Điều này chứng tỏ, lễ hội gắn với môn thể thao truyền thống này đang phát triển mạnh mẽ, trở thành một sự kiện văn hóa lớn ở Việt Nam.

Diễn ra trong năm du lịch Mê Kong Cần Thơ ngày hội văn hóa thể thao Khmer nam bộ lần 4 đã không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần để người Khmer khắp các tỉnh Nam bộ có dịp để gặp gỡ giao lưu. Mà đây còn là cơ hội bà con Khơ me giới thiệu đến bà con cả nước những đặc sắc văn hóa của dân tộc mình. Đồng thời đây còn là hoạt động ý nghĩa, góp phần vào bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Khmer nói riêng và của các dân tộc Việt Nam nói chung trong thời kỳ hội nhập.

Những lễ hội truyền thống là nét đặc sắc văn hóa tiêu biểu cho văn hóa của người Khme sẽ còn được công chúng nhớ, và nhắc đến mãi mãi.