Loading

wait a moment

Các đặt tên nam, nữ theo văn hóa xưa

Thông thường cách đặt tên nam nữ thì tên đầy đủ của mỗi người (nam cũng như nữ) đều gồm 3 từ: họ, chữ đệm (lót) và tên. Ví dụ: Lê Văn Phán, Nguyễn Hùng Cường, Trương Công Thành (đối với nam); Nguyễn Thị Đào, Chu Thị Hiền, Cao Thị Thực (đối với nữ). Tuy nhiên, đối với một số trường hợp người ta không dùng chữ đệm (lót), mà chỉ dùng họ và tên như: Lê Ban, Trương Tân, Vũ Duy… (thường là đối với nam giới). Cũng có người dùng tới 4 từ: Họ, chữ đệm và tên (2 từ): Hoàng Thị Anh Đào, Trương Thị Vân Thu, Phan Thị Bích Hằng… (đối với nữ giới). Một vài dòng họ ở Huế có những người dùng họ và tên không chỉ 4 từ mà còn đến 5 – 6 từ: Công Tằng Tôn Nữ Thị Phương Ly, Công Huyền Tôn Nữ Ái Vân…

Các đặt tên nam, nữ theo văn hóa xưa
Các đặt tên nam, nữ theo văn hóa xưa

Có một số trường hợp người ta dùng chữ đệm (lót) bằng họ mẹ: Nguyễn Trần Phan (với nam); Nguyễn Trương Hà Mi, Lê Hoàng Khánh Thi… (với nữ).

Đặt tên nam nữ để phân biệt cùng huyết thống

Như vậy, mỗi con người phải có họ để biết sự truyền nối giữa các thế hệ, mối quan hệ huyết tộc với nhau. Đối với người Việt Nam, nếu nam nữ cùng dòng họ, hoặc cùng một chi họ thì không thể kết hôn với nhau được.

Như vậy, đối với người Việt Nam để có đủ họ và tên thường phải có ba thành tố như đã trình bầy ở trên thì mới dễ phân biệt, được các cá thế khác nhau. Trong đời sống xã hội có nhiều người trùng tên, thậm chí còn trùng cả chữ đệm, nên chỉ còn phân biệt nhau ở họ. Tuy nhiên, dòng họ trong xã hội cùng một giai đoạn lịch sử hoặc khác thời đại, vẫn có hai hoặc ba người trùng tên, trùng họ, trùng chữ đệm. Ví dụ: nhà sử học Lê Quý Đôn thời trước và ông Lê Quý Đôn (Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 1994 – 1999) thời nay. Nếu trong trường hợp cùng thời đại mà hai người lại trùng họ, trùng tên, trùng chữ đệm thì người ta truy tìm đến nguyên quán từng người thì sẽ giải mã được điều bí ẩn trên.

Trường hợp đổi tên họ

Thông thường và kể cả mặt pháp lý thì con đều lấy họ cha. Hạn hữu, hoặc bởi một lý do đặc biệt nào đó thì con mới lấy họ mẹ. Ví dụ: “Con sinh ngoài giá thú” mà người mẹ không muốn cho con biết tên người cha đích thực của con, hoặc người mẹ cũng không biết cụ thể.

Cũng có trường hợp khi mẹ không có anh em trai, bố và ông bà ngoại đồng ý để một người con trai của mẹ lấy họ mẹ để chịu trách nhiệm thờ phụng bên ngoại. Trường hợp như vậy thì phải đổi họ, mà ngày nay pháp luật vẫn cho phép thông qua một số thủ tục hành chính nhất định.

Trong thực tế lịch sử dân tộc cũng có nhiều lý do khác nhau mà người ta đổi họ. Ví dụ:

  • Một người vì hoàn cảnh hoặc ý thích nào đó, muốn mai danh ẩn tích.
  • Một dòng họ bị suy vong trong lịch sử mà phải chuyển sang họ khác, tránh bị truy lùng để phục thù (Ví như nhà Mạc sau khi phải rời kinh đô chạy lên Cao Bằng. Lúc đó một số người hoặc chi họ Mạc đổi sang họ Nguyễn để được sống bình yên trong chế độ đương thời.
  • Trường hợp thân nhân những người tù tội (tử hình) muốn tránh tai tiếng cuộc đờ
  • Trường hợp nhà bị chu di tam tộc (án tử hình cả ba họ), con cháu trốn chạy phải đổi họ mới yên ổn.
  • Những người có công với triều đình, được vinh dự nhà vua ban cho quốc tính (lấy họ của vua). Ví dụ: Trần Bình Trọng gốc là họ Lê.
  • Đồng bào dân tộc Vân Kiều được lấy họ Hồ (Bác Hồ).
  • Những trường hợp con nuôi có khi bỏ họ cha đẻ, theo họ cha nuôi…

Tóm lại

Nhìn chung, chữ đệm của nam giới thường là Văn, nối liền họ và tên (đó là chữ đệm thông thường và quen thuộc). Nhưng chữ đệm cũng được phát triển phong phú như: Hữu, Đình, Thọ, Trọng, Trung, Thế, Duy… hoàn toàn tuỳ thuộc vào từng người hoặc từng chi họ. Nhưng chữ đệm của nữ giới thì gần như cố định, hầu như duy nhất là Thị. Tuy nhiên, vài thập kỷ gần đây cũng đã có những biến đổi phong phú, nhưng người ta vẫn có khả năng đoán ra, khi không có chữ Thị. Vì những tên đệm này rất dịu hiền, êm ái, giàu nữ tính. Ví dụ: Nguyễn Mộng Trúc, Trương Vân Thu, Trương Yến Nhi, Trần Thu Hà, Nguyễn Bích Vân…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *