Chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt mỹ ruộng bậc thang Mù Cang Chải

Ruộng bậc thang có từ bao giờ có lẽ không ai biết. Ruộng bậc thang là một phương thức canh tác nông nghiệp kết hợp giữa canh tác nương rẫy và ruộng nước.

Khai khẩn ruộng bậc thang là một quá trình công phu tốn nhiều công sức. Những mảnh đất được làm ruộng bậc thang là những nơi có độ dốc vừa phải. Tối đa khoảng 50 độ. Có thể nằm giữa sườn đồi hoặc trên sườn núi đất.

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 1

Những triền ruộng như những bức tranh nghệ thuật hoành tráng trên những sườn đồi, sườn núi cao trải dài ngút tầm mắt. Đây chính là nét văn hóa độc đáo của loại hình canh tác mang đậm sắc thái của cư dân vùng cao khu vực Tây Bắc.

Huyện Mù Cang Chải có diện tích ruộng bậc thang khoảng 2500ha thì 3 xã Hoàng Su Phì, La Pán Tẩn, Chế Cu Nha có tổng diện tích là 550ha. Trong đó ruộng bậc thang đã được bộ văn hóa thể thao và du lịch đã xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2007 là 337 ha. Diện tích này tuy nhỏ nhưng là kỳ tích hàng trăm năm khai phá của đồng bào từ bao đời nay.

Đây chính là điểm thu hút khách du lịch nhiều nơi đến tham quan. Dừng chân tại 3 xã đâu đâu cũng thấy thửa ruộng bậc thang xếp tầng, xếp lớp trải rộng khắp các quả đồi. Đặc biệt từ trên các đỉnh núi nhìn xuống mới thực sự cảm nhận được những công trình tuyệt tác mà những người dân tộc Mông hiền lành đôn hậu, chất phác đã sáng tạo ra.

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 2

Cứ thế ruộng, rừng , khe , suối tần tầng lớp lớp xếp lên nhau. Càng lên cao càng thấy thú vị bởi sự kỳ vĩ hoành tráng của núi rừng. Bởi sự trong lành của khí hậu, bởi sự quý mến tình người của những người dân nơi dây.

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 3

Là danh thắng ruộng bậc thang duy nhất của cả nước được xếp hạng cấp quốc gia, với diện tích lớn chia ra các khu vực khác nhau. Di tích danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải là một trong những điểm đến chính của du lịch Tây Bắc Việt Nam.

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải là thành quả tuyệt mỹ của tinh thần lao động chinh phục núi đồi thiên nhiên và sức sáng tạo độc đáo to lớn của đồng bào dân tộc Mông.

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 4

Trước vẻ đẹp của những vẻ đẹp của những thử ruộng trùng điệp như những công trình kỳ vĩ của trí tuệ và sức lực con người mà cứ ngỡ cảnh sắc này chắc phải do bàn tay vĩ đại của tạo hóa , siêu nhiên.

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 5

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 6

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 7

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 9

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 10

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 12

Ruong bac thang dep ruc ro trong cuoc thi anh 'Dau an Viet Nam' hinh anh 13

Kết quả hình ảnh cho ruộng bậc thang đẹp

Những mùa lúa chín vàng trên các cánh đồng ruộng bậc thang Mù Cang Chải thật là đẹp. Đó là vẻ đẹp của mùa vàng trên ruộng bậc thang. Lại có một vẻ đẹp độc đáo, mang nhiều ý nghĩa của hạnh phúc, ấm no.

Nguồn ảnh: News Zing

Trang phục dân tộc và tên 54 dân tộc việt nam

Xin được giới thiệu tới các bạn trang phục dân tộc  và tên 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam. Đây là các trang phục lễ hội truyền thống và các trang phục mặc thường ngày của họ.

Trang phục dân tộc và tên 54 dân tộc việt nam
Trang phục dân tộc và tên 54 dân tộc việt nam

Dân tộc Dao

Người Dao hiện có hơn 820 nghìn người, hiện có nhiều nhóm cư trú ở nhiều địa phương khác nhau. Tập trung đông nhất ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên… Người Dao chia thành nhiều nhánh như : Dao đỏ, Dao tiền… Sự phân biệt này thể hiện khá rõ trên trang phục dân tộc Dao. Ví dụ phụ nữ Dao đỏ, đội khăn đỏ, mặc áo dài xẻ ngực, áo yếm quần tràm.

Dân tộc Bố Y.

Là cộng đồng khoảng 2000 người, sống chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang , Tuyên Quang. Phụ nữ Bố Y mặc váy xòe. Hoa văn trên váy là nền trắng của vải, sau được phủ lớp sáp ong khi váy nhuộm tràm tạo nên. Nam giới Bố Y mặc áo cổ truyền tứ thân, áo ngắn .

Kết quả hình ảnh cho 54 dân tộc

Dân tộc Tày

Có hơn 1,6 triệu người cư trú chủ yếu ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Quảng Ninh, Lào Cai, Hà Giang. Trang phục truyền thống của người Tày làm từ vải truyền thống sợi bông tự dệt, nhuộm tràm, hầu như không thêu thùa trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần có áo ngắn bên trong, áo dài bên ngoài. Nam giới mặc quần dài, may chân khỏe, cạp lá tọa

Dân tộc Thái

Người Thái còn được gọi là Táy hoặc Thay. Dân tộc Thái có khoảng 1,5 triệu người. Được chia làm 2 loại: Thái Đen, Thái Trắng. Tập trung chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Nghệ An, Lâm Đồng, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa. Trang phục dân tộc của người Thái là áo lụa, váy lụa có hàng khuy bạc óng ánh , mềm mại. Chủ yếu màu tràm với nhiều hoa văn đặc sắc.

Dân tộc Cống

Có khoảng 2600 cư trú tập trung chủ yếu huyện Mường Tè – Lai Châu, Mường Nghé – Điện Biên. Trang phục truyền thống phụ nữ là váy quấn phía trước dài ngang bắp chân, áo ngắn rộng trùm ra ngoài cạp váy.

Dân tộc Hà Nhì

Tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc. Hiện nay có khoảng hơn 25 nghìn người.

Dân tộc Lự

Sinh sống ở vùng Tây Bắc, chủ yếu ở vùng Điện Biên, Lai Châu. Người Lự sống thành bản nhỏ, ở nhà sàn 4 mái lợp tranh. Trang phục của phụ nữ Lự là áo chàm ngắn thắt ngang lưng, thân rộng, hai bên tay áo có một thanh vài màu trắng, thêu chỉ đỏ, váy may rộng, quấn khăn dài trang trí nhiều màu. Nam giới mặc quần áo màu tràm , đen, áo cánh xẻ ngực, quần từ đầu gối trở xuống ống hơi hẹp.

Dân tộc Mạn

Chủ ở Lai Châu với khoảng hơn 4000 người. Trang phục phụ nữ Mạn có váy trắng trùm xuống chân, áo váy xẻ ngực, đầu để trống không đội khăn.

Dân tộc Si la

Có khoảng hơn 800 người, cư trú ở miền Tây Bắc nước ta. Chủ yếu ở Mường Tè – Lai Châu. Trang phục dân tộc cổ truyền người Sila có nhiều nét độc đáo, phong phú. Phụ nữ mặc váy ngắn hở bụng, áo gắn đồng xu, cài khuy phía nách phải và ngực khác màu, cổ áo và tay áo trang trí họa tiết khác nhau, váy màu đen hoặc màu tràm không thuê thùa phía mặt sau lưng.

Dân tộc La Hủ

Tên gọi dân tộc La Hủ có nghĩa là con hổ. Có các nhóm La Hủ Sư, La Hủ Na, La Hủ Phung. Có khoảng 10000 người. Tập trung chủ yếu ở Mường Tè – Lai Châu.Người La Hủ giỏi thủ công đan lát và nghề Dệt. Người đàn ông và đàn bà La Hủ mặc áo dài trùm xuống chân. Áo của phụ nữ có tay hẹp, nhiều màu rực rỡ, trên áo đính nhiều đồng xu, dây chỉ màu.

Dân tộc Kháng

Cư trú tập trung chủ yếu ở miền Tây Bắc nước ta, với khoảng hơn 11000 người  tập chung chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La, Điện Biên. Trang phục của phụ nữ mặc áo ngắn có hàng cúc bạc,  váy đen, đội khăn piêu. Nam mặc quần áo màu chàm đôi khi cũng đội khăn.

Dân tộc La Ha

Có khoảng 8000 người cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La. Họ sống thành từng bản hoặc xen kẽ với các dân tộc khác.  Ngày xưa nữ La Ha nhuộm răng đen và ăn trầu. Đàn ông có búi tóc sau gáy. Trang phục nam chủ yếu là màu chàm. Nữ mặc váy ngắn với hai hàng khuy bạc hình bướm, váy đen, có đội khăn trên đầu.

Dân tộc Lào

Có khoảng 15000 người, cư trú xen kẽ ở các dân tộc khác ở Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa. Trang phục dân tộc của đàn ông lào là quần dài, áo cộc. Phụ nữ Lào mặc áo khuy bụng cài thưa, hai bên nách áo đính vài đỏ, đeo lúc lắc hạt trám bằng bạc trạm trổ, váy quấn ngang kín ngực, áo mặc phủ ra ngoài cạp váy, đội khăn piêu.

Dân tộc Sinh Mun

Dân số khoảng hơn 20000 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu. Trang phục nữ có áo thân ngắn đến ngang eo, cổ cao, tay áo bó sát tới mắt cá tay, có hàng huy chính giữa trước ngực, hàng khuy làm bằng bạc, đồng , nhôm áo mặc hở thắt lưng và bó sát người.

Dân tộc Khơ Mú

Sinh sống trên các vùng núi Tây Bắc, tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái và miền tây tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa với khoảng 88700 người. Người Khơ Mú có nền văn hóa dân gian độc đáo. Bao gồm những truyện kể dân gian, làn điệu dân ca, các điệu múa đặc sắc. Trang phục truyền thống của nữ giới Khơ Mú thường mặc áo màu đen, đằng trước thường gắn hàng khuy bạc hình chữ nhật hoặc vải màu.

Dân tộc Mường

Cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La, Yên Bái, Ninh Bình. Dân số 1,2 triệu người. Trang phục dân tộc của phụ nữ có hoa văn tinh sảo, có nét tương đồng với họa tiết trống đồng Đông Sơn. Phụ nữ có áo yếm, áo bong bó sát, áo ngắn áo dài, có khăn tênh vào váy hình ống, gấu váy có hoa văn diềm phía trong. Nam giới có quần trùng may chân què rộng đũng, áo ngắn và khăn tênh dắt ngoài cạp quần

Dân tộc cờ Lao

Có hơn 2000 người chia làm 3 nhóm: Trắng, Xanh , Đỏ. Địa bàn cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang quy tụ thành từng bản nhỏ, thường có tường đá xếp ở. Trang phục phụ nữ làm từ vải bông với kỹ thuật thủ công. Họ tự trồng bông dệt vải, nhuộm vải , cắt may. Về kiểu dáng áo phụ nữ Cờ Lao là áo năm thân sẻ ngực sang nách dài đến dưới  dầu gối.

Dân tộc La Chí

Có dân số khoảng hơn 12000 người sống chủ yếu ở Hà Giang. Nghề làm ruộng nước khá phát triển. Trang phục truyền thống của người La Chí làm bằng vải bông nhuộm màu tràm. Nam giới là áo dài năm thân sẻ trước ngực chéo sang bên phải, cài khuy dưới nách phải. Nay họ thường mặc áo ngắn sẻ ngực. Phụ nữ thường mặc áo tứ thân sẻ ngực có yếm thêu và thắt lưng vải.

Dân tộc Lô Lô

Dân số khoảng hơn 3000 người , chủ yếu ở Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lai Châu . Căn cứ chủ yếu vào màu sắc của trang phục mà gọi là Lô Lô Hoa, Lô Lô Đen. Người Lô Lô biết tự dệt vải, phụ nữ mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, chui đầu, váy chiết li và gấp nếp khá đẹp. Nam y phục màu tràm.

Dân tộc Mông

Có các nhóm Mông Hoa, Mông Trắng, Mông Đỏ, Mông Xanh. Người Mông sống chủ yếu các tỉnh miền núi Bắc bộ, Nghệ An, Thanh Hóa, với dân số khoảng hơn 1 triệu người. Trang phục phụ nữ Mông rất sặc sỡ đa dạng. Gồm váy xếp thành nhiều nếp, áo sẻ ngực, mang tạp dề đằng trước và đằng sau, chân quấn sà cạp, váy hình nón cụt, áo mở chếch ngực về bên trái, cài 1 khuy, cánh tay và cổ áo đều thêu hoa văn, gấu áo cũng có khuy đè lên  ba bốn lớp vải màu, sẻ tà không khâu mà buộc dây giữ hai tà với nhau.

Dân tộc Pu Péo

Có khoảng hơn 700 người tập trung chủ yếu ở tỉnh Hà Giang. Trang phục nam giới Pu Péo chủ yếu là màu tràm. Nữ giới mặc áo ngắn quần tràm sẻ ngực chéo sang nách phải, quanh cổ áo có mảnh vải được ghép từ các miếng vải nhiều màu. Váy phụ nữ Pu Péo dài, rộng, màu đen, dọc theo mép váy có vải ghép màu như cổ áo.

Dân Tộc Phù Lá

Sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Điện Biên, Lào Cai. Các nhóm địa phương gồm có  Phù Lá Lão – Bồ Khô Pạ, Phù Lá Ðen, Phù Lá Hán . Dân số có khoảng hơn 10000 người. Nam giới Phù Lá mặc quần dài, áo ngắn tràm đen, hai bên nẹp áo trước ngực, dọc lưng đính nhiều hạt cườm hình chữ thập.

Dân tộc Pà Thẻn

Cư trú tập trung chủ  yếu ở Hà Giang, Tuyên Quan. Trang phục dân tộc của phụ nữ Pà Thẻn chủ yếu màu đỏ mang màu sắc truyền thống. Bộ nữ phục có áo váy, khăn trong khăn ngoài, hoa văn chữ thập, thắt lưng trắng, đội khăn rộng màu đen, bên ngoài khăn đen có vành khăn đỏ bên ngoài, có dua hai bên. Trang sức có vòng cổ, khuyên tai, vòng tay.

Dân tộc Giáy

Có khoảng 53000 người, sống chủ yếu ở Hà Giàn, Lào Cai, Lai Châu. Phụ nữ đẻ tóc dài vấn thành vòng khăn màu. Trên quấn khăn màu hơi lệch nghiêng rất duyên dáng. Tóc thường có các sợi chỉ hồng buông theo đuôi tóc. Đàn ông mặc đơn giản hơn, quần theo kiểu lá tỏa, quần rộng, áo cái cúc trước ngực hoặc mở khuy ngực cài bên.

Dân tộc Nùng

Có số dân khoảng 900000 hiện nay cư trú tập trung chủ yếu ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lài Cai, Thái Nguyên, Hà Giang. Trang phục thường làm bằng vả bông nhuộm tràm. Trag phục nữ có khăn đội đầu, áo, quần, khuyên tai, vòng tay, vòng chân bằng bạc. Nam giới có mũ lưỡi chai, áo ngắn sẻ trước ngực, cài cúc, hai túi cổ áo  có chân.

Dân tộc Ngái

Dân số khoảng 5000 người sinh sống chủ yếu ở các tỉnh miền núi Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang. Trang phục của người Ngái có nhiều nét độc đáo vào đặc trưng riêng. Đàn ông mặc áo sẻ ngực dài ngang hông với quần lá tỏa. Phụ nữ Ngái mặc áo 5 thân, trùm mông, cài cúc bên nách phải, quần lá tỏa, quần áo thường đồng màu và không trang trí hoa văn.

Dân tộc Sán chay

Có hai nhóm là Cao Lan và Sán Chỉ. Họ sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên. Hiện có hơn 162000 người. Người Sán chay còn duy trì được nhiều nét ăn măc truyền thống, điển hình là chiếc áo Cù rằng rinh. Ngày nay thường mặc áo nhộm tràm, tay trẽn, hơi rộng ngang, cúc áo bằng đồng, cổ áo trắng, váy tràm là tấm vải khâu khép kín cao đến thắt lưng, đầu quấn mảnh vải tràm, hai đầu vắt chéo sau gáy, sà cạp màu trắng quấn từ mắt cá chân đến gối

Dân tộc Sán Dìu

Có dân số khoảng 165000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở vùng núi các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Vĩnh Phúc. Trang phục dân tộc đặc trưng người Sán Dìu là áo bà ba nâu và quần nâu. Phụ nữ mặc áo lụa màu hoa đào, nâu non, váy hay quần màu chàm hoặc đen, đội khăn xếp mỏ quạ và đeo thắt lưng.

Dân tộc Thổ

Có gần 81000 người, cư trú chủ yếu ở Nghệ An, Thanh Hóa. Đàn ông dân tộc Thổ thường mặc quần cộc, dài may chân xòe, áo cộc ngắn tay, dài tay nhuộm nâu, cài khuy có hai túi trước. Phụ nữ mặc váy ống màu đen hoặc nhuộm tràm cổ viền, cài khuy, vạt sau che hông.

Dân tộc Ơ Đu

Chỉ có khoảng hơn 600 người, cư trú tập chung chủ yếu ở  huyện Tương Dương – Nghệ An. Họ còn có tên gọi khác là Tày Hán. Họ thường sinh sống xen kẽ giữa các dân tộc khác.

Dân tộc Chứt

Có các nhóm địa phương là Sách, Mày, Nục…Cư chú tập trung chủ yếu ở Quảng Bình, Hà Tĩnh. Dân số có khoảng hơn 5000 người. Trang phục xưa kia của người Chứt đơn sơ, mộc mạc. Về mùa hè, đàn ông đóng khố, phụ nữ mặc váy. Khi mùa đông đến họ đến vỏ cây rập phơi khô, rồi lấy vỏ cây làm áo mặc. Hiện nay bộ trang phục nam của dân tộc Chứt đã mai một và đang được nghiên cứu khôi phục lại.

Dân tộc Vân Kiều

Có khoảng 98000 người, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Trang phục truyền thống của nam giới là đóng khố. Phụ nữ mặc áo váy. Áo truyền thống của cả nam nữ đều chui đầu không có  tay. Áo làm bằng vải tấm ghép lại, khoét lỗ để chui đầu.

Dân tộc Tà ôi

Có khoảng 42000 người, cư trú chủ yếu ở Thừa Thiên Huế, Quảng Trị. Phụ nữ đều mặc váy ống ngắn đến ngang bụng chân, áo cộc tay chui đầu, đeo thắt lưng, song song thân áo váy là họa tiết bằng chỉ màu đỏ, trắng trang trí. Nam đóng khố, cởi trần hoặc mặc áo ngắn, quanh đầu quấn khăn.

Dân tộc Cơ Tu

Cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế. Có dân số khoảng hơn 60000 người. Người Cơ Tu thường mặc trang phục do chính tay họ tạo ra. Đàn ông thường đóng khố, cởi trần. Phụ nữ mặc váy ống, nếu váy dài thì che từ ngực trở xuống, váy ngắn thì che thân mặc áo ngắn luồn đầu, có ống tay hoặc không. Người Cơ Tu cũng dệt được những tầm vải lớn để choàng quanh người khi mùa đông đến.

Dân tộc Co

Sống chủ yếu tập trung ở tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam. Dân số khoảng hơn 33000 người. Trước đây nam thường đóng khố. Nữ thường mặc áo ngắn, yếm, áo ngắn cộc tay. Nền vải y phục người Co truyền thống màu chàm hoặc đen, bộ quần áo trắng dài được các bô lão mặc trong ngày cưới, lễ hội.

Dân tộc Rơ Rê

Có trên 120000 người, cư trú tập trung ở miền núi phía tây Quảng Ngãi, Bình Định.Trang phục dân tộc của nam giới thường mặc khố, áo đen ống dài tay, khuy phía trước, áo dài  không quá thắt lưng. Phụ nữ mặc váy ống. Áo cổ truyền màu tràm, ống tay dài hẹp cài khuy bên phải gấu áo, sống lưng viền chỉ trắng, bên trong mặc yếm.

Dân tộc Rẻ Chiêng

Có hơn 46000 người cư trú tập trung chủ yếu ở tỉnh Kon tum, Quảng Nam. Nữ giới mặc váy quấn, trên mặc áo cộc hoặc áo dài tay, có khi mặc váy ống che kín từ ngực xuống, đeo  nhiều đồ trang sức.  Nam đóng khố. Hiện nay trang phục truyền thống đang được khôi phục lại.

Dân tộc Sê Đăng

Có khoảng hơn 170000 người, cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Đàn ông đóng khố cởi trần. Đàn bà mặc váy áo có nhiều hoa văn đẹp và màu sắc rực rỡ.

Dân tộc Chăm

Có hơn 142000 người, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên và một bộ phận sinh sống ở các tỉnh Nam bộ như Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai, TP HCM. Trước đây người dân tộc Chăm cả nam lẫn nữ đều quấn váy ấm. Đàn ông mặc áo cánh ngắn, sẻ ngực, cài khuy. Đàn bà mặc áo dài chui đầu, trên đầu quấn khăn dài, khăn úp lên nhau trên đỉnh đầu, khăn áo váy đều mang màu trắng, vải sợi bông.

Dân tộc Rắc Lây

Có dân số khoảng hơn 130000 người cư trú tập trung chủ yếu ở tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Bình Thuận, Lâm Đồng. Trang phục truyền thống người Rắc Lây: đàn ông mặc áo bà bà, áo sơ mi, quần âu. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, áo sơ mi hoặc áo bà ba.

Dân tộc Bờ Râu

Có khoảng 352 người , cư trú chủ yếu ở tỉnh Kon Tum. Phụ nữ thường mặc áo sẻ ngực, váy quấn quanh thân mình buông dài xuống gót chân. Nam giới thường cởi trần đóng khố.

Dân tộc Rơ Măm

Có khoảng 400 người sống tại Làng Le – Mô Rai – Sa Thầy – Kon Tun. Trang phục truyền thống của người phụ nữ là áo ngắn tay, quấn quanh người không trang trí hoa văn. Nữ giới có tục xâu lỗ tai đeo vòng, đeo khuyên, hoa tai bằng ngà voi, gỗ , đồng. Đàn ông mặc khố, vạt trước dài đến đầu gối, vạt sau tới ống chân.

Dân tộc Chu Ru

Cư trú chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận. Dân số khoảng hơn 17000 người. Nữ thường quấn váy tấm, nửa thân trên choàng vải hở 1 bên vai. Đàn ông quấn Sà Rông mặc áo dài xẻ nách.

Dân tộc Bana

Có khoảng hơn 200000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh, Gia Lai, Kon Tum và phía tây các tỉnh Phú Yên, Bình Đinh. Trang phục dân tộc của người Ba na giản dị. Đàn ông mặc áo chui đầu, cổ xẻ , hở ngực cổ tay có đường sọc đỏ chạy ngang với gấu áo. Phụ nữ mặc áo chui đầu nhưng không xẻ cổ. Có loại cộc tay, dài tay, sọc tay ở cổ áo chạy ngang khủy tay.

Dân tộc Gia Rai

Có hơn 423000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Khánh Hòa. Phụ nữ mặc váy dài màu chàm ngang bắp chân, quanh thân và gấp dệt nhiều đường hoa văn, đeo nhiều đồ trang sức.Đàn ông đóng khố, kẻ sọc nhiều màu. Cả nam và nữ trong ngày lễ hội mặc Váy áo đẹp quán buôn tua dài quanh người.

Dân tộc Mạ

Dân tộc Mạ có trên 38000 người, Cư trú tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai. Phụ nữ Mạ thường mặc váy quấn dài quanh bắp chân, áo ngắn ngang thắt lưng chui đầu, hai vạt sau và trước bằng nhau, quanh áo và thân váy ống tay có nhiều hoa văn chạy song song. Nam nữ đều thích đeo vòng ở cổ tay bằng đồng, có ngấn khắc chìm.

Dân tộc Cờ Ho

Dân tộc chủ yếu sinh sống tập trung ở tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận. Dân số Cờ Ho có khoảng 135000 người. Đàn ông đóng khố, mùa nóng ở trần, khố của họ quấn chữ T, có nhiều đường màu đỏ để trang trí. Phụ nữ Cờ Ho mặc váy, áo ngắn chui, có 3 loại ngắn thân, cộc tay và áo dài, váy là tấm quấn quanh người ngắn cạp, nền váy màu đen, cạp thân và gấu váy dệt những sợi hoa văn vàng, trắng.

Dân tộc Ê Đê

Có trên 285000 người, sinh sống tập trung chủ yếu các tỉnh Đắc lắc, phía nam Gia Lai và miền tây Phú yên, Khánh Hòa. Trang phục truyền thống người Ê Đê là váy quấn dài đến gót chân, có những đường dệt hoa văn chỉ trắng đỏ trên nền vải chàm. Ngày nay phổ biến mặc váy ống, phía trên mặc áo ngắn chui đầu, ống tay dài hoặc cộc, với nhiều đường chỉ hoa văn ở vai và cổ tay áo.

Dân tộc Mơ Nông

Có khoảng 108000 người, đồng bào Mơ nông cư trú tập trung ở phía nam tỉnh Đắc Lắc, ĐẮc Nông và một phần tỉnh  Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai. Đàn ông thường đóng khổ ở trần.Đàn bà mặc váy quấn bông dài trên mắt cá chân. Thanh niên nam nữ thường mặc áo chui đầu, khố váy áo màu chàm sẫm trang trí hoa văn đỏ.

Dân tộc Siêng

Cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Phước, Lâm Đồng, Tây Ninh. Dân số khoảng hơn 78000 người có nhiều nhóm địa phương. Nam giới Siêng đóng khố mình trần, mùa lạnh mặc áo chui đầu. Phụ nữ thường mặc váy, áo ngắn tay với nhiều màu sắc hoa văn.

Dân tộc Chơ ro

Có hơn 28000 người,  cư trú tập trung ở tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu. Đàn ông thường đóng khố cởi trần, về mùa lạnh mặc quần áo ngắn, khoác thêm chiếc mền. Phụ nữ thì mặc chiếc váy quấn trên mặc áo ngắn, mùa rét cung khoác thêm tấm mền. Nam nữ chit khăn dài trên đầu. Phụ nữ thường đeo chuỗi hạt cườm ngũ sắc ở cổ, vòng bạc, đồng, nhôm ở cổ tay.

Dân tộc Hoa

Có dân số khoảng 970000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở tỉnh Tây Ninh, Sóc Trăng, Biên Hòa, TP HCM, Bà Rịa Vũng Tàu và một số tỉnh thành khác. Trang phục dân tộc cổ truyền của người Hoa làm từ vải bông với nhiều màu sắc. Nữ mặc áo năm thân dài trùm qua mông , sẻ ngực, chéo sang nách phải cài cúc phải. Nam mặc áo sẻ ngực cái cúc bằng vải có túi ở vạt trước.

Dân tộc Khơ me

Có số dân khoảng hơn 1,1 triệu người sống tập trung ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Bạc Liêu. Trang phục truyền thống của người Khơ me là quấn sà rông bằng vải tơ, áo mỏng bó sát người hoặc bộ quần áo bà ba màu đen, đầu quấn khăn rằn. Nam mặc sà rông. Nữ có thêm chiếc áo dài chui đầu.

Dân tộc Kinh

Sống tập trung chủ yếu ở đồng bằn Trung du, ngoài ra còn sống ở miền núi, hải đảo và cao nguyên. Dân tộc Kinh có số dân đông nhất trong cộng đồng 54 dân tộc khoảng hơn 70 triệu người.Trang phục dân tộc của người Kinh cũng khá đặc sắc. Xưa đàn ông mặc quần áo cánh, ngày tết mặc quần dài trắng , áo the đen đội khăn xếp đi guốc mộc. Đàn bà mặc váy đeo yếm, áo cánh chit khăn. Hiện nay áo dài truyền thống đã trở nên phổ biến cả trong và ngoài nước với nhiều màu sắc, kiểu dáng đẹp.

Bến Nhà Rồng – Bảo tàng Hồ Chí Minh

Hơn 100 năm qua Bến Nhà Rồng vẫn nguyên vẹn như ngày mới thành lập. Bến Nhà Rồng tọa lạc trên ngã ba sông Sài Gòn đầu đường Nguyễn Tất Thành Quận 4 , TP Hồ Chí Minh.

Mỗi năm bến Nhà Rồng lại đón lượng du khách đến thăm quan đông hơn. Du khách đến đây để xem những hiện vật của Hồ Chủ Tịch. Bến Nhà Rồng cũng được đưa vào danh sách “Thành Phố Hồ Chí Minh 100 điều thú vị”.

Công trình này được khởi công vào ngày 4-3-1863 do công ty vận tải đường biển Pháp xây dựng. Bến nhà rồng có lối kiến trúc công sở phương Tây với hành lang bao quanh và những vòm cuốn, nhưng lại có mái uốn mang kiến trúc phương đông. Đặc biệt trên đỉnh mái có trang trí đôi rồng kiểu Lưỡng long trầu nguyệt – một lối trang trí phổ biến trong các công trình kiến trúc truyền thống Việt Nam. Chính vì vậy kiến trúc ấy được gọi là nhà Rồng hay bến Nhà Rồng.

Bến Nhà Rồng – Bảo tàng Hồ Chí Minh
Bến Nhà Rồng – Bảo tàng Hồ Chí Minh

Do tọa lạc ngay ngã 3 sông Sài Gòn nên lúc nào cũng đón cơn gió man mác mang hơi nước rất dễ chịu. Ngoài ra nơi đây còn có một không gian thoáng đãng với nhiều cây xanh đặc biệt.

Bến Nhà Rồng hiện nay là bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP HCM. Một chi nhánh nằm trong hệ thống các bảo tàng và di tích lưu niệm về chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước. Hiện tại bảo tàng có 7 phòng trung bày cố định. Trong đó có 5 chủ đề về cuộc đời và sự nghiệp của bác Hồ. Ngoài ra còn các phòng trưng bài theo chuyên đề như là Hồ Chí Minh cuộc hành trình thời đại, Tình cảm của Bác Hồ với nhân dân miền nam…Lượng khách đến tham quan càng ngày càng đông, đặc biệt là học sinh và sinh viên.

Một góc trưng bày hiện vật bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng
Một góc trưng bày hiện vật bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng

Hơn 30 hoạt động, bến Nhà Rồng – Bảo tàng Hồ Chí Minh đã trở thành một trung tâm về giáo dục về lịch sử cách mạng và cuộc đời hoạt động cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiện bảo tàng có hơn 11000 tư liệu, hiện vật và 3300 đầu sách chuyên đề. Trong những ngày lễ trọng đại của đất nước và thành phố, ủy ban nhân dân TP HCM thường chọn nơi đây để tổ chức kỷ niệm.

Bảo tàng có nhiệm vụ sưu tầm, bảo quản, trưng bày và tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt là tập trung nhấn mạnh vào sự kiện năm 1911 và tình cảm của Bác với nhân dân miền Nam cũng như tình cảm của nhân dân miền Nam với Bác Hồ. Kể từ khi ra đi năm 1911, trở về lãnh đạo đất nước giành độc lập. Kháng chiến chống Pháp, Mỹ chủ tịch Hồ Chí Minh chưa quay lại miền Nam.

Tình cảm Bác Hồ với đồng bào miền Nam tại bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng
Phòng trưng bày tình cảm Bác Hồ với đồng bào miền Nam tại bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng

Đối với phòng trưng bài tình cảm của Bác dành cho đồng bào và nhân dân miền Nam cũng như của dân dân miền Nam đối với Bác là một căn phòng ngập tràn những tình cảm và cảm xúc. Qua những bức ảnh, những lá thư những món quà mà Bác đã gửi cho đồng bào miền Nam, cũng như những món quà nhân dân miền Nam gửi tới Bác với tất cả niềm tin yêu và nhớ thương vô hạn. Hầu như du khách đến đây, không ai có thể kìm được cảm xúc khi bước vào căn phòng này.

Không quá xa trung tâm TP HCM bến Nhà Rồng được nhiều du khách lựa chọn thăm quan không phải bởi lịch sử hình thành, cũng không phải bởi kiến trúc cổ kính. Mà nơi đây gắn liền với con đường giải phóng dân tộc mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Có thể nói rằng bến Nhà Rồng là một dấu son của TP HCM nói riêng và của lịch sử Việt Nam nói chung.

Các họ ở Việt Nam – Tìm hiểu văn hóa dòng họ ở Việt Nam

Lịch sử đất nước đã ghi nhận vai trò các dòng họ Việt Nam đã có đóng góp vào sự hình thành và phát triển của dân tộc cho sự nghiệp chinh phục thiên nhiên và bảo vệ đất nước. Đặc biệt là đã khắc họa những nét không thể xóa mờ trong việc hình thành nhân cách và phong thái đặc thù của con người Việt Nam trong dòng chảy của loài người.

Phân bổ các họ ở Việt Nam
Phân bổ các họ ở Việt Nam (các họ phổ biến nhất)

Ngoài các họ chính chiếm đa số , nước ta còn rất nhiều các họ khác ( chiếm khoảng 10% dân số Việt Nam)

Các họ ở Việt Nam
Các họ ở Việt Nam – các họ khác

Đặc điểm văn hóa các họ ở Việt Nam 

Có một nơi linh thiêng, nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa tinh thần của cả một gia tộc. Đó là nơi một con người với con người kết nối quá khứ với hiện tại, là nơi mà mỗi người dù ở bất cứ đâu cũng tìm về để thấy được nguồn cội. Có một thứ chứa đựng trong nó những câu chuyện lịch sử, là thứ giúp mỗi người thấy được cội rễ, gốc gác của mình. Nó còn là một tài liệu vô cùng có giá trị, không chỉ riêng một dòng họ mà còn có ý nghĩa đối với một quốc gia, dân tộc. Đó là gia phả và nhà thờ họ.

Nhà thờ họ

Nếu như ban thờ gia tiên là góc tâm linh của mỗi gia đình, thì nhà thờ họ chính là chốn tâm linh của cả một dòng họ. Đó là điểm tựa tinh thần của hiện tại và quá khứ, tạo cả phúc lành cho con cháu mai sau. Nhà thờ họ là nơi thờ cúng ông bà tổ tiên, những người anh hùng, ngưới có công với đất nước và làm vang danh dòng họ trong sử sanh của dân tộc. Nơi đây còn được coi như là một bảo tàng thu nhỏ của dòng họ. Do đó ngoài ban thờ còn có không gian trưng bày tranh ảnh, lưu lại những sắc phong, lệnh chỉ từ thời ông cha truyền lại.Những công to việc lớn của dòng họ cũng được bàn bạc và thông qua tại đây.

Nhà thờ họ
Nhà thờ họ

Sử sách còn ghi lại với những dòng họ có truyền thống tôn sư trọng đạo, nhà thờ các họ ở Việt Nam còn được dùng làm nơi dạy học với hi vọng con cháu sẽ họ hành đỗ đạt thành tài. Noi gương tổ tiên, con cháu sẽ lấy đó làm động lực học tập, từ đó tiếp nối và phát huy truyền thống hiếu học qua nhiều thế hệ. Sau những ngày đèn sách, đến kỳ thi việc đầu tiên con cháu trong họ thường làm là đến từ đường thắp hương báo cáo tổ tiên, xin tổ tiên phù hộ rồi mới khăn gói lên đường đi thi. Nếu đỗ đạt sẽ về báo công cho tiên tổ. Điều đó cho thấy, ngôi từ đường có vị trí vô cùng quan trọng trong tâm thức mỗi thành viên của họ tộc. Qua bao thăng trầm lịch sử và sự đổi thay của thời cuộc, nhà thờ họ vẫn luôn là chốn linh thiêng, kết nối quá khứ và hiện tại. Là nơi gắn kết giữa các thành viên và giáo dục truyền thống tốt đẹp của cha ông cho con cháu noi theo.

Gia phả

Trong từ điển tiếng việt do viện ngôn ngữ xuất bản năm 1988, gia phả được định nghĩa là cuốn sách ghi chép nguồn gốc của các dòng họ . Gia phả thường có các nội dung:

  • Ghi chép hành trạng, tiểu sử của các tổ trong dòng họ. Có những cuốn gia phả ghi được đến hơn 30 đời.
  • Gia phả còn ghi chép việc thờ cúng, các nghi thức tết lễ của các dòng họ.
  • Ghi lại thơ văn của các dòng họ.
Các họ ở Việt Nam – Gia phả dòng họ
Các họ ở Việt Nam – Gia phả dòng họ

Gia phả có nhiều ý nghĩa quan trọng nên các dòng họ , gia tộc luôn lưu giữ. Trong các cuộc kháng chiến, hay chiến tranh loạn lạc đi đâu họ cũng mang theo gia phả. Vì nếu đánh mất gia phả thì không còn có gì để chứng minh gốc gác, nguồn cội của mình. Mỗi khi nhà nước có phân bổ về quyền lợi và nghĩa vụ người không rõ lai lịch thường không được tham gia. Ví dụ như trong các kỳ thi, nếu không kê khai được 3 đời thì không được phép tham dự các kỳ thi. Do vậy người xưa rất nâng niu và có ý thức gìn giữ gia phả thật cẩn thận. Có thể đánh mất tiền bạc nhưng không thể mất gia phả.

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đèo Ô Quy Hồ

Đèo Ô Quy Hồ (Hoàng Liên Sơn) được ví như sợi chỉ nối liền Lào Cai với Lai Châu. Bỏ lại sau lưng một Sapa lặng lẽ trong mây. Du khách bắt đầu khám phá Tây Bắc đệ nhất đèo Hoàng Liên, chạy theo quốc lộ 4D đầy sỏi đá.

Dọc đường lên đèo hình ảnh những người phụ nữ Dao Tiền, H’Mông với trang phục bản sắc dân tộc thỉnh thoảng xuất hiện ngồi bán rau củ ven đường vốn nổi tiếng là những sản vật địa phương tươi ngon và sạch. Ô Quy Hồ đủ làm ngỡ ngàng những người đã từng qua lại nơi đây với những trạng thái khác nhau. Sáng nắng vàng trời ấm.

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đèo Ô Quy Hồ
Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đèo Ô Quy Hồ

Trưa trời lại xua từng đám mây mù chụp xuống đỉnh đèo. Chiều tối rất nhanh khiến những tay lái ham chơi tụt lại dọc đường trở tay không kịp. Đỉnh đèo nằm ở cao độ 2073m so với mặt nước biển. Đồng thời là danh giới hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Đây cũng là khu vực có khí hậu lạnh lẽo đậm hơn so với phố núi Sapa. Và là túi gió hứng chịu những cơn gió ào ạt từng những nơi đổ về.

Dù vậy, lữ khách người, ngựa ô tô, kẻ cưỡi xe máy qua đây đều dừng chân. Vì chẳng mấy khi có dịp được ngắm nhìn cung đường khi ẩn khi hiện sau đám mây bồng bềnh. Và đất trời sâu thẳm vùng Tây Bắc như một bức tranh thiên nhiên khổng lồ trong buổi chiều mặt trời xế núi. Cái không gian rừng ở đèo Ô Quy Hồ đáng ngạc nhiên. Hoang dại, sâu thẳm trên một địa hình bị chia cắt nhiều tầng lớp từ độ cao 1000-3000m. Đã tạo nên sự đa dạng phong phú về động vật, thực vật. Đặc biệt có nhiều loài quý hiếm và sinh cảnh đặc hữu. Những ai đã đến Sapa đều có những ấn tượng đặc biệt, nhưng cột mốc 3143m trên đỉnh Fanxipan cao nhất đông dương tại đèo Ô Quy Hồ mới là khát vọng chinh phục của nhiều người đam mê khám phá phiêu lưu.

Đèo Hoàng Liên Sơn cũng có nhiều truyền thuyết. Đó là câu chuyện về tình yêu son sắc thủy chung của một đôi trai tài gái sắc nhưng không thành duyên chồng vợ. Họ hóa thân thành đôi chim quấn quýt bên nhau nơi rừng thiêng. Cũng có truyền thuyết trong dân gian rằng: đỉnh đèo là nơi có nguồn nước không bao giờ cạn. Là nơi trú ngụ của rùa thần. Vậy nên khu vực này có tên gọi là Ô Quy Hồ.

Những hôm băng giá sương mù che phủ. Không gì thú vị hơn là vào quán cóc lúp xúp bên đèo thưởng thức trứng gà, bắp, khoai, thịt xiên nướng hoặc cơm lam tỏa mùi thơm. Suýt xoa đôi bàn tay bên bếp lửa hồng. Nụ cười thân thiện của người bán hàng cũng như của người gặp nhau nơi cung đường cao nhất này làm tan biến cái giá buốt.

Thác bạc đèo Ô Quy Hồ
Thác bạc đèo Ô Quy Hồ

Đây đó trên đường đèo du khách còn được gặp những ngọn tháp vẫn hàng ngày đổ ào ạt trong rừng thẳm. Trong đó Thác Bạc nổi lên như một thắng cảnh bậc nhất của Sapa. Vì từ ngọn núi cao trên 200m dòng nước ầm ầm đổ xuống tung bọt trắng xóa như những đóa hoa rừng tinh khiết và làm tăng thêm sự hoang dã và huyền bí của núi rừng. Mỗi chuyến ngao du là một kỷ niệm, mỗi chuyến vượt đèo là một trải nghiệm cho người đi . Đèo Hoàng Liên Sơn giờ đã quen với nhiều người trên mọi miền xuôi ngược. Xong vượt nó đều phải có những trải nghiệm nhất định để ghi thêm những nhật ký về ngàn trùng Tây Bắc.

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

(Chùa Thiên Mụ) Gió đưa cành trúc la đà / tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Câu hát dân gian quen thuộc được truyền đến tận ngày nay như thách thức tạo hóa nét đẹp và sự trường tồn của ngôi cổ tự mà vua Thiệu Trị đã liệt vào 20 cảnh đẹp của đất nước thời ấy, mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Ý nghĩa của tên gọi chùa Thiên Mụ

Vì sao có tên Thiên Mụ Tự. Theo sách Tô Châu Cận Lục của Dương Văn An viết năm 1523 có nhắc đến chùa Thiên Mụ với địa thế và lịch sử. Sách Đại Nam Nhất Thống chí nói rõ hơn. Khi chúa Nguyễn Hoàng vào chốn thuận hóa, trong một lần ngao du sơn thủy thấy cảnh chùa thanh tịnh hữu tình. Lại được nghe về truyền thuyết. Có một bà lão xuất hiện hằng đêm với câu nói được lặp đi lặp lại như sấm truyền: rồi đây sẽ có bậc thiên chúa đến dựng chùa để tụ long khí cho bền long mạch. Chúa liền cho dựng chùa và đặt tên Thiên Mụ Tự – Chùa Thiên Mụ. Nghĩa là chùa Bà Trời đó là vào năm 1601.

Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ
Chùa Thiên Mụ – Vẻ đẹp nên thơ của xứ Huế mộng mơ

Vị trí

Ngày nay chùa Thiên Mụ tọa lạc trên ngọn đồi Hà Khê thuộc xã Hưng Long cách trung tâm thành phố Huế 7km. Trước mặt chùa là dòng Hương Giang .Nước trong xanh uốn lượn. Xa xa ẩn hiện dãy Trường Sơn. Sau lưng chùa có hồ nước và dãy đồi thấp che chắn. Địa thế nơi cổ tự đúng là sơn trường hữu tự, thanh tịnh mà nên thơ.

Khuôn viên ngôi chùa chiếm phần lớn diện tích ngọn đồi Hà Khê. Có hình chữ nhật rộng lớn. Được bao bọc bởi một bức tường thành bằng đá. Nếu nhìn từ xa, khuôn viên ngôi chùa có hình dáng như một con rùa khổng lồ cõng trên lưng ngôi chùa cổ kính, đang cúi đầu uống nước sông Hương. Với địa thế và dáng hình ấy từ khi bắt đầu xây dựng, những nhà kiến trúc cung đình đã chia khuôn viên chùa làm 2 khu vực. Khu vực phía trước mang dáng hình đầu rùa được xắp xếp theo kiến trúc mang tính kỷ niệm như bia đá, chuông đồng. Còn khu vực phía sau mang dáng hình thân rùa là các điện thờ, các nhà tăng. Hai khu vực trước và sau được ngăn cách bởi cánh cửa tam quan.

Tháp Phước Duyên - Chùa Thiên Mụ
Tháp Phước Duyên – Chùa Thiên Mụ

Tháp Phước Duyên

Điểm nổi bật nhất của chùa Thiên Mụ và khu vực phía trước là ngôi tháp 7 tầng cao 21m. Được xây dựng năm 1884 nhân kỷ niệm “bát thọ” – tức là thọ đến 80 tuổi của bà Thuận Thiên Cao hoàng hậu vợ vua Gia Long. Cùng với việc xây tháp vua Thiệu Trị điều khiển việc xây dựng tháp song song với việc xây dựng đình Hương Nguyện. Đồng thời cho dựng hai tấm bia ghi chép thơ văn của nhà vua ngay trước cổng chùa. Tháp Phước Duyên được xây dựng theo hình bát giác với gạch nung để mộc màu đỏ sẫm nổi bật trong nền cây xanh phủ đầy khuôn viên chùa. 8 mặt của ngôi tháp có tiết diện ngang vòng tròn. Với lối kiến trúc này mà trận bão lớn năm 1904 ngôi chùa bị tàn phá nặng nề, kéo đổ cả đình Hương Nguyện. Nhưng tháp Phước Duyên vẫn đứng vững trãi như thách thức bão tố và thời gian. Vào tháp chỉ có một lỗi cửa duy nhất có hình vòm. Chính diện trong mỗi tầng tháp đều có thờ riêng từng tượng phật.  Mỗi tầng tháp được thông với nhau bằng cầu thang xoáy từ dưới lên trên. Chỉ trừ có tầng thứ 6 và 7 là phải dùng cầu thang di động bằng gỗ và chiếc chìa khóa đặc biệt để mở tầng thứ 7. Bởi trên tầng này xưa kia có thờ tượng phật bằng vàng. Nhưng ngày nay không còn nữa. Ở mỗi tầng tháp đều có cửa sổ cuốn tròn, trang trí bằng các thanh đồng uốn dẹp, giúp ánh sáng lan tỏa trong lòng tháp.

Sông Hương nhìn từ Tháp Phước Duyên - Chùa Thiên Mụ
Sông Hương nhìn từ Tháp Phước Duyên – Chùa Thiên Mụ

Đứng trên tầng cao của tháp có thể phóng tầm mắt bao quát một khúc sông Hương. Làn sóng ven sông và dãy Trường Sơn ẩn hiện xa xa. Năm 1899, nhân dịp lễ mừng thọ 90 tuổi của bà Từ Dũ – vợ vua Thiệu Trị, vua Thành Thái cho tu bổ tháp Phước Duyên và cho dựng bia kỷ niệm tại chân tháp. Hai nhà bia tả hữu trước tháp được vua Thiệu Trị cho dựng sau khi xây tháp 2 năm. Trên đó khắc những bài thơ kể lại việc xây tháp. Đồng thời nhà thơ còn làm bài thơ ca ngợi chùa Thiên Mụ. Mỗi bia cao 1,7m rộng 0,9m đặt trên sập đá cao 0,6m. Lối dựng bia ở chùa Thiên Mụ thống nhất với lối dựng bia ở các lăng vua. Hai bên tháp , ở bên tả có nhà bia, bên hữu có lầu chuông được xây dựng trong lần trùng tu chùa lớn nhất năm 1691. Cảnh chùa được  trang hoàng cực kỳ lộng lẫy. Xong việc nhà vua tự làm bài phú khắc vào bia. Tấm bia cao 1,6m rộng 1,2m, đặt trên mình rùa dài 2,2m. Tất cả được đặt trên sập cao và chắc chắn.Trong lầu chuông treo quả đại Hồng chung đúc năm 1710. Cũng là quả chuông độc nhất với nhiều đường nét trạm trổ độc đáo. Chuông cao 2,35m, đường kính miệng chuông 1,4m, nặng 2385 kg. Phía sau tháp Phước Duyên và cửa tam quan có tấm bia của vua Khải Định dựng năm 1923 để kỉ niệm một lần đến viếng cảnh chùa.

Trước đền Tam quan có treo biến Linh Mụ Tự. Vì sao lại có tên Thiên Mụ tự? Được biết dưới thời Tự Đức do có nhiều sự cố trong việc trị nước và nội cung. Nhà vua có lẽ chữ thiên đã động đến trời cho nên Thiên Mụ đổi thành Linh Mụ vào khoảng năm 1862 – 1869. Dưới chân tam quan có 3 đôi tượng hộ pháp trấn giữu hai bên của 3 cửa ra vào. Các tượng hộ pháp này đều bằng đất, dáng dữ tợn cao lớn như người thật. Phía trên đến tam quan, bên hữu là lầu trống, bên tả là lầu chuông. Đây là quả chuông nhỏ năm 1815 vua Gia Long cho sửa chùa rồi cho đúc quả chuông này. Ngày nay quả chuông được chùa Thiên Mụ đánh lên vào thời khắc nhất định trong ngày. Còn đại hồng chung là lầu chuông kỷ niệm.

Phía sau cổng tam quan có hai hành lang tả, hữu. Mỗi bên có 3 tượng kim cương ngồi trên các muông thú. Các tượng này được làm từ hồi đầu thế kỷ 20. Từ của tham quan bước vào chính điện đi theo con đường rộng với hai hàng thông xanh cao vút làm tăng vẻ uy nghi cho ngôi bái đường.

Điện Đại Hùng - Chùa Thên Mụ
Điện Đại Hùng – Chùa Thên Mụ

Điện Đại Hùng

Điện Đại Hùng là ngôi điện chính của chùa. Một công trình kiến trúc to, rộng, bề thế nhất dưới triều Nguyễn. Trong lần trùng tu năm 1957, Ngoại trừ hệ thống hương và đòn, các hệ thống cột, bệ đều được bê tông hóa và phủ bên ngoài một lớp sơn giả gỗ. Trước bái đường là pho tượng Di Lặc cao 0,9m bằng đồng thau. Áo choàng của tượng có nhiều nếp gấp được sơn đen làm nổi bật phần da thịt vàng bóng. Điểm trên nét mặt vuông chữ điền là nụ cười phúc hậu. Tượng di Lặc có niên đại muộn vào thế kỷ 20. Bên trên cửa chính điện có treo một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thiếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Nguyên ngự đề năm 1714. Trong một lần di dời để trùng tu, bức tranh kình bị vỡ chỉ còn lại bài thơ của chúa. Ngày nay người ta thay vào đó là bằng công nhận di tích văn hóa.

Tượng Phật Di Lặc trong chùa Thiên Mụ
Tượng Phật Di Lặc trong chùa Thiên Mụ

Tượng Phật Di Lặc

Trong chính điện các pho tượng phật được làm bằng đồng thau. Qua những hoa văn nét chạm thì những tượng phật này được đúc khoảng đầu thế kỷ này. Ngoài ra ở chùa còn có các tượng được làm bằng đồng khác như tượng quan âm, nhiều tượng phật bằng gỗ khác. Trong chính điện ngoài các tượng phật còn có một khánh đồng  khắc hình nhật nguyệt tinh túy. Trên mặt khánh có khắc dòng chữ cho biết, khánh này do một vị quan người Quảng Trị là Trần Đình Ân cho đúc năm 1677 để cúng chùa.

Chùa Thiên Mụ là một ngôi chùa lớn nhưng tượng phật hầu hết đều có niên đại muộn. Chỉ có khánh đồng , chuông đồng và bia đá lớn có niên đại sớm. Chùa Thiên Mụ ngôi chùa cổ kính và uy nghi còn được bao bọc bởi thảm xanh thiên nhiên được bố trí một cách tinh tế và hài hòa làm thêm vẻ thanh tịnh mà trang nghiêm phù hợp với cuộc sống nhập thân vào phật pháp. Còn với người đời, nét trầm mặc của ngôi chùa như làm vơi đi những cái xấu của cuộc đời, gột rửa những toan tính thiệt hơn trong cuộc sống hối hả, đua tranh thường ngày.

Chùa Thiên Mụ ngôi cổ tự của đất cố đô. Được các vua Nguyễn dựng xây, chăm chút, trùng tu và mở rộng. Vào thời cực thịnh chùa Thiên Mụ là một danh lam, một ngôi quốc tự của đất kinh kỳ.  Trải qua nhiều biến động của lịch sử , chiến tranh. Đã vậy thiên tai luôn hoành hành sứ sở đẹp đẽ, thơ mộng này. Nhưng chùa Thiên Mụ, kiến trúc hoa văn, nét chạm do bàn tay vàng của những người thợ thủ công Việt Nam để lại cho đời vẫn còn mãi sự uy nghi. Trở thành biểu tượng của sứ Huế ngày nay.

Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc

( Cột cờ Lũng Cú ) Nếu mô phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc thành một chóp nón, thì hai điểm thấp nhất theo kinh độ là Tây Trang – Điện Biên và Xa Vĩ – Móng Cái, còn đỉnh của chóp này chính là Lũng Cú nằm tại Vĩ độ 23021 Bắc và là điểm cao nhất cực Bắc Việt Nam.

Nhưng theo số liệu nghiên cứu chính xác thì bản Lô Lô Chải với 80 hộ, gần 400 khẩu mới là điểm cao nhất, nhọn nhất của hình chóp nón, Lũng Cú mới là nhì thôi. Nhưng Lũng Cú trước nay vẫn nổi trội hơn trong tâm linh lẫn tâm thức của con dân Việt về cương vực lẫn chủ quyền quốc gia. Có lẽ phần nổi trội, ấn tượng ấy là lá cờ với diện tích 54 m2 đang tung bay trên đỉnh cột cờ Lũng Cú kia.

Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc
Cột cờ Lũng Cú – Thiêng liêng nơi địa đầu tổ quốc

Ý nghĩa của tên gọi Lũng Cú

Từ bãi đỗ xe giữa lưng chừng núi, chinh phục 200 bậc đá lên độ cao 1700m của đỉnh núi có địa danh là Lũng Cú. Lũng trong tiếng Mông là ngô, Lũng Cú là thung lũng ngô. Có tên vậy là vì từ xưa đến nay, cả cánh đồng Thèn Pả – cánh đồng lớn nhất ở Lũng Cú đều trồng ngô. Đó là cách giải thích đơn giản nhất, chất phác như chính con người và cuộc sống nơi đây. Nhưng cũng có cách lý giải theo huyền thoại về ngọn núi Long cung nơi rồng ở. Người dân ở đây vẫn kể cho nhau nghe về sự tích rồng thiêng đến ở tại ngọn núi linh Lũng Cú hay xưa kia là núi rồng. Nhưng nghe nói ở gần đỉnh Lũng Cú về phía Tây có 2 vũng nước mà trên độ cao chót vót này không bao giờ cạn cả. Nông thôi nhưng nước rất trong. Hai vũng ấy được dân ở đây coi như 2 cái  giếng.

Hơn thế nữa là long nhã tức là hai mắt rồng. Đời sống người dân nơi đây rất thiếu thốn về nước sinh hoạt, điều đó đã làm cho rồng tiên động lòng trắc ẩn. Nên trước khi bay về trời đã để lại đôi mắt cho dân làng, từ đôi mắt đã tạo nên hai chiếc hồ. Một bên là hồ của làng Then Pả của dân tộc Mông. Một bên là hồ của làng Lô Lô Chải. Nước không cứ sâu, núi không cứ cao nhưng có rồng đến ở đều là đất linh thiêng. Nếu cứ chiểu theo câu nói của người xưa, thì điểm cực Bắc này linh thiên mọi nhẽ. Hay chữ nghĩa một chút Lũng Cú là đọc chệch âm Hán sang âm Hmông từ Long Tổ nghĩa là trống của nhà vua, nguyên do là vì vua Quang Trung. Có sách nói rằng, trước đó là thời Lê Lợi, sau khi đại thắng quân xâm lược đã cho treo cái trống thật to ở trạm gác vùng biên này. Dùng cái trống ấy báo tin dữ tin lành về sự an nguy của biên ải. Mỗi lúc cầm canh âm thanh chủ quyền ấy lại vang lên 3 hồi đĩnh đạc, cách mấy dặm còn nghe được. Tiếng trống vang trên miền biên diễn này, khiến người dân có thêm một điểm tựa tinh thần. Tiếng trống của cha ông từ thủa xa xưa và sắc đỏ là cờ tổ quốc hôm nay, bay hiên ngang trên bầu trời tổ quốc địa đầu là một lời nhắc nhở với cháu con về chủ quyền đất nước.

Khi Lý Thường Kiệt hồi quân chấn ải biên thùy, thì ông đã cho cắm một lá cờ tại nơi này để đánh dấu mốc chủ quyền lãnh thổ. Cũng chính vì lá cờ đó mà trong suốt quá trình lịch sử, mảnh đất biên ải này vẫn luôn được giữ vững.

Trước khi qua thăm cột cờ, du khách nên ghé qua đồn biên phòng Lũng Cú. Nơi từng ngày từng giờ các anh đang đối đầu với thời tiết khắc nghiệt của vùng cao núi thẳm, với những kẻ thù dấu mặt, giữ bình yên cho từng làng bản hẻo lánh, giữ chủ quyền tổ quốc trên từng cột mốc biên cương. Hình ảnh lá cờ tổ quốc tung bay ở nơi cực Bắc này mang đếm cảm giác thiêng liêng khó tả.

Lịch sử xây dựng cột cờ

Những mốc thời gian của cột cờ Lũng Cú dù chưa quá xa, nhưng câu chuyện vẫn nhuốm màu huyền sử giữa núi rừng thăm thẳm này. Cột cờ Lũng Cú được dựng lên đầu tiên từ thời Lý Thường Kiệt và ban đầu làm bằng cây Xa mộc cao trên 10m. Cột được xây lại vào thời Pháo thuộc năm 1887. Năm 1978 khi tuyến đường lên Lũng Cú được khánh thành , bác Hùng Đình Quý nguyên là chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Đồng Văn thấy lá cờ cắm lúc trước chưa đủ rộng để mọi người dân sống ở chân núi rồng có thể ngắm nhìn. Bác nảy ra sáng kiến dựng cột cờ cao hơn, may lá cờ rộng hơn và lá cờ phải tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. May một lá cờ rộng 54 m2 sẽ rất hợp lý. Thế là ngày 12-8-1878 lá cờ rộng 54m2 chính thức tung bay trên cột cờ Lũng Cú.

Năm 1991 được sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, nhân dân các dân tộc Lô Lô, Mông, Dao ở Lũng Cú đã đi khắp các vùng rừng, lên các núi cao nhất, xa nhất để tìm cho được 1 cây pơ mu cao 13m thân thẳng đứng  như mũi tên hướng lên trời kiêu dũng. Mất 2 ngày cưa cây, gần 20 trai tráng đã nâng bổng thân cây nặng hàng tạ đã đưa lên đỉnh núi Rồng làm cột cờ bằng gỗ đầu tiên. Đến năm 2000 từ tháng 8 – tháng 12 những chiếc quẩy  thô mộc của người dân Lũng Cú lại kéo lên đỉnh núi cao hơn 1500m này gần 2 tấn thép, 8000 viên gạch gần 70m2 đá và cát để dựng nên cột cờ xây. Cột cờ được xây dựng thiết kế với tổng chiều cao 33,5m. Trong đó phần chân cột cao 20,25m. Phần cán cờ cao 12,9m. Đừng kính ngoài chân cột 3,8m. Cột cờ được thiết kế theo hình bát giác giống hình dáng cột cờ Hà Nội.  Chân bệ có 8 bức phù điêu đá xanh mang nét hoa văn của trống đồng Đông Sơn. Và minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc.

Cột cờ Lũng Cú được tu sửa năm 2010
Cột cờ Lũng Cú được tu sửa năm 2010

Ngày 8-3 năm 2010 tỉnh Hà Giang đã trùng tu tôn tạo, nâng cấp lại cột cờ Lũng Cú với quy mô hiện đại. Việc trùng tu tôn tạo cột cờ Lũng Cú cùng gắn với 4 huyện vùng cao tỉnh Hà Giang được công nhận là công viên địa chất cao nguyên đá toàn cầu. Cột cờ Lũng Cú thì nhiều người đã đến. Cái tên Lũng cú nhiều người đã thuộc. Chuyện chào cờ trên Lũng Cú được chuyển thành phim tài liệu khiến nhiều người xúc động. Nhưng còn nhiều câu truyện cảm động khác quanh việc xây dựng và gìn giữ để lá cờ trên đỉnh Lũng Cú luôn tươi thắm, luôn phấp phới bay giữa bầu trời cực Bắc. Nghe kể từ năm 1978 lá cờ 54 m2 đã được kéo lên ở mảnh đất thiêng này.

Không có thông số chính xác về áp lực gió tại độ cao 1700, mỗi cm2 hay mỗi m2 cờ phải chịu áp lực lên là bao nhiêu tạ bao nhiêu tấn. Nhưng nghe chuyện anh em biên phòng kể lại. Nhiều nhất những kỳ lặng gió được đến 4 tuần thì phải thay cờ. Đứng dưới chân núi dùng óng nhòm, loại đặc chủn để xăm xoi xem có vết rách nào cũng là một cách. Nhưng nghe anh em nói lại kiểu ấy không chính xác. Vì nếp cờ luôn sao động, luôn uốn lượn hoặc có thời khắc có lúc cờ không reo thì khó mà biết gió đánh toạc ở vị trí nào. Vì thế mà phải thay nhau gò người lên độ cao 1700m kiểm tra. Đứng dưới chân tháp cờ dùng mắt thường mà dõi từng cm2 cờ.

Những lá cờ tổ quốc ở cột cờ Lũng cú sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã phai màu vì nắng mưa, bị rách vì gió xé sẽ được giành tặng lại cho những đoàn khách đặc biệt nơi đây. Và được mang về kỷ vât là cờ tổ quốc đã từng tung bay trên cột cờ Lũng Cú địa đầu cực bắc đất nước. Quả là không thể có gì thiêng liêng hơn.

Đứng bên cột cờ tổ quốc nơi cực bắc, không gian đá núi mơ màng, để cho gió biên giới thổi căng lồng ngực. Bất giác nghe tiếng trống ngực rộng ràng như tiếng trống hào hùng của cha ông xưa. Cho con biển rộng sông dài, cho con lưỡi kiếm đá mài nghìn nằm. Đất nước của những ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể, bỗng hiện hữu âm ỷ tuôn chảy trong từng thớ thịt, mạch máu.

Dân tộc chăm – Tìm hiểu về người Chăm ở An Giang

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Chăm ( người Chăm) có khoảng 150.000 người họ thường cư trú quần tụ ở các làng thuộc từ Bình Định vào đến An Giang, nhưng tập trung đông nhất là ở Ninh Thuận, Bình Thuận và An Giang.

Người chăm là dân tộc duy nhất ở Việt Nam theo tín ngưỡng Hồi Giáo. Ở miền Trung Việt Nam cộng đồng dân tộc Chăm theo hồi giáo tự gọi mình là Chăm Bà Ni. Còn cộng đồng dân tộc Chăm ở Nam Bộ là người Chăm Islam theo tín ngưỡng của Hồi Giáo chính thống do cộng đồng này vẫn giữ được nhiều nghi lễ của đạo Hồi chính thống hơn so với đồng đạo của họ ở miền Trung. Chính cộng đồng người Chăm Islam này đã làm nên một bản sắc văn hóa Chăm độc đáo giữa vùng đồng bằng Nam bộ.

Phân bổ

An Giang, vùng đất trù phú được tạo nên từ phù sa của dòng sông Hậu. Đây cũng là vùng đất tụ cư của nhiều anh em trên đất Việt tìm đến sinh sống. Ở An Giang hiện nay có khoảng hơn 1 vạn người Chăm. Họ sinh sống chủ yếu ở các huyện thị như: Châu Phú, Tân Châu, An Phú và Châu Thành. Là cộng đồng cần cù chịu khó người Chăm ở An Giang chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, mua bán nhỏ và nghề thủ công.

Dân tốc Chăm - Người Chăm ở An Giang - Thánh đường người Chăm
Dân tốc Chăm – Người Chăm ở An Giang – Thánh đường người Chăm

Người dân tộc chăm ở đây thường sinh sống theo các tộc họ và tập trung trong các làng Chăm. Mỗi làng chăm có từ 300-400 hộ gia đình do mộ đơn vị quản lý của làng gọi là Hội đồng phong tục, trong đó có trưởng làng.

Tín điều

Người Chăm Islam ở An Giang họ rất nghiêm chỉnh chấp hành 5 tín điều đó là :

  • Tin tưởng tuyệt đối vào Thánh Ala
  • Hành lễ mỗi ngày 5 lần
  • Chay tịnh trong tháng lễ Ramadan
  • Chia sẻ với người nghèo
  • Hành hương về thánh địa Mecca

Với người Chăm niềm tin tôn giá sâu sắc, tin vào điều thiện luôn đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm lý, đồng thời chi phối hành động nhận thức tình cảm ý chí của mỗi cá nhân của cộng đồng người Chăm.

Tuy là một cộng đồng khá đông đảo sinh sôi bên dòng sông Hậu, nhưng người Chăm luôn sống gắn bó, hòa nhập với cộng đồng các dân tộc anh em, và giữ gìn bản sắc văn hóa riêng biệt của mình. Người chăm tại An Giang có rất nhiều lễ hội, mỗi lễ hội lại có những nghi thức truyền thống đặc sắc. Trong đó tháng Ramadan có ý nghĩa rất đặc biệt mang tính nhân văn sâu sắc với cả cộng đồng người Chăm.

Châu Giang là một miền quê năm bên bờ sông Hậu. Châu Giang luôn gợi lên một vẻ đẹp sông nước thơ mộng êm đềm, đồng thời nơi đây cũng là trung tâm giao thương của người trồng dâu,  ươm tơ, dệt lụa vốn là nghề truyền thống của người Chăm.Do đặc điểm cư trú của người Chăm, gắn liền với môi trường sông nước nên để phù hợp, nhà của người Chăm bao giờ cũng tôn cao hơn mặt nước khi có lũ. Do vậy, nhà được cất trên những hàng cột cao đến 2-3m với hoa văn trang trí và nội thất mang nét đặc trưng của dân tộc Chăm. Ở trong nhà, họ không sắp đặt hoặc trang trí các hình ảnh tượng thờ vào bàn thờ tổ tiên, có chăng chỉ là chiếc đồng hồ để biết giờ cầu nguyện với cuông lịch Islam. Bởi trong suy nghĩ của người chăm Islam khi treo những hình ảnh khác, sẽ tri phối tâm tư, làm cho họ sao nhãng việc cầu nguyện.Vào mùa khô, dưới sàng nhà được sử dụng làm nơi đặt khung dệt và các sinh hoạt thường ngày.

Bước vào làm Chăm, có cảm giác như lạc vào một thế giới khác, thế giới của những truyện cổ tích Ả Rập. Trong mỗi làng Chăm luôn có một thành đường Hồi Giáo bề thế, uy nghi. Người chăm An Giang không xây tháp như ở miền Trung, nhưng ở làng nào cũng có thánh đường Hồi Giáo. Tùy theo mỗi làng mà quy mô thánh đường lớn nhỏ khác nhau nhưng kiến trúc các thành đường thường có những đặc điểm chung. Các thành đường đều có ngọn tháp cao bên cạnh mái vòm bên cạnh thành đường. Nơi đó thường gắn một ngôi sao và vành trăng lưỡi liềm, vốn là biểu tượng của đạo Hồi. Vào trong là một khoảng sân cầu nguyện rộng rãi đây cũng là nơi hội họp ưa thích của cộng đồng người dân tộc Chăm.Với kiến trúc như vậy, thành đường Hồi giáo thể hiện rõ hai định hướng của đạo Hồi. Đó là hướng đến thượng đế và hướng đến cộng đồng tín đồ được biểu tượng bằng thánh địa Mecca – một trung tâm linh thiêng của tín đồ hồi giáo trên trần thế. Có lẽ vì thế mà tất cả các thánh đường của người Chăm ở An Giang đều hướng về nơi có thánh địa Mecca.

Tháng Ramadan

Tháng Ramadan diễn ra từ ngày 1-9 đến 30-9 theo lịch của đạo Hồi. Đây là một dịp để tất cả cộng đồng người Chăm Islam tự kiểm điểm lại những hành động đúng sai của mình trong từng ngày từng tháng của năm đã qua, để rồi mỗi người tự khắc phục những hành vi sai trái, hướng đến những điều thiện trong cuộc sống. Trong tháng Ramadan mỗi người Chăm phải tuyệt đối nhịn ăn , nhịn uống, không được sát sinh, và nhất là không gây gổ cãi vã làm mất đoàn kết với bất cứ ai từ lúc dạng đông đến tận buổi tối.

Trong tháng lễ thánh linh thiêng này, người Chăm Islam luôn tâm niệm với việc làm nhiều điều thiện có ích cho cộng đồng, tránh mọi việc xấu, đồng thời tôn kính về Thánh Allah cũng như thực hiện đầy đủ các nghi thức lễ nguyện và đọc kinh Coran.  Cũng trong dịp này người Chăm Islam ở An Giang trường cầu nguyện cho hòa bình và đẩy mạnh nhiều hoạt động xã hội từ thiện.

Tháng Ramadan còn là gì theo truyền thống của các thành viên trong cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang. Với tất cả những người Chăm Islam vì cuộc sống vì sinh kế có phải đi làm ăn ở phương xa,  nhưng Hàng năm cứ đến tháng Ramadan thì dù bận rộn đến mấy họ cũng tìm Trở Về đoàn tụ với gia đình thăm hỏi bà con thân thuộc xóm giềng. Chính vì vậy dân tộc Chăm Islam còn gọi tháng Ramadan là tháng của lòng nhân từ, tháng của việc hiện, hay tháng của tín nghĩa.  Mọi người trong cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang đều được khuyến khích tham gia tháng chay Ramadan. Bởi họ tin rằng càng khổ hạnh càng chứng tỏ đức tin của mình với Thượng đế.  Tuy nhiên cũng có những loại lệ như đối với người ốm người già hay trẻ em và phụ nữ mang thai thì được miễn tham gia vào tháng nhịn chay Ramadan.  Việc thực hành tháng chay Ramadan mang tính khuyến nghị chứ hoàn toàn không bắt buộc. Nhưng trên thực tế hầu như tất cả cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang đều tuân thủ nghiêm ngặt.

Trang phục truyền thống người Chăm

Lâu nay người Chăm ở An Giang, vẫn giữ được nét độc đáo riêng trong trang phục của mình. Người con gái Chăm thì thướt tha duyên dáng trong trang phục truyền thống, nhưng cũng có khi được cách điệu thành trang phục cùng tông màu rất đẹp. Đặc biệt là các thiếu nữ, lúc nào cũng có một chiếc khăn trùm đầu, được thả lơi hoặc cột gọn bao trùm lấy mái tóc.Chiếc khăn này luôn có những họa tiết, hoa văn rất trang nhã và quý phái. Còn đàn ông dân Chăm thì mặc Sarong kẻ sọc caro với áo sơ mi, và lúc nào cũng có chiếc mũ vải hình tròn đội trên đầu.

Trang phục đàn ông dân tộc Chăm An Giang
Trang phục đàn ông dân tộc Chăm An Giang

Giống như tâm lý của người Việt mỗi độ tết đến xuân về, người Chăm ở An Giang luôn muốn đón lễ Ramadan với trang phục đẹp nhất. Họ quan niệm, y phục trang trọng là thể hiện sự thành kính với đấng tối cao.

Trong suốt thời gian khoảng 1 tháng trước lễ Ramadan, mọi người ở đây luôn phải bận rộn đến tận lúc nửa đêm để kịp trao cho khách hàng những bộ Sarong trang trọng.

Các loại thực phẩm để chế biến món ăn của người Chăm đặc biệt là không bao giờ từ thịt lợn. Theo giáo luật mỗi người Chăm Islam điều phải nhịn ăn vào ban ngày trong suốt cả tháng Ramadan.  Vào ban ngày mỗi người ở đây đều cố gắng gìn giữ để không phải bất cứ điều gì có thể làm mất phước chay của mình.  Đến khi mặt trời lặn, họ mới ăn để bù thêm sau một ngày nhịn chay. Đây gọi là bữa ăn xả chay. Bữa ăn xả chay là hình thức để ăn mừng sự thi hành nghiêm chỉnh giá luật của cá nhân cũng như là của cả cộng đồng. Thông thường các bữa xả chay khá thịnh soạn với những món như Ca-yy, Ca-pua hay Tung-lo-mo cùng với đó là các loại bánh truyền thống của dân tộc Chăm. Nhưng tuyệt nhiên không có rượu bia hoặc bất cứ loại nước uống nào có men.Tuy bữa ăn cả chay diễn ra vào buổi tối nhưng không vì thế mà mất đi không khí vui vẻ. Bởi đây là dịp gia đình được đoàn tụ, là  lúc bà con chòm xóm tới thăm hỏi chúc mừng và để nói với nhau những lời xin lỗi nếu trong thời gian qua có những gì phật ý.

Bắt đầu từ đêm mùng 1 tháng 9 theo lịch của Hồi Giáo là thời điểm chính thức vào Ramadan. Mọi người trong đó là hiểu tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị thức ăn đêm và kiêng chuyện chăn gối để chuẩn bị lễ nguyệt trong tháng Ramadan linh thiêng. Đặc biệt vào thứ 6 mỗi tuần sau khi tắm xong, họ giữ gìn không cho bất cứ ai chạm vào người mình cho đến lúc vào thánh đường. Mỗi ngày mọi người vẫn đi hàng đến năm lần đó là vào lúc rạng đông, buổi trưa, buổi chiều,  lúc hoàng hôn và buổi tối. Vào cuối buổi chiều các tín đồ Chăm tập trung về đại thánh đường ngày càng đông . Họ chuẩn bị cho cuộc hành lễ thứ tư trong ngày vào lúc hoàng hôn. Theo giáo luật chỉ có những người đàn ông trưởng thành mới được phép đến thánh đường. Còn phụ nữ thì không được vào trong thánh đường.  Để tiến hành một buổi lễ cầu nguyện thì ít phất phải có 40 người tham gia. Họ quan nghiệp có như vậy thượng đế linh thiêng mới chấp nhận buổi lễ.
Tất cả mọi người đều mặc đồ truyền thống của người Chăm sạch sẽ tươm tất và đầu đội mũ trắng hoặc khăn trắng.  Trong cộng đồng người Chăm Islam, những tín đồ bằng khăn rất được kính trọng, bởi họ là những người đã hành hương đến thánh địa Mecca ít nhất một lần trong đời. Sau một ngày Nhịn ăn nhưng không ai được đến những thức ăn ở trước mặt mình tất cả đều chuyên tâm đọc kinh Coran với một niềm tin mãnh liệt vào Thượng đế.

Khi có  tiếng trống báo hiệu hết giờ đọc kinh các tín đồ mới được phép ăn uống trong bữa xả chay đầu tiên. Cho đến khi có tiếng trống lần thứ 2, mọi người đều phải dừng lại để tiến hành các nghi thức của buổi cầu nguyện.

Một buổi cầu nguyện của dân tộc Chăm
Một buổi cầu nguyện của dân tộc Chăm

Bắt đầu vào buổi hành lễ cầu nguyện thứ tư trong ngày, các tín đồ người Chăm Islam sẽ thực hiện việc tối ở đâu sự hướng dẫn của người điều hành buổi cầu nguyện. Theo giáo lý Islam vì mọi người đều bình đẳng như nhau và chịu trách nhiệm với Đấng Tạo hóa nên không có hệ thống giáo phẩm hoặc Giáo Sỹ. Tuy nhiên để điều hành được cầu nguyện của các tín đồ ở trên đường cũng có một số tín đồ thông hiểu giáo lý đứng ra làm việc này. Đó là một người có hiểu biết sâu rộng về giáo lý và thuộc lòng kinh sách đứng ra hướng dẫn cách để nguyện cầu tập thể.  Một người nữa cũng có hiểu biết rộng nhưng chỉ đảm trách việc hướng dẫn cầu nguyện của ngày thứ 6 hoặc vào ngày lễ. Một người nữa đảm trách việc sướng kinh kêu gọi đồng đạo đến dâng lễ nguyện tập thể. Khi cầu nguyện phải quay mặt về hướng tây – hướng của thánh Allah cũng là hướng của thánh địa Mecca và đọc kinh bằng tiếng Ả Rập.Mọi tín đồ hành lễ rồi đứng ngay hàng thẳng lối và đồng loạt thực hiện các thao tác như khoanh tay trước ngực hoặc ngồi để tay lên đùi, vuốt mặt hay cúi đầu sát đất với lòng thành kính của những tín đồ sùng đạo. Những lời cầu nguyện của các tín đồ phải hướng tới thượng đế nói về sự vĩ đại từ bi đáng kính của người đồng thời họ cầu xin đừng tới cao ban cho những điều tốt lành trong cuộc sống. Theo giáo lý Islam vào buổi trưa thứ 6 hàng tuần các tín đồ phải cùng nhau đến thánh đường Cầu Nguyện tập thể đó là thể hiện sức mạnh của cộng đồng, sức mạnh của những người có cùng đức tin.

Theo giáo luật, những người phụ nữ chăm không được đến thánh đường để cầu kinh. Nhưng việc cầu kinh của phụ nữ vẫn được diễn ra tại nhà. Việc cầu nguyện tại nhà của những người phụ nữ Islam thông thường giao cho người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình đảm nhiệm. Vai trò của họ cũng giống như vai trò của người hướng dẫn ở thánh đường . Mỗi ngày họ cũng tiến hành cầu nguyện 5 lần giống như những người đàn ông. Khi cầu nguyện những người phụ nữ sử dụng các bộ trang phục riêng bị hành lễ. Những bộ lễ phục này đều do chị em tự lo cho mình. Những người phụ nữ Chăm Islam tin rằng việc nghiêm cẩn cầu nguyện và tích cực làm việc thiện sẽ giúp họ được nhiều sức lực của Thánh Allah, bởi sự ân thưởng của Thượng đế sẽ tăng lên nhiều hơn so với ngày thường. Sau khi hành lễ xong họ sẽ đọc kinh Coran hoặc nghe giảng đạo ở nhà.

Trong suy nghĩ của người Chăm Islam đối với những người thân đã khuất đó là sự ra đi của họ sang một thế giới khác. Trong những ngày của tháng Ramadan người Chăm Islam tin rằng họ có thể kết nối với người đã khuất, bởi vì lúc này các thiên thần sẽ cho phép họ được giao cảm với những người thân trong gia đình. Vì vậy họ rất coi trọng việc đến tận ngôi mộ của người thân để đọc kinh Coran. Đây là việc làm thấm đậm tính nhân văn của cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang.

Đạo Hồi là một trong những tôn giáo được sự quan tâm của nhà nước Việt Nam vì thế cộng đồng người Chăm Islam An Giang đã thành lập Ban đại diện đó là niềm vui lớn của các cộng đồng dân tộc Chăm ở đây. Ban đại diện có nhiệm vụ lo toan giải quyết các công việc của cộng đồng giáo dân Chăm. Bên cạnh đó ở ban đại diện Cộng đồng hồi giáo luôn gương mẫu làm tốt vai trò cầu nối giữa nhà nước với tín đồ hồi giáo đồng thời tuyên truyền định hướng cho các tín đồ thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước sống tốt đời đẹp đạo, đoàn kết bảo vệ xây dựng xóm làng, giữ gìn an ninh trật tự, giúp nhau vươn lên trong cuộc sống.

Ngoài ra việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cũng như việc đầu tư cho giáo dục ở cộng đồng dân tộc Chăm cũng được chính quyền địa phương quan tâm coi trọng.  Tại các thánh đường đều tổ chức dạy học song ngữ Việt – Chăm.

Tuy có nhiều tôn giáo với những giáo luật chặt chẽ khác nhau trên cùng một đất nước nhưng tôn giáo nào cũng hướng mọi người tới mọi điều thiện trong cuộc sống. Với cộng đồng người dân tộc Chăm Islam ở đây các giáo luật đó đã giúp con người nghĩ nhiều việc thiện và thực hành điều thiện. Qua đó nâng cao đời sống đạo hạnh và thể hiện tình thương yêu trách nhiệm đối với những người nghèo khó đồng thời chung tay cùng với chính quyền các cấp trong lo phút nữa những người không may mắn trong cuộc sống. Đây là những việc làm thiết thực mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc của cộng đồng người Chăm Islam trên đất nước Việt Nam.

Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc

Dân tộc Dao – Tuyên Quang,  một tỉnh miền núi thuộc Đông Bắc Việt Nam ,Nằm ở trung tâm lý lưu vực sông Lô. Tuyên Quang là nơi cư trú của cộng đồng  20 dân tộc anh em. Trong đó dân tộc Dao có quy mô dân số đứng thứ 3 sau người Kinhngười Thái hội tụ đủ cả 9 ngành Dao. Như  người Dao tiền, người Dao Đỏ, người Dao quần trắng…

Mỗi ngành có một đặc trưng văn hóa riêng, tạo nên sắc thái văn hóa đang dạng, phong phú và giàu bản sắc. Bài viết dưới đây sẽ đưa chúng ta về với bản làng ở Tuyên Quang, để hòa chung không khí với đồng bào dân tộc Dao nơi đây.

Trong kho tàng văn hóa dân gian của Việt Nam, khi đồng bào dân tộc Dao có nhiều đóng góp đáng kể, thông qua đời sống tinh thần hết sức phong phú. Từ tập quán sinh sống, Lao động sản xuất, cách thức bài trí nhà cửa,  trang phục, cho đến hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ đều có những nét đặc trưng riêng mà chúng ta có thể nhận ra.Và ngay trong từng ngành Dao cũng có sự khác biệt với nhau. Đối với người Dao tiền hay Dao Đỏ thì ở nhà  trệt, Dao Quần Trắng, Dao áo dài thì ở nhà sàn. Trang phục của các ngành Dao cũng hết sức đa dạng. Người phụ nữ chính là những người gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc
Dân tộc Dao – Bản sắc văn hóa người Dao vùng Đông bắc

Trang phục dân tộc Dao

Với bản tính chịu thương chịu khó, những người phụ nữ Dao chỉ bằng những khung dệt thôi xơ mộc mạc, Và những chất liệu sẵn có ở địa phương tạo ra những bộ trang phục truyền thống với những đường nét hoa văn tinh tế, và lộng lẫy sắc màu.  Tuy mỗi một ngành Dao có một trang phục đặc trưng riêng,  từ kiểu dáng đến cách phối màu. Xong nhìn chung trang phục của phụ nữ Dao bao giờ cũng cầu kỳ và tinh xảo.Từ phản đối đầu, váy áo cho đến xà cạp, tất cả đã góp phần tôn lên vẻ đẹp và sự duyên dáng cho người phụ nữ Dao.

Đời sống

Người Dao vốn sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Tuy nhiên cùng với thời gian do sự thay đổi về điều kiện tự nhiên cũng như tập quán sinh sống.  Ngày nay, người Dao đã phát triển lúa nước và một số loại hoa màu khác, đặc biệt là ngô.Cũng nghe nhiều dân tộc khác và con người dân tộc Dao vẫn có cuộc sống tự cung tự cấp, dựa vào chăn nuôi, trồng trọt nên việc gieo trồng và chăm sóc mùa màng rất được quan tâm . Cũng từ đó trong cuộc sống của con người Dao dần hình thành những tín ngưỡng nông nghiệp và các hình thức sinh hoạt văn hóa, phục vụ cho việc cầu mưa, cầu gió nhằm đối phó với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cầu mong cho mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi, vật nuôi không bị dịch bệnh.

Sinh hoạt văn hóa

Trong các hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ phổ biến của người dân tộc Dao, thì dân ca, dân vũ có đời sống rất phong phú về nội dung và hình thức thể hiện. Tùy theo đối tượng hoàn cảnh diễn ra các cuộc hát, nhằm phản ánh kinh nghiệm sản xuất, dự báo thời, phép ứng xử trong xã hội, đề cao đạo đức, lẽ sống àm người và tình yêu quê hương hay tình yêu đôi lứa.  Mỗi nhóm dao có những làn điệu ít nhiều khác nhau, Nhưng nhìn chung những bài hát của người Dao đều được hình thành trên thể thơ thất ngôn hoặc lục bát.Hát giao duyên trong tiếng rao gọi là “Pao dung toi tong dai Dung”  lời ca tiếng hát để bày tỏ tình cảm của mình.

Cứ mỗi độ xuân về khi hoa mận nở trắng khắp núi rừng, cũng là lúc nông nhàn sau khi mùa màng kết thúc. Thanh niên nam nữ người Dao, lại tổ chức hội hát giao duyên. Vừa để tạo không khí mùa xuân vui tươi vừa để tìm hiểu kết thành đôi lứa.  Đây là nét đổi mới trong văn hóa của người Dao.  Trước đây, người Dao bị ràng buộc khắt khe bởi những lễ giáo phong kiến và những hủ tục mê tín dị đoan, nên việc bày tỏ tình cảm việc giao duyên như thế này là điều rất khó khăn.Với ca từ nhẹ nhàng, sâu lắng các chàng trai cô gái muốn trao gửi cho nhau những nhắn nhủ từ sâu thẳm trong lòng mình một cách tinh tế và tràn đầy cảm xúc.

Khi lời ca đã làm cho tâm hồn sao xuyến, tình cảm đã tâm đầu ý hợp thì họ trao nhau những chiếc khăn thêu như để tin, để gửi gắm vào đó những tình cảm dành cho người đã chọn.

Theo  phong tục, thì giao duyên chỉ được tổ chức với các chàng trai cô gái ở các bản làng nhau. Việc tổ chức ca hát rất đơn giản.Trai gái bản này muốn ca hát với trai gái bạn khác nếu là hát trong nhà thì chỉ cần xin phép gia chủ,  còn ở ngoài trời thì họ tự chia thành hai bên nam nữ hát đối với nhau.Ngoài hình thức  hát Giao Duyên dành cho những người chưa có gia đình thì người dân tộc Dao còn tổ chức hát đối đáp cho những người đã có gia đình.Với mục đích giao lưu văn nghệ, tạo không khí vui tươi sau những ngày lao động vất vả.

Nội dung của các bài hát này chủ yếu ca ngợi tinh thần lao động sản xuất, thăm hỏi 2 công việc ruộng đồng, nương rẫy hay ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên. Mỗi cuộc hát đối thường kéo dài cho đến khi gà gáy canh 2, canh 3 bây giờ về hay về nhà đấy. Một hình thức khác tương đối thú vị, bài hát Uống Rượu, tức là khi uống rượu vui vẻ mọi người cùng hát cho nhau nghe nhằm tăng thêm phần hưng phấn cho tiệc rượu và tăng thêm tình đoàn kết gắn bó cộng đồng. một hình thức sinh hoạt văn nghệ có lẽ được nhiều người yêu thích, tham gia nhất là hát đối đáp trong đám cưới. Trong nghi thức cưới hỏi của người Dao, khi đến nhà gái, nhà trai thường hay cho phù rể đi lên trước, đồng thời nhà gái cũng cử hai cô gái phù dâu ra tiếp đón.Hai bên cùng nhau hát đối đáp để xin dâu. Nếu nhà trai đối được thì nhà gái mới cho đón dâu. Qua vòng đối đáp này, nhà gái Mời nhà trai vào nhà và cùng ngồi uống rượu nói chuyện, trong khi hai đôi phù dâu phù rể vẫn tiếp tục hát đối với nhau.

Đồng bào dân tộc Dao, Vốn là những người có đời sống tinh thần phong phú nên họ rất thích hát, rất hay hát. Đối với họ lời ca tiếng hát Không chỉ là công cụ hữu ích để giao duyên kết bạn, để thể hiện tình cảm lứa đôi hay tình làng nghĩa xóm. Mà những giai điệu dân ca dao đã ăn sâu vào những suy nghĩ trẻ thơ ngay từ khi còn tấm bé thông qua những khúc hát ru của bà, của mẹ. Để rồi những giai điệu ngọt ngào thấm đậm hồn quê, ngấm sâu trong ký ức ngọt ngào và lớn lên cùng những em bé người Dao.

Không chỉ nuôi dưỡng những làn điệu dân ca mượt mà, người Dao còn sáng tạo ra các điệu dân vũ rất độc đáo và đặc biệt gắn ăn liền với nghi lễ tôn giáo của đồng bào. Trong các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người dân tộc Dao không thể thiếu các điệu múa, thể hiện sức mạnh, thể hiện sự giao tiếp với các thế lực siêu, Hay để xua đuổi tà ma hơn là một hình thức sinh hoạt văn nghệ đơn thuần. Bởi vậy để có các bạn múa đúng nghi thức, người Dao khá cầu kỳ trong câu tổ chức, từ việc chọn trang phục cho đến việc thực hiện các động tác múa.

Tùy từng nhóm Dao mà trang phục múa có khác nhau, xong dù nhóm Dao nào trang phục múa cũng được may hết sức cầu kỳ và đẹp mắt. Không chỉ tạo nên vẻ rực rỡ cho buổi lễ mà còn mang đậm màu sắc tâm linh. Các điệu múa của người Dao là hình thức sinh hoạt cộng đồng được nhiều người yêu thích và tham gia, không phân biệt già trẻ gái trai.  Bởi vậy để bảo tồn và phát huy các điệu múa cổ truyền, người Dao đã hình thành hẳn một nghi lễ dạy múa.  Theo đó, người dạy múa phải là người có hiểu biết, có uy tín trong cộng đồng và được mọi người tín nhiệm. Trong các điệu múa của người dân tọc Dao, thì Tết nhảy là một người đã rất phổ biến là sự kế tục của ngày lễ cúng Bản Vương lượng tinh tướng để bảo vệ cuộc sống  gia đình, dòng tộc, và bản làng. Tham gia vào lễ Tết nhảy chúng ta có dịp chiêm ngưỡng điệu múa có một không hai của người Dao, mà không có tộc người nào khác có được. Đó là điệu múa tái tạo lại cuộc sống lao động sản xuất đầy thú vị của người Dao.

Trong khi đó, các điệu múa trong lễ cấp Sắc, hay còn được gọi là nghi lễ vòng đời xuất hiện trong nghi lễ tín ngưỡng của người Dao, trở thành hình thức tín ngưỡng văn nghệ sinh hoạt Văn nghệ dân gian phổ biến, nhằm mô tả quá trình lịch sử hình thành và phát triển của cả tộc người.

Còn nhiều nữa những giai điệu dân ca dân vũ, và những hình thức sinh hoạt văn hóa thú vị làm say đắm lòng người của đồng bào dân tộc Dao ở Đông Bắc Việt Nam. song, chỉ những hình ảnh trên đây cũng đã đủ để cho chúng ta thấy một cách rõ ràng về dài truyền thống, cũng như đời sống văn hóa hết sức phong phú và giàu bản sắc cuộc sống người dân tộc Dao. những sinh hoạt văn hóa ấy không chỉ có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn mà còn là tinh thần đoàn kết,  tương thân tương ái vượt qua mọi khó khăn thách thức, để bà con chung tay xây dựng quê hương, để bản làng ngày một ấm no, hạnh phúc.

Dân tộc Ê đê – Cùng tìm hiểu nét văn hóa của người Ê đê ở Đắc lắc

Dân tộc Ê đê ở Tây Nguyên nói chung, hay người Ê đê ở Đắk Lắc nói riêng có đời sống vật chất và tinh thần rất đặc sắc. Chính những giá trị văn hóa truyền thống của người Ê đê đã tạo nên những nét đặc trưng văn hóa của vùng đất Tây Nguyên.

Tây nguyên, một dải trường sơn xanh thắm với những cánh rừng đại ngàn. Nơi cư trú của hơn 20 tộc người da nâu mắt sáng, vóc dáng  hiền hòa. Tây Nguyên, vùng đất cao nguyên đại ngàn đầy nắng và gió.Nơi có những bản trường ca, sử thi,  truyền thuyết về đồng bào dân tộc. Đăk Lăk cái nôi của văn hóa Tây Nguyên nơi chứa đựng nhiều nét văn hóa dân gian truyền thống, những phong tục tập quán lễ hội. Có một nhà văn đã nói rằng hóa Tây Nguyên là văn hóa rừng và văn hóa làng. Còn người Tây Nguyên là một bộ phận của gia đình và buôn làng. Điều đó không chỉ được thể hiện bởi cuộc sống sinh hoạt của họ luôn gắn với cộng đồng mà còn thấy rõ qua kết cấu ngôi nhà mà họ sinh sống.

Dân tộc Ê đê – Cùng tìm hiểu nét văn hóa của người Ê đê ở Đắc lắc
Dân tộc Ê đê – Cùng tìm hiểu nét văn hóa của người Ê đê ở Đắc lắc

Nhà dài của người Ê Đê

Nếu như người Ba Na tự hào với những ngôi nhà rộng chọc trời thì người Ê Đê tại Đắk Lắk lại được biết đến với những chiếc nhà dài truyền thống. Từ bao đời nay, nơi đây đã đi vào truyền thuyết sử thi cũng như các câu chuyện cổ như là một phần của lịch sử, của văn hóa Tây Nguyên . Nhà dài không chỉ là biểu tượng vật chất của thể chế gia đình mẫu hệ mà còn là nơi giữ những giá trị văn hóa tinh thần của người ta Ê đê qua năm tháng.

Nhà dài của đồng bào Ê đê là một công trình văn hóa độc đáo, đó là sản phẩm tiêu biểu của tổ chức công xã thị tộc nhằm thích ứng với môi trường thiên nhiên, tránh thiên tai thú dữ và bảo vệ sự sống của các thành viên trong cộng đồng đồng, thời cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của đồng bào.  Nhà dài của người Ê đê là nhà sàn làm, làm bằng tre nữa và bằng gỗ mặt sàn và vách tường bao quanh nhà làm bằng thân cây bương hay thân cây tre già đập dập, mái lợp cỏ tranh.  Nhà dài Ê đê do một phụ nữ làm chủ phản ánh sự tồn tại của chế độ mẫu hệ.  Nhà dài của người dân tộc Ê đê có thể dài đến 100m bởi mỗi khi một thành viên nữ trong gia đình xây dựng gia thất nhà lại được nối dài thêm, đó là nơi cư trú của đại gia đình cho hàng chục người và thể hiện danh tiếng địa vị của gia đình đó trong cộng đồng . Điều thú vị là nếu bạn muốn biết gia đình nào có bao nhiêu con gái hãy nhìn vào cửa sổ. Nhà nào có bao nhiêu cửa sổ thì có bầy nhiêu con gái.  Cửa sổ nào đóng kín nghĩa là cô gái ấy chưa bắt chồng.  Còn cửa sổ nào mở rộng có nghĩa là cô gái ấy đã bắt chồng.

Đặc biệt là dài người Ê đê bao giờ cũng có hai cầu thang đực và cái.  Thang đực để dành cho những thành viên nam trong gia đình, thang cái dành cho những thành viên nữ và khách.  Bậc cầu thang từ đất liền đến sàn nhà luôn mang số lẻ.  Người Ê đê tin rằng số chẵn là số của ma quỷ, số lẻ mới là số của con người.  Trên cầu thang luôn được khắc đôi bầu vú mẹ tượng trưng cho chế độ mẫu hệ,  nó cũng là lời giáo dục dù ai đi đâu về leo lên sàn nhà, cũng phải nhớ tới người mẹ thân sinh ra mình.

Nhà Dài người dân tộc Ê đê ở Đăk Lăk
Nhà Dài người dân tộc Ê đê ở Đăk Lăk

Ngay trước cửa nhà dài, người Ê đê có thêm chiếc nồi thể hiện mong ước no đủ đến với gia chủ . Bước qua sân trước chúng ta sẽ vào không gian quan trọng nhất của ngôi nhà. Đây là nơi dùng để tiếp khách và sinh hoạt chung của đại gia đình.  Nhà càng sang thì ngăn khách càng to và hoành tráng.  Tại đây chúng ta có thể chiêm ngưỡng những đồ vật quý giá và tình thương của người Ê đê.  Như câu nêu, chén rượu, trống chiêng…

Người dân tộc Ê đê thường sử dụng kết cấu cột kèo bằng gỗ tốt để tạo sự chắc chắn cho mỗi nhà, trên đó có chạm trổ rất nhiều hoa văn hình mặt trăng, ngôi sao, ngà voi hay các động vật như rùa voi thằn lằn thể hiện tín ngưỡng đa thần sâu sắc. Nó cũng chứng tỏ trí tưởng tượng phong phú và sự gắn kết giữa con người Tây Nguyên với thiên nhiên. Phần tiếp  sau của nhà dài là không gian riêng cho các đôi vợ chồng nơi này được chia làm nhiều buồng nhỏ mà theo thứ tự thì  từ buồng thứ nhất cửa sau vào là của bà chủ nhà.

Cây nêu

Cây nêu của người Ê đê thường được dùng để buộc trái rượu và là mọt thành viên không thể thiếu trong những ngày diễn ra lễ hội.  Không chỉ có vậy cây nêu còn thể hiện những bước thăng trầm của cả một bộ tộc qua những họa tiết thể hiện trên cây nêu ta có thể thấy được sự ra đời và phát triển của cả tộc người. Truyền thuyết kể rằng, tổ tiên của người Ê đê là ở vùng biển nên trong tâm thức hay văn hóa sinh hoạt của người Êđê cũng có ảnh hưởng ít nhiều. Điều này không chỉ thể hiện qua hình dáng của ngôi nhà dài, mà còn hiện hữu ở ngay chiếc ghế Kpan.

Ghế Kpan

Chiếc ghế Kpan mô phỏng hình dáng của chiếc thuyền và được đẽo từ một thân cây gỗ quý. Chân và mặt ghế liền nhau, hơi con ở hai đầu. Thông thường ghế Kpan dài hơn chục mét.  Ghế Kpan chỉ dùng vào việc tiếp khách quý hoặc để các nghệ nhân nổi đánh chiêng trống trong những lễ hội cúng mừng của gia đình hay cộng đồng. Ghế Kpan là tài sản quý của những gia đình giàu và có vị thế của người Ê đê.

Cồng chiêng dân tộc Ê đê
Cồng chiêng dân tộc Ê đê

Cồng chiêng

Vai trò của Cồng Chiêng mang một sức mạnh to lớn ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống sinh hoạt của các thế hệ người Ê đê.  Tước đây gia đình nào ở Tây Nguyên cũng có cồng chiêng. Đồng bào Tây Nguyên coi cồng chiêng như là sức mạnh vật chất, sự giàu có của cá nhân, gia đình, dòng họ và buôn làng.  Cồng Chiêng là những tài sản quý giá của ông bà tổ tiên để lại, có những bộ cồng chiêng quý phải đổi vài chục con trâu, mấy con voi mới có được. Bởi vậy Chiêng là tài sản quý hiếm được lưu giữ và truyền từ đời này sang đời khác, ăn sâu vào đời sống tâm linh của người dân tộc Ê đê.

Họ tin rằng mỗi khi vang lên âm thanh của Cồng Chiêng có thể giúp con người thông tin trực tiếp đến các đấng thần linh, là chiếc cầu nối giữa các thành viên trong cộng đồng từ lúc cất tiếng khóc chào đời con người đã nghe tiếng chiêng trống. Khi lớn lên dựng vợ gả chồng tiếng chiêng lại rộn ràng trong ngày vui hạnh phúc. Và để có lời với tổ tiên thì cũng có tiếng chiêng, tiếng cồng. Cồng chiêng không được sử dụng một cách bừa bãi mà chỉ được sử dụng trong các nghi lễ, lễ hội của gia đình và buôn làng cho những dịp tiếp khách quý.  theo quan niệm tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thì tiếng chiêng cũng có hồn. Do đó con người phải tôn trọng quý mến thờ cúng thần chiêu, thì thần chiêng  mới cho âm thanh hay trong trẻo và giúp cho con người giày sang, khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc.

Ngoài cồng chiêng, người Ê đê còn có một loại nhạc cụ khác đó là chiếc khèn.Được chế tạo từ quả bầu khô và 6 chiếc ống nữa. Khèn dành nam giới sử dụng trong dịp lễ tế, lễ hội của buôn làng, trong những dịp đón khách quý. Ngày thường thanh niên Ê đê cũng rất ưa chuộng tiếng đàn. Họ hay thổi với nhau khi lên nương, đi rẫy, hoặc đệm trong các bài hát truyền thống.

Trong hệ thống các nhạc cụ của người dân tộc Ê đê, thì bộ chiêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh. Trong tiềm thức của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thì Giàng là một vị thần rất linh thiêng cao quý, luôn phù hộ, che trở , bảo vệ cho dân làng. Vì thế đồng bào tuyệt đối tin tưởng và thường xuyên cúng tế. Những vật dụng sử dụng cho việc cúng tế Giàng cũng rất phong phú.

Người Ê đê ở Đắk Lắc có đời sống vật chất và tinh thần rất đặc sắc. Chính những giá trị văn hóa truyền thống của người Ê đê đã tạo nên những nét đặc trưng văn hóa của vùng đất Tây Nguyên, tạo nên nét khác biệt trong văn hóa so với các vùng văn hóa khác. Những nét văn hóa phong phú và đa dạng của người dân tộc Ê đê đã thực sự đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam những tri thức văn hóa lịch sử quý giá.