Miếng trầu là đầu câu chuyện

Trong phong tục Việt Nam có câu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. miếng trầu tuy không có nhiều giá trị vật chất nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không “ăn trầu cách mặt”, nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp.

Tiện đây ăn một miếng trầu

Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là

Quý nhau mời trầu, ghét nhau theo phép lịch sự cũng mời nhau ăn trầu, nhưng: “Cau sáu bổ ra thành mười”.

Miếng trầu là đầu câu chuyện
Miếng trầu là đầu câu chuyện

Đặc biệt “Miếng trầu là đầu câu chuyện” giao duyên giữa đôi trai gái:

“Lân la điếu thuốc miếng trầu, đường ăn ở dễ chiều lòng bạn lứa”.

Trầu vàng nhá lẫn trầu xanh

Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

Mời trầu không ăn thì trách móc nhau:

Đi đâu cho đổ mồ hôi

Chiếu trải không ngồi trầu để không ăn

Thưa rằng bác mẹ tôi răn

Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Khi đã quen hơi bén tiếng, trai gái cũng mượn miếng trầu để tỏ tình, đặc biệt là các chàng trai nhờ miếng trầu mà tán tỉnh:

Từ ngày ăn phải miếng trầu

Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu

Một thương, hai nhớ, ba sầu

Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi

“Có trầu, có vỏ, không vôi” thì môi không thể nào đỏ được chẳng khác gì “có chăn, có chiếu không người nằm chung”.

Cho anh một miếng trầu vàng

Mai sau a trả cho nàng đôi mâm

Yêu nhau chẳng lấy được nhau

Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già

Miếng trầu không đắt đỏ gì: “Ba đồng một mớ trầu cay” nhưng “Miếng trầu nên dâu nhà người”.

Xem thêm:  Phong tục cưới hỏi của người Việt

Ngày nay để răng trắng nhiều người không biết ăn trầu nữa, đặc biệt là ở thành phố. Nhưng theo tục lệ nhà ai có con gái gả chồng, sau khi ăn hỏi xong cũng đem cau trầu cau biếu hàng xóm và bà con nội ngoại. Vì miếng trầu là tục lệ, là tình cảm nên ăn được hay không cũng chẳng ai chối từ.

Thời xưa, ăn trầu còn sợ bị bỏ “bùa mê”,’“bùa yêu” nên người ta có thói quen:

Ăn trầu thì mở trầu ra

Một là thuốc độc hai là mặn vôi

Các cụ càng già càng nghiện trầu, nhưng không còn răng nên “Đi đâu chỉ những cối cùng chày” (Nguyễn Khuyến). Cối chày giã trầu làm bằng đồng, chỉ bỏ vừa miếng cau, miếng trầu, miếng vỏ nhưng trạm trổ rất công phu. Ngày nay không còn thấy có trên thị trường.

Vì trầu cau là “đầu trò tiếp khách”, lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến dùng trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng… nên têm trầu cũng đòi hỏi phải có mỹ thuật, đặc biệt là lễ cưới có trầu têm cánh phượng, có cau vỏ trổ hoa, “cau già dao sắc” thì ngon. Bày trầu trên đĩa, hạt cau phải sóng hàng, trầu vào giữa, đĩa trầu bày 5 miếng hoặc 10 miếng, khi đưa mời khách phải bưng hai tay. Tế gia tiên thì trầu têm, còn tế lễ thiên thần thì phải 3 là trầu phết một chút vôi trên ngọn lá và quả cau để nguyên.

Tục “cạy cửa ngủ thăm” của người Dao Tiền – Phú Thọ

Trên đất nước Việt Nam của chúng ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống. Mỗi dân tộc đều có những phong tục, tập quán mang những nét độc đáo, đặc sắc rất riêng. Bạn đã từng nghe nói đến lễ bỏ mả (ở Tây Nguyên), Chợ tình (ở Khau Vai – Hà Giang), Cướp vợ ( người Mông),  Dưới đây giới thiệu một phong tục rất đặc trưng của người Dao Tiền ở vùng núi Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: tục “Cạy cửa ngủ thăm”.

Bản Cỏi, xã Xuân Sơn thuộc huyện vùng cao Thanh Sơn – tỉnh Phú Thọ, nằm tựa lưng vào núi. Một bên giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình), phía bên kia giáp với huyện Phù Yên (Sơn La). Bản Cỏi được bao quanh bởi suối và núi non hùng vĩ. Nơi đây tập trung các dân tộc Dao, Mường sinh sống, cả bản có 66 hộ dân với 350 nhân khẩu.

Theo sự giải thích của người dân nơi đây, “ngủ thăm” có nghĩa là con trai, con gái đến tuổi trưởng thành đều có thể “Cạy cửa ngủ thăm” nhà nhau. Tuy nhiên, theo phong tục và quy định riêng của người Dao và người Mường từ bao đời nay, chỉ có con trai người Mường mới được lấy vợ người Dao, còn con trai người Dao không được lấy gái Mường.

Các cô gái đên tuổi trưởng thành, ban ngày đi làm các công việc đồng áng, tối đến đốt một ngọn đèn, buông màn sớm và nằm trong đó. Các chàng trai có nhu cầu tìm hiểu người con gáj mình sẽ lấy làm vợ, có thể tìm đến để “ngủ thăm”. Nếu đèn 1 trong buồng cô gái còn sáng, nghĩa là chưa có ai đến ngủ thăm chàng trai phải tự cạy cửa để vào nhà. Chàng trai có thể nằm xuống bên cạnh cô gái, cô gái sẽ tắt hoặc vặn nhỏ ngọn đèn. Hai người chỉ trò chuyện, tâm sự mà không được chạm vào người nhau. Sau một thời gian tìm hiểu, cô gái có quyền quyết định cho chàng trai đó “ngủ thật” hay không. Nhưng trước khi đi đến “ngủ thật”, cả hai đều phải thưa với bố mẹ để bố mẹ xem có hợp tuổi không. Nếu hợp tuổi, hai bên gia đình sẽ cho phép đôi bạn trẻ ngủ thật với nhau.

Tục "cạy cửa ngủ thăm" của người Dao Tiền - Phú Thọ
Tục “cạy cửa ngủ thăm” của người Dao Tiền – Phú Thọ

Khi thời gian ngủ thật bắt đầu cũng là lúc chàng trai phải đến làm công cho gia đình cô gái. Chàng trai cứ ngày đi làm cùng gia đình, tối về ngủ với cô gái mình có ý định tìm hiểu. Trong thời gian này, chàng trai không được về nhà mình, muốn về phải được gia đình cô gái cho phép. Nếu cô gái không thích chàng trai nữa thì cô gái sẽ gói quần áo cùng với một gói cơm nắm cho vào địu và bảo với chàng trai rằng: “Anh cứ về thôi!”, như thế có nghĩa là cô gái đã từ chối. Hoặc cũng có khi cô gái bảo: “Hôm qua, em nằm mơ thấy ác mộng”, đó cũng là một cách từ chối.

Xem thêm: Lễ cưới hỏi của người Dao – Điện Biên

Nếu bạn là người Kinh, bạn vẫn có thể “ngủ thăm” ở bất kỳ nhà một cô gái nào bạn thích, miễn là cô gái ấy chưa có ai đến “ngủ thật” và phải nhớ là bạn không được làm một điều gì “thiếu trong sạch” khi muốn thử cái phong tục diễm tình nguyên sơ rất độc đáo này. Cũng có khi gặp phải trường hợp cô gái để cho hai người con trai đến ngủ thăm nằm ở hai bên mình. Phong tục của họ cho phép như thế! Trong trường hợp này, cả hai chàng trai cùng tâm sự với cô gái, ai nói giỏi hơn thì người đó thắng.

Cho đến thời điểm này, các hãng lữ hàng vẫn chưa có Tour đưa khách đến Bản cỏi. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều du khách tìm đến đây để khám phá thiên nhiên hoang sơ, những phong tục tập quán độc đáo và đặc sắc “có một không hai” này. Để đến được Bản Cỏi,bạn có thể mua vé xe tuyến Hà Nội — Thanh Sơn (Phú Thọ) ở bến xe Kim Mã đến thị trấn huyện Thanh Sơn. Tại chợ thị trấn Thanh Sơn có rất nhiều mặt hàng của đồng bào các dân tộc quanh vùng mang đến bán hoặc trao đổi hàng hoá như thổ cẩm, đề lưu niệm, hàng tiêu dùng, đặc biệt là các loại thuốc nam. Giá nhà nghỉ ở đây, Ịà: 25 – 50 ngàn đồng/phòng giường đôi; nhà trọ: 5 – 10 ngàn đồng/người. Trung tâm thị trấn cũng có nhiều điểm vui chơi với giá cả rất rẻ và người dân ở đây rất thật thà và mến khách.

Từ thị trấn Thanh Sơn, bạn có thể thuê xe ôm đến Bản Cỏi, khoảng 50 – 70 ngàn đồng/xe 2 người cho quãng đường đồi núi, gập ghềnh.

Tục cướp vợ của người Mông

Người Mông có tục cướp con gái về làm vợ. Khi người con trai quen biết một người con gái và muốn cô gái đó làm vợ, họ sẽ đi cướp cô gái về nhà. Để cướp được cô gái về nhà, người con trai phải chiêu đãi, mời rượu một số người bạn cùng lứa tuổi để họ đi cướp giúp.

Tục cướp vợ của người Mông
Tục cướp vợ của người Mông

Chàng trai và bạn bè của anh có thể tìm cô gái ở chợ, ở đêm chơi trăng hay lúc đi làm nương. Khi đã cướp được cô gái về nhà, chàng trai lại phải mời rượu bạn để cảm ơn. Chàng trai sẽ phải nhờ chị gái của mình (hoặc em gái) trông không cho cô gái trốn khỏi nhà mình. Chị gái của chàng trai sẽ có mặt bên cô gái được cướp về suốt cả ba ngày đêm. Khi đã cướp cô gái về nhà mình được một ngày, bố mẹ chàng trai sẽ nhờ một người đàn ông, gia đình phúc lộc đi làm mối cho con mình. Người làm mối (tua lểnh xa) còn được coi là bố mới (xí xi xu) của chàng trai nếu như đôi bạn trẻ nên vợ nên chồng. Người mối này sẽ để 11 rượu vào sừng trâu chở đi đến nhà gái với mục đích hỏi xem gia đình bên nhà gái cần những gì cho việc cưới của con. Khi người mối đến nhà không được đi vào gian giữa mà phải vào cửa phụ và ngồi ở bếp lò. Ông mối sẽ mời mọi người uống rượu đã mang sẵn từ nhà đến. Chỉ cần những cử chỉ như vậy là bố mẹ nhà gái biết được họ hỏi lấy con gái mình.

Xem thêm:

Hát trao dâu trong đám cưới người Giáy

Lễ cưới hỏi của người Dao – Điện Biên

Nhà gái đi mời một người đàn ông phúc phận tốt để thay mặt nhà gái thách cưới cho khách quan Ông mối này có quyền thách những thứ cần thiết, số lượng phù hợp như những đám cưới khác. Hai ông mối này còn mang tính chất là hai người làm chứng của hai gia đình. Nếu đôi trái gái ưng thuận lấy nhau thì lễ vật nhà trai đem đến phải đầy như ông mối của nhà gái thách cưới, không được thiếu một thứ gì. Từ lúc cướp được cô gái về đến lúc cưới trong vòng 3 tháng Đây là thời gian cần thiết để nhà trai chuẩn bị những thứ cần thiết cho lễ cưới. Nếu sau 3 ngày kể từ ngày cướp cô gái về, cô gái không đồng ý làm vợ chàng trai thì xin phép nhà trai cho hai bát rượu – cô gái sẽ bưng mời chàng trai một bát và uống cạn một bát, cảm ơn chàng trai đã yêu thương đến mình, đồng thời cô gái cũng nói lên điều trân trọng của mình với chàng trai đó và xin chỉ làm bạn. Trong trường hợp này, chàng trai sẽ nài nỉ và nói nên tâm tình của mình. Nếu cô gái thay đổi thì họ sẽ lấy nhau. Nếu cô gái không thay đổi thì cả hai bên cùng uống cạn bát rượu và cô gái xin phép ra về. Trong trường hợp cô gái đồng ý làm vợ thì tâm sự với người chị gái của chàng trai. Sau đó người chị gái sẽ nói với chàng trai và gia đình chuẩn bị những thứ cần thiết cho những việc tiếp theo. (Chị gái của chàng trai ở với cô gái không chỉ để trông nom, giúp đỡ mà còn thuyết phục cô gái đồng ý làm vợ em trai mình). Sau 3 ngày, để chuẩn bị đám cưới, nhà trai làm bánh dầy để cho em trai và em gái đưa vợ chưa cưới của chàng trai về nhà mẹ đẻ. Cô gái về nhà để báo với bố mẹ mình là đồng ý làm vợ chàng trai và xin phép bố mẹ để sang bên đó ở. Cô gái đem theo quần áo, đồ thêu của mình sang nhà trai ở. Thời gian ở bên nhà trai trước khi cưới 3 tháng cô gái đi lại cả hai bên và làm việc thêu thùa chuẩn bị cho ngày cưới. Sau 3 tháng ở nhà trai để làm quen với sinh hoạt nhà chồng và chuẩn bị xong trang phục cưới, nhà trai cũng chuản bị xong lễ cưới. Họ đưa cô gái về nhà bố mẹ đẻ và xin phép ngày tổ chức cưới. Lễ cưới được tổ chức tại nhà gái trong vòng 1 ngày đêm. Trong đám cưới diễn ra các cuộc mời rượu, hát đối giữa các thanh niên nam nữ của hai họ. Trước khi về ở hẳn nhà chồng, cô gái sẽ phải thắp hương cúng tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma cột cái… các ma tốt trong gia đình để bái về việc con gái đi ở với chồng. Khi về nhà chồng, chỉ tổ chức mâm cơm trong nội tộc và cúng tổ tiên gia đình nhà trai là xong lễ cưới. Cô dâu sẽ ở nhà chồng chính thức từ đây. Người Mông quan niệm về hôn nhân không khắt khe như các dân tộc khác. Anh em trong vòng ba đời nội tộc có thể lấy được nhau hoặc con dà, con dì cũng có thể lấy được nhau. Đây là kiểu quan niệm về hôn nhân khép kín từ xa xưa để lại nhằm bảo vệ một cách tuyệt đối về tài sản của họ cho con cháu.

Hát trao dâu trong đám cưới người Giáy

Trong đám cưới người Giáy, trao dâu là nghi thức quan trọng khi nhà gái đi đưa dâu đến nhà trai và đã đến lúc chuẩn bị ra vể Các bài hát trao dâu nói lên tình cảm của cha mẹ, anh chị em họ hàng đối với cô dâu khi về nhà chồng.

Đám cưới (Cưn láu) là một trong những ngày hội vui nhất của người Giáy. Họ quan niệm, đám cưới càng lớn, càng đông vui thì hạnh phúc của đôi trai gái càng được bền lâu và thiêng liêng hơn. Và trong các đám cưới của người Giáy thường bao giờ cũng có các cuộc hát đối đáp giữa trai gái của bản làng này với trai gái của bản làng khác đến dự đám cưới. Các cuộc hát đối đáp này thường được bắt đầu vào chập tối và có khi kéo dài đến tận ngày hôm sau, đêm hôm sau. Ngoài ra trong các nghi thức lễ cưới đều có kèm theo các bài hát như hát đón dâu, hát đưa dâu, hát rửa mặt, hát trước mâm trước rượu, hát đạo lý, hát khuyên răn, hát cám ơn.

Hát trao dâu trong đám cưới người Giáy
Hát trao dâu trong đám cưới người Giáy

Trong đám cưới của người Giáy, trao dâu là nghi thức quan trọng khi nhà gái đi đưa dâu đến nhà trai và đã đến lúc chuẩn bị ra về. Khi đó, những bài hát trao đâu là không thể thiếu trong nghi thức này. Nội dung của các bài hát trao dâu nói lên tình cảm của cha mẹ, anh chị em, họ hàng đối với cô dâu khi về nhà chồng.

Xem thêm:

Lễ cưới hỏi của người Dao – Điện Biên

Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ

Đối với những giờ nhà gái ra về khác nhau, người Giáy đều có những bài hát tương ứng. Ví như trong trường hợp nhà gái ra về vào giờ sửu thì sẽ hát:

Giờ sửu là giờ con trâu

Bốn chân đỡ bồ thóc

Đó mới là giờ tốt

Con xuất giá theo chồng

Đó cũng là những lời dặn dò, khuyên răn cô dâu khi về sống gia đình nhà chồng:

Đêm thì nên thức khuy

Sáng thì nên dạy sớm

Hãy dậy trước mọi người

Người Giáy quan niệm làm dâu là một việc khó. Chính vì thế, các lời hát trong nghi thức trao dâu thực chất là những lời tâm sự, dạy bảo chân thành của mọi người đối với cô dâu. Những lời dạy bảo này sẽ giúp cô dâu ứng xử tốt hơn với họ hàng nhà chồng, nhất là bố mẹ và anh em của chú rể:

Miếng nạc gắp cho cha mẹ

Miếng ngon lấy cho cha

Miếng mềm dành cho em

Hát trao dâu trong đám cưới người Giáy là một phong tục đẹp, vẫn được duy trì đến ngày nay. Những lời hát cũng được bổ sung ngày càng phong phú, thiết thực hơn đối với những cô dâu trẻ khi bước chân về nhà chồng.

Lễ cưới hỏi của người Dao – Điện Biên

(Lễ cưới hỏi của người Dao )Ở tỉnh Điện Biên, dân tộc Dao (hay có nơi còn phiên âm là Dạo) sống nhiều tại địa bàn huyện Tủa Chùa, gồm 2 loại: Dao tiền và Dao quần chẹt (chặt). Nhà ở của người Dao làm theo kiểu nhà sàn hoặc nhà trệt, nhưng phổ biến nhất là kiểu nhà nửa sàn nửa trệt, nơi có sàn sẽ làm chỗ ngủ với quan niệm cách rời mặt đất sạch sẽ, thoáng mát có lợi cho sức khỏe. Ngày xưa, theo truyền thống bố mẹ chọn vợ, gả chồng cho con cái không như bây giờ thanh niên nam, nữ Dao được tự do tìm hiểu, lựa chọn bạn đời. Một phong tục độc đáo của người Dao là khi không có con trai thừa kế họ sẽ chọn người con rể lấy con gái đầu thay thế và được thừa hưởng tài sản, quyền lợi bình đẳng với những người con khác. Lễ vật khi đi hỏi vợ của chàng trai Dao bao gồm: 2 bi (điếu) thuốc lào, 1 đồng bạc, 2 đồng xu và 2 hào bạc. Trong truyền thống giao tiếp của người Dao, thuốc lào là thứ bắt buộc phải có, mở đầu cho cuộc nói chuyện, lời cảm ơn, xin lỗi, nhờ vả (tương tự như miếng trầu của người Kinh – “Miếng trầu là đầu câu chuyện”). Trong lễ ăn hỏi, thuốc lào là lễ vật dành cho bố mẹ vợ. Khi bố mẹ cô gái đã nhận bi thuốc lào nghĩa là đã đồng ý chấp nhận chàng trai tìm hiểu con gái mình.

Chàng trai sẽ đưa tiếp 2 đồng xu, 2 hào bạc để hỏi tên cô gái cũng như giới thiệu về bản thân. Trước đây, khi diễn ra lễ ăn hỏi người Dao chia thành 3 mức giá tùy thuộc vào cấp độ giàu nghèo của nhà gái để thách cưới nhà trai: nhà giàu tương ứng với 42 lạng bạc (cân tiểu ly); trung bình: 31 lạng; nghèo: 24 lạng. Mỗi mức giá cũng tương đương với giá trị của hồi môn do nhà gái cho cô dâu mang về nhà chồng.

Kết quả hình ảnh cho cưới hỏi của người dao

Ngày cưới nhà trai phải nhờ những người làm mối dắt theo một con lợn 60kg sang nhà gái. Tuy vậy cũng không bắt buộc phải đủ trọng lượng 60kg, mà có thể thừa hoặc thiếu nhà gái cũng không bắt phạt nhưng không được quá 5kg. Đoàn người mối có 8 người: 5 nam, 3 nữ, trong đó gồm: chủ hôn, người đối rượu, người đổì hát và 2 người giúp việc. Trong đoàn người mối bắt buộc phải có 2 cô gái trẻ (chưa chồng). Những người còn lại phải đã lập gia đình và hơn tuổi cô dâu chú rể. Trong lễ cưới người Dao, vui nhất là phần hát đối, hát ví giữa nhà trai và nhà gái. Họ nhà gái sẽ hát trước ví von cô gái như một công chúa cành vàng lá ngọc, nhà trai đến đây có việc gì phải xin phép những vệ sĩ bảo vệ bên ngoài để được gặp cha mẹ cô gái… Đại diện nhà trai khi ấy sẽ hát trả lời rằng: Chàng trai là một người tài giỏi, khôn ngoan, lên rừng, xuống suối làm ăn đều thông thạo đã nhờ mối tìm hiểu cô gái và được cha mẹ cô gái chấp thuận, hôm nay đến xin phép đón về nhà làm dâu. Cuộc thi hát đổi sẽ diễn ra sôi nổi trong suốt ngày cưới. Người hát đối bên nhà trai không được thua, người đối rượu cũng không được kém người mời rượu bên nhà gái. Một phần sôi động không kém thi hát đôi là khi nhà trai đón dâu về, bà con dân bản sẽ dùng những ống nứa nhỏ cắt bỏ 2 đầu, vót que tre làm lõi thông bên trong gọi là tùng băng (nghĩa là súng băng) sau đó lấy giấy thấm nước vo viên lại nhét vào làm đạn để bắn vào họ nhà trai. Mặc dù những viên đạn giấy khiến cho mình mẩy đau rát nhưng người Dao quan niệm rằng như vậy đôi trai gái mới sống vui vẻ, hòa thuận hạnh phúc đến đầu bạc răng long.

Tục Juê Nuê trong hôn nhân của người Ê Đê

Tục Juê nuê là một luật tục cổ truyền, tồn tại đã khá lâu và bền vững trong hôn nhân của người Ê đê. Nét nổi bật trong quy 9 tắc hôn nhân của đồng bào được quy định cho từng trường hợp với 9 điều luật và được bảo vệ nghiêm ngặt trong hôn nhân truyền thống (từ điều 97 đến điều 103 về Luật hôn nhân và gia đình).

Đây là một kiểu tập quán hôn nhân (quy định cho chị em vợ và anh em chồng) có truyền thống từ xa xưa. Luật tục quy định rõ: “Rầm sàn gẫy thì phải thay, giát sàn nát thì phải thế, chết người này phải nối bằng người khác”. Bởi đồng bào sợ rằng: “Gia đình sẽ tan tác ngoài nương rẫy, dòng họ sẽ kiệt quệ, giống nòi sẽ khô kiệt như những dòng suối cạn nước, kẻo tuyệt nòi không còn con cháu nữa”. Vì vậy, trong trường hợp chồng chết, người phụ nữ có quyền “đòi hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng mình. Ngược lại, nếu người vợ chết, chồng người phụ nữ ấy có thể lấy em gái vợ (em ruột hoặc em họ của vợ) để nối nòi. Ngoài ra, tục Juê nuê này còn vượt ra ngoài cả phạm vi kiểu hôn nhân anh em chồng hoặc chị em vợ (người trong dòng họ vợ hoặc chồng để làm nuê).

Tục Juê Nuê trong hôn nhân của người Ê Đê
Tục Juê Nuê trong hôn nhân của người Ê Đê

Người E đê luôn xem gia đình là một hrú mđao (tổ ấm), nơi để cho ông bà cha mẹ và con cái cùng chia vui, xẻ buồn. Trong đó bố mẹ là nguồn sống, là hơi ấm, là nơi nương tựa của trẻ. Việc tìm cho những đứa trẻ bất hạnh ấy một người kế để thay thế người qua đời nuôi dạy chúng là điều cần thiết. Hơn nữa tục Juê nue không những tìm mẹ (hoặc cha) làm chỗ dựa tinh thần cho những đứa trẻ bất hạnh, tìm bạn đời cho người còn lại mà người này có nhiệm vụ thay người xấu số chăm sóc con cái, quản lý tài sản, đất đai (nếu có) và duy trì gia đình như nó vốn có. Đồng thời, vẫn tiếp tục giữ mối quan hệ thân tình, bền vững mà hai gia đình đã tạo dựng từ trước đến nay. Trong thực tế, đa số những người vợ (hoặc chồng) nuê ấy đứng ra thay người đã khuất để đảm nhiệm vai trò nuê này một cách tự nguyện.

Xem thêm:

Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ

Nghi thức cưới của người Lô Lô

Tục Juê nuê được xem như là một luật tục bình thường, hiển nhiên và được cộng đồng thực hiện một cách tự nguyện như mọi luật tục khác trong hôn nhân truyền thông từ bao đời nay. Trường hợp người nuê chênh lệch quá nhiều về tuổi tác thì họ chỉ là vợ chồng trên danh nghĩa. Trường hợp này cũng đã được luật tục điều chỉnh và quy định rõ ràng: “Nếu người goá đã đứng tuổi mà người thay thế còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu làm vợ (chồng), thì người goá phải có trách nhiệm nuôi nấng, dạy bảo nuê như một đứa trẻ bình thường khác” (điều 99, điều 100, điều 101 trong Luật tục hôn nhân và gia đình). Luật đã quy định người góa phải: “Biết che chở, chờ đợi nuê, đến một lúc nào đó nuê sẽ làm được nhiệm vụ nối tiếp giống nòi”. Như vậy, tùy theo từng trường hợp, mỗi một trường hợp khác nhau luật tục có những quy định khác nhau về việc Juê nuê (trường hợp vợ nuê, chồng nuê quá nhỏ, hoặc người còn lại đã quá già yếu thì phải tìm một người tương xứng với nuê để thay thế mình làm chồng (hoặc vợ) nuê. Nếu ai vi phạm những điều đã quy định trên thì coi như đã vi phạm luật tục).

Việc duy trì và bảo vệ gia đình mẫu hệ không chỉ biểu hiện ở tục Juê nuê mà còn thể hiện trong quan hệ giữa các chị em gái ruột và con cái của họ nữa. Trong tộc mẹ, những người phụ nữ luôn luôn xem những đứa con của các chị em gái ruột hoặc chị em gái họ như con đẻ. Không những thế họ còn nuôi nấng, yêu thương và chăm sóc nó như chính con đẻ của mình. Những người phụ nữ được sinh ra cùng một mẹ hoặc một bà không chỉ gọi con mình là con (dam: con trai, con gái: anak mà họ gọi cả những đứa con trai con gái của chị em gái mình cũng là anak (con). Tương tự như vậy, những người đàn ông cũng gọi con trai và con gái của anh em trai mình là anak. Những đứa con của chị em gái không chỉ gọi mẹ mình là amí (mẹ), mà còn gọi chị của mẹ mình là amí próng (mẹ lớn), em gái của mẹ là amí mneh và dì út thường được gọi là amí điêt hoặc amí mda (mẹ nhỏ, mẹ trẻ). Những đứa trẻ cùng bà ngoại (con của các chị em gái cùng một mẹ) đều coi nhau như anh em một mẹ. Như vậy, việc người phụ nữ trong dòng họ cửa vợ chấp nhận làm vợ nuê không những xuất phát từ tình yêu thương với người góa kia, mà còn có trách nhiệm và tình thương đối với những đứa trẻ bất hạnh. Theo đồng bào, làm như vậy không những làm đẹp lòng Yang mà còn mang lại hạnh phúe cho những đứa trẻ bất hạnh, cho dòng họ và đây cũng là một trong những quy định để bảo vệ gia đình mẫu hệ.

Trong văn học dân gian Ê đê, vấn đề Juê nuê được phản ánh khá phong phú. Điều này được nghệ nhân dân gian thể hiện rõ nhất trong khan – sử thi (khan Đam Săn, khan Khinh một thể loại văn học có giá trị vô cùng to lớn trong nền văn hóa dân gian Việt Nam.

Trong sử thi khan Đam Săn, anh hùng Đam Săn và H’Ji là đôi vợ chồng nuê. Phần đầu của khan Đam Săn, khi bà H’Bia Klu chết, dòng họ bên HJí thay thế bà bằng cháu cho ông Mtao Kla, HJí còn nhỏ chưa thực hiện được việc kê tiếp giống nòi, ông Mtao Kla đã chăm sóc H”Jí như những đứa cháu khác. Khi người vợ nuê này của ông Mtao Kia thành thiếu nữ thì cũng là lúc ông mắt đã mờ tóc bạc, như tàu lá đã héo hon, không mong gì rồi đây ông còn lấy cháu ông được. Khi nương đã cằn, rẫy đã cỗi, khi cây đã đổ, gỗ đã mục, khi ông đã già và ông không còn có thể làm chồng nàng H’Jí được nữa, nên ông đã chọn Đam Săn thay thế mình làm chồng H’Jí. Việc ông Mtao Kla chăm sóc HJí lúc nhỏ tuổi không những là trách nhiệm của một người chồng đối với người vợ nuê nhỏ tuổi như luật tục đã quy định, mà còn thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của một người đàn ông với vai trò là ông- là người thân trong gia đình đối với đứa trẻ đang còn dưới tuổi vị thành niên.

Như vậy, tục Juê nuê không những tìm lại sự trọn vẹn của gia đình mẫu hệ, tạo điều kiện cho con trẻ không bị khủng hoảng về tình cảm, tâm lý, mà còn bảo vệ của cải vật chất, bảo vệ gia đình mẫu hệ. Theo họ, có như vậy thì gia đình mới không bị đứt dây, người còn lại không bị lẻ đôi đơn chiếc. Điều này, nếu xét trên bình diện xã hội học thì luật tục Juê nuê chưa hẳn là một luật tục lạc hậu, ấu trĩ mà nó mang tính nhân văn rất cao trong việc bảo vệ sự bền vững trong hôn nhân, đồng thời bảo vệ quyền lợi bên dòng mẹ, cũng có nghĩa bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ – những người thường phải chịu thiệt thời nhiều hơn nam giới trong xã hội.

Hiện nay trong hôn nhân của ngựời Ê đê, tục Juê nuê vẫn còn tồn tại và vẫn được bà con áp dụng ở mức độ đậm nhạt khác nhau. Tuy nhiên, việc chấp nhận làm vợ hoặc chồng nuê đều được thực hiện một cách tự nguyện, không ép buộc. Có thể nói Luật hôn nhân – gia đình nói chung và tục Juê nuê nói riêng gắn với sự bảo vệ và duy trì gia đình mẫu hệ, trong đó cơ chế tâm linh đã chi phối các thành viên trong cộng đồng Ê đê gắn bó, ràng buộc với nhau thông qua hôn nhân. Và sự gắn bó này vẫn dựa trên nguyên tắc một vợ một chồng, tôn trọng, dân chủ, tự nguyện, yêu thương và bình đẳng.

Chú thích:

  • Juê nuê: Có nghĩa là nốí, nuê: một từ dùng để gọi người vợ hoặc chồng được thay thế.
  • Juê nuê đã được quy định theo luật tục và được mọi người chấp nhận. Thường trước khi di quan một ngày, người ta phải thông qua ý kiến này trước dòng họ, bà con hai họ. Còn việc được chấp nhận hay không và sẽ chấp nhận với đối tượng nào, điều đó lại phụ thuộc vào người goá ấy. Dĩ nhiên người goá phải thật sự xứng đáng là người vợ, người mẹ (người chồng, người cha) của những đứa trẻ kia thì dòng họ mới tìm cho một người nuê.

Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ

Lên vùng cao phía Bắc, thăm bà con dân tộc La Hủ thuộc tỉnh Lai Châu, bạn sẽ thấy tục lệ cưới xin ở đây có nét đẹp riêng. Tháng 11-12 hàng năm là dịp Tết của người La Hủ cũng là mùa cưới của các đôi trai gái yêu nhau. Chàng trai tìm hiểu cô gái, đã tới độ “chín muồi”, anh có thể tới nhà cô gái ngủ một vài tối. Tục lệ cho phép anh, chị có thể ngủ chung giường.

Lễ na-nhí, tức lễ dạm hỏi như vùng xuôi, thường vào buổi tối. Ông “mối” cùng bố mẹ và anh em nhà trai sang nhà gái để “có lòi”. Lễ vật là rượu và một thứ “quà quý” của rừng (“quà quý” này nhất thiết phải có thịt sóc rừng). Qua trò chuyện, nhà gái thấy bằng lòng thì hai bên cùng uống rượu, nhắm thịt sóc.

Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ
Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ

Sau lễ dạm là lễ hỏi. Hai lễ này cách nhau khoảng 7 – 7 ngày. Theo tục lệ, lễ hỏi gồm hai chai rượu và số con sóc phải là số chẵn chứ không được số lẻ, chừng 6 hoặc 8 con. Nhà trai phải “tuân theo” số lượng con sóc của nhà gái: 6 hoặc 8 con, vì theo lệ từ xưa, số sóc không được ít hơn 4 nhưng cũng không được nhiều hơn 8. Người làm mối trong lễ hỏi còn là người “đầu bếp”, tự tay làm thịt sóc, bày biện các món ăn này sao cho ngon để mời nhà gái.

Xem thêm:

Nghi thức cưới của người Lô Lô

Nghi thức hôn lễ của người Chăm – An Giang

Trong khi ăn uống vui vẻ, hai bên trao đổi về tiền cưới và thời gian ở rể. Ngày xưa, tiền cưới khá “nặng túi”: 70 – 80 đồng bạc trắng. Trường hợp nhà rể nghèo, không có bạc trắng, thì anh phải ở lại làm rể ngay tối hôm đó. Thời gian ở rể bây giờ rút xuống còn từ 2 – 4 năm, thời trước từ 8 – 12 năm.

Nếu lễ ăn hỏi có số con sóc phải chẵn, thì lễ cưới quy định: đoàn đi đón dâu phải là số lẻ, trong đó có hai ông “mối” và chàng rể. Khi nhà trai đón dâu đi, ông “mối” trao tiền cưới cho nhà gái. Trên đường đi, dù có nhớ bố mẹ, cô dâu cũng không được ngoảnh lại nhìn ngôi nhà cô sinh ra và lớn lên. Vì nếu vấp ngã, e sau này vợ chồng có chuyện cãi cọ không hay.

Rước dâu về đến nhà, bà mẹ chồng đã đứng đợi ở cửa. Bà lấy một nắm gạo xoa lên lưng con dâu, ngụ ý “xóa hết cỏ để con dâu không mang cỏ về, trên nương sẽ không có nhiều cỏ mọc”. Ngoài ra còn có tục lệ: Bà mẹ chồng trồng hai cây riềng ở hai bên cửa vào nhà, rồi buộc sợi chỉ trắng qua hai cây riềng. Lúc vào nhà, cô dâu đi phía tay trái, chú rể đi phía tay phải, rồi chú rể dùng tay trái cô dâu dùng tay phải “cắt” đứt sợi chỉ đó, bước vào nhà. Xong thủ tục này hai họ cùng nâng chén chúc những câu tốt lành và ăn uống vui vẻ.

Nghi thức cưới của người Lô Lô

Cũng giống như các dân tộc khác, với người Lô Lô, việc cưới hỏi là một sự kiện vô cùng trọng đại. Theo tập quán cổ truyền, nhà trai phải nhờ bốn người làm mối, gồm: hai nam, hai nữ, tốt nhất là được hai cặp vợ chồng song toàn. Chọn được ngày tốt, những người làm mối này mang hai chai rượu và lễ vật đến dạm hỏi. Nếu nhà gái đồng ý thì làm cỗ và dùng hai chai rượu đó uống rượu và bàn định ngày cưới. Đồ thách cưới bao gồm: gạo nếp, gạo tẻ, thịt lợn, rượu đế dùng cho tiệc cưới. Ngoài ra còn có váy, áo vòng tay, vòng cổ cho cô dâu, thậm chí còn thách cả bạc trắng để làm của hồi môn.

Nghi thức cưới của người Lô Lô
Nghi thức cưới của người Lô Lô

Nhà trai sẽ mang lễ vật đến cho ông cậu của cô dâu. Người này giao lại lễ vật đó cho chủ nhà. Nhà gái làm cỗ cúng trình tố tiên và mời bà con họ hàng đến ăn uống vui chung. Cô dâu thường được khách mời mừng khăn, áo, tiền bạc và các đồ dùng khác. Thường thì nhà trai dẫn lễ cưới đến vào ngày lễ hôm trước để ngày hôm sau đón dâu sẽ là ngày chẵn với mong ước đôi trẻ mãi mãi không bị lẻ loi. Lễ dâng cưới diễn ra trong lời ca đón rể đón dâu mừng hai họ hết sức thân mật. Tối hôm đó nhà gái tố chức hát thâu đêm suốt sáng để phúc chúc cho cô dâu chú rể.

Xem thêm :

Nghi thức hôn lễ của người Chăm – An Giang

Lễ cưới của dân tộc Mnông Preh Tây Nguyên

Sáng hôm sau, cơm nước xong, chú rể cùng phù rể vào bái lạy tổ tiên, lễ sống bố mẹ vợ cùng ông cậu và quan khách. Ông cậu sẽ dắt cháu gái từ trong buồng ra trao cho nhà trai, cả gia đình nhà gái đều khóc thể hiện sự quyết luyến với người con gái đi lấy chồng, cô dâu thì khóc to hơn như lưu luyến không muốn rời xa bố mẹ đẻ của mình. Nhà trai, nhà gái mỗi bên có một phù dâu dắt tay cô dâu đi ra. Dẫn đầu đoàn dâu là bốn người làm mối, đi sau là cô dâu cùng phù dâu và họ hàng nhà trai.

Nghi thức đón dâu ở nhà trai cũng giống như đón rể ở nhà gái. Bốn người làm mối phải uống rượu và hát. Tập quán của người Lô Lô là khi cô dâu bước chân vào nhà, bố mẹ chồng phải tạm lánh mặt đi nơi khác vì sợ gặp mặt thì sẽ át vía con dâu, sau này sẽ I không khoẻ mạnh.

Đoàn dẫn dâu về nhà trai được một lúc thì đoàn ông cậu của nhà gái mang của hồi môn sang, bao gồm: lợn, gà, cái cuỗc, cái cháo, con dao, hòm quần áo của cô dâu cùng rượu, thịt, xôi nếp với những nhà giàu thì có cả một con bò. Nhà trai tổ chức linh đình và hát mừng suốt đêm để chúc cho hạnh phúc của đôi trẻ. Khi tiên ông cậu về, nhà trai tuỳ số của hồi môn ít hay nhiều của cô dâu mà đưa lại một số tiền gọi là tiền đi đường và làm quà.

Sau ba ngày cưới, cô dâu chú rể trở lại thăm nhà vợ, có thể ở lại nhà gái ít bữa, sau đó sẽ trỏ về ở hẳn tại nhà trai.

Nghi thức hôn lễ của người Chăm – An Giang

An Giang có 2.110 hộ người Chăm với 13.700 người luôn sống gắn bó, hoà nhập vào cộng đồng các dân tộc anh em và giữ gìn bản sắc văn hoá riêng. Xin giới thiệu với bạn đọc nghi thức hôn lễ cổ truyền của đồng bào Chăm An Giang.

Lễ dứt lời (Pakioh – Po Nuối)

Trước lễ dứt lời, bà mai (Maha) sang nhà gái trao đổi trước. Đúng ngày giờ đã định, nhà trai đến nhà gái. Vị cả Chùa tuyên bố: “Hôm nay là lễ Pakioh – Po Nuối cho hai trẻ, tiền đồng là tiền chợ là. Hai họ dùng tiệc, chi phí bữa tiệc do đôi bên cùng lo. Vài hôm sau, đàng gái mang sang nhà trai 1 mâm bánh trả lễ, đàng trai trao tượng trưng 1 bao thư tiền.

Nghi thức hôn lễ của người Chăm - An Giang
Nghi thức hôn lễ của người Chăm – An Giang

Sau đó cứ đến ngày Ro-Ja, chú rể và bạn bè đến thăm nhà cô dâu vào ban ngày, cô dâu không được ra gặp chú rể nhưng gia đình bố trí cho nhìn lén. Buổi tối, cô dâu cùng bạn gái qua thăm nhà chú rể.

Chú rể cũng được sắp xếp để nhìn lén cô dâu. 3 ngày trước đám cưới, vị Cả Chùa và người nhà trai mang 1 cái giường qua nhà gái. Vị cả Chùa cầu nguyện, những người cùng đi dọn phòng cưới. Tiếng Chăm gọi việc này là đi Thon – Kghe (đi ráp giường). Cũng ngày này, nhũng người phụ nữ bên nhà gái may mùng cho đôi tân hôn.

Đám cưới

Diễn ra trong 3 ngày: ngày nướng bánh (Âm-Ha), ngày nhóm họ (Pa Thưng Pa Gú), ngày lễ lên ghê (lần II và III). Nhà trai đưa rể sang nhà gái. Khi chú rể bước xuống cầu thang nhà mình, mọi người hát: “Xin cha mẹ tha thứ, con từ giã cha mẹ”. Khi chú rể bước tới chân cầu thang nhà gái, các bà đàng gái bưng nước rửa chân cho chú rể trong lúc mọi người hát vang bài hát có nội dung hân hoan rửa chân và trải khăn trắng mời chú rể bước vô nhà.

Xem thêm:

Lễ cưới của dân tộc Mnông Preh Tây Nguyên

Rước Chúa gái – Phong tục hôn lễ thời Hùng Vương

Tiến hành lễ đính hôn (Ka Pol): Sau khi một người có uy tín đọc xong đoạn kinh Coran, nội dung nhắn nhủ chú rể tôn trọng người bạn đời thì cha cô dâu cầm tay chú rể nói: “Tôi gả đứa con gái tên là… Chú rể đáp: “Tôi nhận cưới”. Khi được đưa vào phòng cô dâu, chú rể sẽ gỡ cây trâm cài trên tóc vợ, rồi cùng ngồi trên giường lắng nghe vị Cả Chùa cầu nguyện.

Bữa cơm của đôi tân hôn: Mâm cơm có 1 dĩa cơm, 1 dĩa thức ăn. 4 phụ nữ có gia đình hạnh phúc nói lời chúc mừng và đôi vợ chồng trẻ sẽ cùng bốc ăn chung.

Lễ động phòng hoa chúc (Sen Thoa): 4 phụ nữ nói trên giăng mùng, trải chiếu, tiến hành lễ lượm bạc cắc. Người ta đặt 1 xô nước trong đó có 10 đồng bạc cắc. 2 vợ chồng thò 1 bàn tay vào một lượt để mò bạc cắc. Ai lượm số bạc cắc nhiều hơn thì được có tiếng nói quyết định trong gia đình.

Đám cưới người Chăm ở An Giang trang trọng, ấm áp, không xa hoa phù phiếm. Ngày nay có một chút thay đổi trong nghi lễ: “Đám cưới chỉ trong 2 ngày; đưa chú rể sang nhà cô dâu vào buổi sáng thay vì buổi chiều; bỏ lễ lên ghế lần III”; trang phục cô dâu chú rể được cách tân, vẫn giữ vẻ đẹp cổ truyền nhưng tiện dụng hơn.

Lễ cưới của dân tộc Mnông Preh Tây Nguyên

Lễ cưới của dân tộc Mnông Preh là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang đậm bản sắc riêng biệt của người Mnông Preh. Phong tục hôn nhân của người Mnông Preh gồm 3 bước: Lễ ngỏ lồi, Lễ dạm hỏi, Lễ cưới.

Khi chàng trai tìm được cô gái vừa ý, chàng tặng cô gái một cái lược, một chuỗi hạt hoặc một vòng đeo tay để làm tin. Sau đó, chàng trai về thông báo với bố mẹ và xin ý kiến. Nếu đồng ý bố mẹ chàng trai sẽ nhờ ông mối mang lễ vật đến nhà gái. Lễ vật gồm: một con gà, một con dao và ông măng chua. Khi nhà gái bằng lòng, ông mối sẽ thay mặt nhà trai bàn bạc vối nhà gái về Lễ dạm hỏi.

Đến ngày đã định, nhà trai cử một người già có uy tín cùng một số trai tráng khỏe mạnh mang lễ vật đến nhà gái. Tùy từng nơi, từng gia đình mà sính lễ khác nhau. Lễ chính gồm: một con trâu hoặc lợn, một gùi măng chua và da trâu muối, một ché rượu cần nhỏ. Nhà gái cử một vị cao tuổi nhận lễ vật rồi bày lên chiếc chiếu hoa ở giữa nhà để cúng Giàng xin làm Lễ dạm hỏi. Xong xuôi hai bên nhà trai, nhà gái mới tiến hành bàn bạc, chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức đám cưới.

Xem thêm :

“Tăng cẩu” (Lễ búi tóc )- Nét đẹp trong văn hóa người Thái đen

Vai trò của người mai mối trong hôn nhân xưa

Lễ cưới sẽ được tổ chức ba ngày liền ở nhà gái. Hôn lễ được mở đầu bằng việc nhà gái đem biếu nhà trai mỗi người một bát gạo đầy, tượng trưng ý nguyện cầu mong cuộc sống họ luôn luôn no đủ. Mỗi bát gạo tương đương một chệ rượu mà nhà trai tặng nhà gái. Ông mối sẽ đóng luôn vai trò người làm chủ hôn. ông dẫn đôi uyên ương đến bên cột nhà chính. Hai người làm chứng đại diện cho hai họ cầm chiếc khăn buộc vào cột nhà. Chủ lễ cầm tay đôi vợ chồng trẻ nắm vào chiếc khăn, ý nói tình cảm hai người đã được buộc chặt, luôn gắn bó bên nhau. Sau đó chủ lễ dặn dò chú rễ, cô dâu về đạo vợ chồng và trách nhiệm của mỗi người đối với cha mẹ, gia đình họ hàng.

Tiếp sau đó là người làm chứng, họ xúc cho hai vợ chồng mỗi người ba muỗng cơm và cũng được đôi vợ chồng phúc đáp lại. Sau nghi thức này, ông mối đưa cần rượu để hai vợ chồng trẻ uống đầu tiên mở màn cho lễ uống rượu mừng ngày cưới. Những ché rượu được cột sẵn ở cột buộc ché rượu theo hàng dọc giữa nhà. Mọi người cùng uống rượu, ca hát, nhảy múa theo nhịp cồng chiêng rộn rã suốt ngày đêm. Những người đến dự đám cưới mang theo rượu, thuốc lá, gạo nếp… góp vào ngày vui của gia chủ. Lễ cưới còn là dịp để các chàng trai, cô gái tìm hiểu nhau. Sau lễ cưới còn có lễ rước rể vào ngày hôm sau. Cưới xong đôi vợ chồng trẻ phải ở trong nhà bảy ngày, không được ra khỏi nhà tránh gặp mặt người lạ. Hết thời gian kiêng cử, họ trở về nhà trai bảy ngày, sau đó về bên nhà gái ở trọn đời.