Cụm làng nghề làm giấy ờ vùng Bưởi – Nghĩa Đô

Vào thế kỷ XIII, ở phía tây kinh thành Thăng Long có một xóm thợ chuyên nghề làm giấy. Lúc đó, sông Tô Lịch còn chảy qua đây, chiếc cầu bắc qua sông được đặt tên là cầu Giấy để ghi nhớ nghề nghiệp của vùng này. Đến thế kỷ XV, trong sử sách lại xuất hiện thêm phường làm giấy Yên Thái. Tiếng chày giã dó đã đi vào ca dao mà những người Hà Nội không mấy ai không thuộc nằm lòng:

“Mịt mù khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”

Ngay từ thủa ấy, người thợ thủ công làm giấy đã tạo ra những loại giấy đặc biệt cho triều đình phong kiến như giấy thị (để viết chỉ thị) giấy lệnh (để ghi mệnh lệnh)… Ngoài ra, sản phẩm chủ yếu của Yên Thái là giấy bản để in sách hoặc để viết chữ Nho (bằng bút lông, mực tầu) và giấy dó (để in tranh dân gian).

Tương truyền, cụ tổ nghề làm giấy là người làng An Cốc, đã học được nghề giấy từ Trung Quốc đem về truyền dạy cho ba làng: An Cốc, Yên Thái, Yên Hoà. Lại có huyền tích khác cho biết Tổ nghề làm giấy là người làng Thượng Yên Quyết (tức Yên Hoà) đã dạy cho dân làng cách dùng những đầu mẩu vỏ dó làm loại giấy thô, nên gọi là làng Giấy. Sau đó, cụ truyền dạy cho làng Hồ Khẩu cách làm giấy moi, dạy cho làng Đông Xá cách làm giấy quỳ vừa mỏng vừa dai dạy cho ba xóm: Đông, Thọ, Đoài của làng Yên Thái cách làm giấy lệnh; dạy cho gia đình họ Lại ở Nghĩa Đô cách làm giấy sắc. Loại giấy sắc này cần phải “nghè”, tức là dùng vồ đập vào giấy để trên những tảng đá làm cho giấy nhẵn và bền, vì thế, làng Nghĩa Đô còn có tên là làng Nghè.

Để làm ra những tờ giấy, người thợ Yên Thái, Hồ Khẩu… vùng Bưởi phải có tay nghề thành thục và phải lao động rất cực nhọc. Nguyên liệu chính để làm giấy là vỏ dó tươi được mua về từ miền ngược, vỏ dó tươi đem về ngâm nước lã một ngày, sau đó vợt lên ngâm vào nước vôi loãng hai ngày, rồi cho vào vạc nấu cách thuỷ liền trong bốn ngày. Khi vỏ dó chín, người thợ vớt ra và đem ngâm nước vôi một lần nữa. Trước kia, làng Yên Thái thường đắp lò nấu dó ngay bên bờ sông Tô, vì địa thế ở đây thuận tiện cho cả việc ngâm, dặm và đãi vỏ dó. Lò nấu dó của Yên Thái được đắp cao tới 5m. Miệng lò đặt chiếc vạc lớn, đường kính 2m.

Cụm làng nghề làm giấy ờ vùng Bưởi

Vỏ dỏ sau nhiều lần ngâm, nấu, trở thành một thứ vỏ trắng muốt. Đây chính là chất liệu tinh khiết để làm ra giấy, vỏ dó đã được xử lý được đem giã thật nhuyễn thành thứ bột quánh rôi thả vào tàu seo. Công việc giã dó rất vất vả, chỉ đàn ông mới đảm đương nổi. Phường giấy Yên Thái trước đây luôn vang dội nhịp chày giã vỏ dó làm giấy. Âm thanh ấy đi vào ca dao, dân ca, đã gợi cảm hứng cho những tâm hồn thi nhân nghệ sĩ qua nhiều thế kỷ:

“Chày Yên Thái nện trong sương loảng choảng

Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co”

(Nguyễn Huy Lượng – Tụng Tây Hồ Phủ)

Tàu seo giấy là một bể nước có pha sẵn loại keo làm bằng nhựa cây mò. Đó là thứ men, hay nước men để hòa tan bột dó trong bể ngâm (tàu seo), đồng thời làm cho bột dó kết thành giấy khi được vớt ra khỏi tàu seo. Hơn nữa, nhờ men nước này, các tờ giấy bóc khỏi bàn seo, dù còn ướt, để chồng lên nhau vẫn không bị dính với nhau. Vữa dỏ vừa giã được thả vào đây sẽ tạo thành một thứ nước sền sệt khi đem tráng trên liềm seo sẽ hình thành những trang giấy.

Liềm seo giấy được dân làng Xuân Đỉnh sản xuất bán cho dân vùng Bưởi. Liềm được làm băng cật nứa ngâm, chẻ nhỏ như que tám, vót và đạp cho thật trơn, mỗi nan dài chừng 60 – 70 phân. Những chiếc nan nếu để mộc thì khi seo bột giấy không bám, cho nên phải được hun. Kỹ thuật hun đòi hỏi khá công phu, dùng mùn cưa trộn với phân bò khô để đốt lò, vì hỗn hợp này cháy có khói, không bốc thành ngọn lửa. Mỗi lò xếp chừng 6000 nan, cứ 2 giờ đồng hồ lại đảo một lần. Các lò phải hun trong hai ngày, đến lúc các nan đều ngả màu vàng óng. Công đoạn tiếp theo là đan liềm. Khung đan được làm bằng gỗ, có thanh ngang bào nhẵn chia đều thành những rãnh nhỏ cách nhau hai phân. Chỉ để đan mành seo được làm bằng cách dùng tơ tằm se thành sợi nhỉnh hơn sợi chỉ khâu một chút rồi đem nhuộm bằng nhọ nồi.

Khâu seo giấy đòi hỏi phải khéo léo, nhẹ nhàng nên thường do phụ nữ thực hiện. Họ đứng bên tàu seo, hai tay dùng liềm seo múc nước bột giấy rồi gác lên “đòn cách” bằng tre trên mắt tàu seo cho nước rỏ xuống hết, chỉ còn bột giấy đọng lại trên liềm. Nước khô dần, bột giấy se lại, trang giấy hiện ra trên liềm seo. Giấy seo xong phải ép, uốn cho thật kiệt nước (giấy ướt xếp chồng lên nhau gọi là uốn) rồi bóc uốn (còn gọi là can). Giấy được ép bằng bàn gỗ có tay đòn, bằng phương pháp dùng lực đòn bẩy. Cuối cùng, sau khi ép xong, giấy được cho vào lò sấy. Tại đây, giấy được bóc dời từng tờ, miết lên tường cho khô và phẳng.

 

Sản phẩm truyền thống của Yên Thái chủ yếu là giấy bản để in sách, viết chữ Nho và giấy dó (dày hơn giấy bản) để in tranh dân gian. Giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc dòn gẫy ẩm nát. Từ lâu, giấy dó Yên Thái đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Các hoạ sĩ Pháp đã sử dụng giấy dó Yên Thái khổ lớn để vẽ tranh bằng mực Tầu theo phương pháp vẽ tranh cổ điển phương Đông. Một vài bảo tàng châu Âu cũng đã dùng giấy dó để lót bồi phía sau tranh vẽ. Với đặc tính chống ẩm rất cao, giấy dó sẽ làm cho tác phẩm nghệ thuật không bị ẩm mốc.

Bên cạnh giấy bản và giấy dó, nghề làm giấy cổ truyền Thăng Long – Hà Nội còn đặc biệt nổi tiếng với giấy sắc, còn gọi là giấy nghè, của dòng họ Lại làng Nghĩa Đô. Trước kia, dòng họ Lại chuyên làm giấy sắc phong phục vụ triều đình phong kiến.

Giấy sắc là loại giấy quý. Nguyên liệu dùng để vẽ lên bề mặt giấy là vàng, bạc và kim nhũ. Nhờ nguyên liệu này mà giấy sắc có hình thức và màu sắc đẹp, lại rất bền, chống được sự xâm hại của các loài côn trùng và gặm nhấm, vượt qua sự tàn khốc của thời gian. Làm giấy sắc đòi hỏi rất  nhiều công phu về công đoạn seo giấy, để làm một tờ giấy sắc cho hàng Nhất phẩm thì cần phải có 5 người thợ cùng làm một lúc mới có thể seo nổi một tờ giấy. Giấy để phong cho hàng phẩm cấp thấp hom (tức là từ Nhị phẩm xuống tới Cửu phẩm) thì 1 khổ giấy hẹp hơn, nhưng cũng cần phải có 3 người thợ cùng làm một tờ.

Phần vẽ giấy sắc là khâu tinh xảo nhất, công phu nhất, đòi hỏi tay nghề cao. Vẽ gồm hai công đoạn: Vẽ chạy và vẽ đồ. Vẽ chạy là vẽ ra hình rồng mây, hình chữ triện, hoa văn… do những thợ giỏi thực hiện. Vẽ đồ là theo nét vẽ chạy mà tô kim nhũ, vàng bạc.

Bí quyết quan trọng nhất của việc làm một tờ giấy sắc theo đúng yêu cầu là ở kỹ thuật đánh vàng, đánh bạc cho tờ giấy. Dụng cụ để làm công đoạn này là cái chầy và những cái bát lớn. Để giữ bí quyết nghề nghiệp, các công việc này được tiến hành ở nơi kín đáo nhất trong nhà, tránh người ngoài học lỏm.

Giấy sắc phong có hai loại: một loại dùng phong cho các quan (phong chức, tặng tước, khen tặng) và một loại dùng phong cho các vị ị thần linh. Giấy phong cho bách quan có 3 hạng. Giấy hạng nhất thì xung quanh khung có vẽ 8 con rồng nhỏ, mặt trước vẽ một con rồng lớn, ẩn trong mây, gọi là Long ám, mặt sau vẽ hình Tứ linh (Long – Ly – Quy – Phượng). Giấy hạng nhì thì xung quanh khung vẽ mây hoặc họa tiết hồi văn, mặt trước vẽ một con rồng, mặt sau vẽ nhị linh (hai con vật trong tứ linh). Giấy hạng ba thì xung quanh in triện gấm, mặt trước vẽ một con rồng ở giữa và bốn góc in hình ngũ tinh (năm ngôi sao), mặt sau vẽ bầu rượu túi thơ. Giấy phong cho bách thần cũng có 3 hạng. Giấy phong cho Thượng đẳng thần thì xung quanh in triện hoa chanh, phía trước vẽ một con rồng, ở giữa in hình Ngũ tỉnh, bốn góc in hình Thất tinh, mặt sau vẽ hình Tứ linh. Giấy phong cho Trung đẳng thần thì mặt trước giống như sắc Thượng đẳng thần, mặt sau vẽ hoạ tiết lá và Bầu rượu, ở giữa vẽ hai chữ Thọ liền nhau, gọi là song thọ. Giấy phong cho Hạ đẳng thần thì mặt trước giống như hai hạng trên, mặt sau không vẽ.

Dưới thời Nguyễn, trong niên hiệu Khải Định (1916 – 1926), có năm nhà nước đặt hàng làng Nghĩa Đô làm hàng vạn tờ giấy sắc. Giá giấy sắc rất cao. Lúc đó, mỗi tờ giấy sắc là một đồng bạc Đông Dương (tương đương một lượng vàng). Ngày nay, nghề làm giấy sắc chỉ ở Nghĩa Đô đã bị thu hẹp rất nhiều, hiện đang có nguy cơ mai một.

Trồng hoa ở cùng Ngọc Hà, Hữu Tiệp; nghề làm cốm làng Vòng; nấu rượu Võng Thị về nghề nấu rượu của làng Thụy Chương, Trạng Quỳnh có một bài thơ vui rất nổi tiếng là bài Phật say Thụy

Ông đứng chi mà đứng mãi đây

Dập dềnh như tỉnh lại như say

Vãi nào đã chuốc cho ông rượu

Còn có cho vay một nậm đầy

Con gái ở các vùng Ngọc Hà, Hữu Tiệp còn có nghề trồng hoa, họ thường đem bán từ sáng sớm đến tối mịt mới về nên ca dao có câu:

Con gái ở trại hành hoa ăn cơm nửa ngày, ngủ nhà nửa đêm

Vùng quanh Hồ Tây xưa kia là vành đai hoa của kinh thành cũ. Làng Nghi Tàm còn có khui đất cổ truyền vẫn gọi là Đồng Bông (Hoa). Các làng Võng Thị, Trích Sài cũng đều có đồng hoa cổ từ thời Lý. Làng Yên Hoa ở cửa ô Yên Hoa (nay là Yên Phụ) cũng là nơi người ở chen với hoa từ lâu đời. Tây Hồ, Quảng Bá, Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Đại Yên nối tiếp nhau thành đất hoa. Xa hơn là dinh đào Nhật Chiêu (nay là Nhật Tân). Các tên làng, tên phường cũng nói lên xứ sở ngàn hoa. Hồng Mai, Hoàng Mai, Tương Mai, gọi nôm là Kẻ Mơ, một rừng mơ ở phía nam đô thành. Lại có cả một đường hoa: Hòe Nhai – đường hoa Hòe. Ngay Hồ Tây xưa cũng là một vùng hồ với bạt ngàn hương hoa sen. Sen chính là một đặc sản nổi tiếng của Hồ Tây, là niềm tự hào của những người dân nơi đây. Vua chúa thời phong kiến thường cho trồng nhiều giống sen thật đẹp để thưởng thức khi đi du ngoạn Hồ Tây.

Mỗi độ thu sang, người ta dùng lá sen để gói cốm làng Vòng, và dường như vì thế mà cốm làng Vòng cũng trở nên ngon hơn, đẹp mắt hơn. Lá sen, cốm làng Vòng đã trở thành một hình ảnh gan quyện quen thuộc của thứ quà đặc sản này. Rồi mùa thu cũng là mùa người ta bày bán những hạt sen tươi về làm vị thuốc, làm thức ăn, nấu chè, hoặc làm nhân bánh, hầm thịt… Ở Hồ Tây vẫn còn truyền tụng câu ca dao quen thuộc:

Đấy vàng đây cũng đồng đen

Đấy hoa thiên lý đây sen Tây Hồ

hay:

Gương thề nỡ để bụi nhòa

Sông có Nhị Hà nói có Tản Viên

Thề kia nỡ để lỡ duyên

Trăng còn soi mãi vũng sen Tây Hồ

Sen Tây Hồ đã đi vào thơ Nguyễn Du, Miên Thẩm…

Con người vùng Hồ Tây xưa sống chan hòa với thiên nhiên, họ luôn luôn có ý thức cải tạo môi trường sống, cảnh quan thiên nhiên. Từ một vùng thiên nhiên hoang sơ con người đã lao động cải tạo nơi đây thành một không gian sống phong phú, giàu đẹp, thơm ngát hương hoa. Đặc điểm sông nước đã đem lại cho vùng Hồ Tây xưa một điều kiện lao động sản xuất thuận lợi, hình thành ở nơi đây những làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng trong lịch sử của Thăng Long – Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung.

Cụm làng nghề dệt – nhuộm ven Hồ Tây, hồ Trúc Bạch

Vùng Hồ Tây ngày nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều những truyền thuyết về các vị tổ nghề. Công chúa Quỳnh Hoa ra đây lập cung Thúy Hoa (sau này là chùa Kim Liên) để giúp nhân dân nghề nuôi tằm dệt vải. Do đó, khi bà chết, nhân dân suy tôn bà trở thành thành hoàng làng của thôn Nghi Tàm. Có khoảng gần sáu chục nơi thờ bà, Nghi Tàm là nơi bà mất.

Nếu như Quỳnh Hoa được nhân dân suy tôn là tổ sư nghề tằm tang thì bà chúa Thiên Niên lại được người đời suy tôn làm Bà chúa dệt lĩnh. Bà Phan Thị Ngọc Đô vốn là tì thiếp cũ của vua Chiêm, nhân khi vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành thắng trận được vua Chiêm hiến cho gái đẹp, đó chính là bà Phan Thị Ngọc Đô. Vua ban cho bà về ở Trích Sài cùng với 24 thị tì mang từ Chiêm Thành sang. Trong thời gian ở đây, bà đã đem nghề dệt lĩnh ở Chiêm Thành truyền cho nhân dân trong vùng. Đây là một trong những sự kiện chứng tỏ Thăng Long – Hồ Tây là nơi hội tụ những nền văn hóa độc đáo. Từ đó, nhân dân làng Trích Sài chuyển sang nghề dệt lĩnh (trước đó họ làm nghề bán củi đúng như tên gọi Trích Sài). Và lĩnh Bưởi bao gồm vùng Bái Ân, Nghĩa Đô, Trích Sài đã nổi tiếng một thời trong lịch sử. Để.nhớ công ơn bà, nhân dân Trích Sài đã lập miếu thờ. Chùa Trích Sài cũng làm trên đất của bà chúa nên gọi là chùa Thiên Niên. Ngày mồng năm tháng giêng âm lịch hàng năm, nhân dân tổ chức lễ tế bà.

Lại có truyền thuyết về Bà chúa dệt vải ở đời Lý Huệ Tông. Bà là công chúa Thụ La, vốn quê ở Ái Châu (Thanh Hóa), theo gia đình ra Thăng Long làm nghề dệt lụa vào dầu thế kỷ XIII.Cụm làng nghề dệt

Tập trung quanh Hồ Tây và hồ Trúc Bạch là các nghề dệt – nhuộm. Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi ghi trong Dư địa chí: “Các phường Thụy Chương, Nghi Tàm, dệt vải nhỏ và lụa”. Lụa làng Trúc Bạch là một đặc sản nổi tiếng của Kẻ Chợ, từng đi vào ca dao:

Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng

May áo chàng cùng sổng ảo em

Chữ tình sánh với chữ duyên

Xin đừng thay áo mà quên lời thề

Như một sản phẩm văn hóa, lụa Hồ Tây đã tô thêm vẻ đẹp cho con người. Lụa – áo – tình yêu đôi lứa đã thành những yếu tố không thể thiếu được của chân dung con người Hồ Tây. Thế kỷ XVII – XVIII, nghề dệt đạt đến mức thịnh đạt. Trong Tây Hồ chí có nhắc đến 4 làng dệt lĩnh nổi tiếng là Yên Thái, Trích Sài, Bái Ân và Nghĩa Đô:

Hỡi cô thắt bao lưng xanh

Có về kẻ Bưởi với anh thì về

Làng anh có ruộng tứ bề

Có hồ  tắm mát có nghề quay tơ

Quay tơ ra mắc ra mành

Mắc thời mắc cửi còn mành đan ngang

Mot son anh dệt đầu hàng

Môt cục đem bán cho nàng kẻ Đơ.

Kẻ Bưởi: chỉ chung mấy xà Tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận trước đây gồm những làng Hồ Khẩu, Yên Thái, Trích Sài, Bái An cũ. Bưởi xưa có hai nghề dệt lĩnh và làm giấy.

Hồ ở đây là Hồ Tây. Trong bài ca dao, cảnh quan của một vùng quê trồng lúa và dệt lụa được nhấn mạnh đầy tự hào, nó cũng thể hiện một công thức đơn giản mà rất bản chất của văn hóa truyền thống: ăn và mặc. Đáp ứng nhu cầu ăn và mặc, con người Hồ Tây bằng sức lực, trí tuệ và tài năng đã cải tạo cảnh quan tự nhiên, đã chiếm lĩnh những kỹ thuật dệt tiên tiến thời bấy giờ. Bài ca dao cũng cho ta biết thêm, một vùng đất trù phú, đáng để chàng trai “khoe” và đủ sức hấp dẫn một cô gái không thể chỉ thuần nông mà phải có thêm nghề phụ – trong trường hợp cụ thể này là nghề dệt. Nghề dệt đã âm thầm nói lên niềm tự hào của người dân vùng Hồ.

Chạy dọc theo bờ sông Hồng và bao quanh Hồ Tây xưa là một vùng đất bãi màu mỡ, trù phú rất thích hợp với nghề trồng dâu nuôi tằm. Một số phường thôn chuyên trồng dâu nuôi tằm như làng Nghi Tàm, làng Dâu thuộc xã Nghĩa Đô ở phía Băc. Gần khu vực đó còn có các làng Thanh Trì và Thúy Ái ở phía Nam. Suốt thời kỳ phong kiên nghề dệt ở vùng Hồ Tây đã chuyên cung câp, phục vụ việc ăn mặc của triều đình và dân chốn kinh thành. Nghề dệt ở vùng Bưởi nói riêng và Thăng Long nói chung phát triển thịnh đạt nhất là vào những thế kỷ XVI – XVII. Nghị Tàm và Thụy Khuê trên bờ Hồ Tây từ lâu đã nổi tiếng về công nghệ dệt lụa tơ nõn về quy trình sản xuất nhìn chung có năm công đoạn: quay tơ mắc cửi, làm hồ, đánh suốt và dệt. Nhân dân kẻ Bưởi xưa vẫn còn truyền tụng rộng rãi kinh nghiệm dệt lụa qua câu ca dao:

Hồ trơ ngang nhò dệt đan

Thán mình cũng sướng như quan phủ Hoài

Hồ to ngang sẵn dệt dày

Cầm bằng cha mẹ bắt đày biển Đông.

Trong mấy câu ca dao, người dệt lụa đưa ra cái nhìn đầy kinh nghiệm và cả xúc cảm về công việc dệt. Yếu tố con người thấp thoáng qua vài câu ca đơn sơ.

Nói về sản phẩm dệt lụa ở kẻ Bưởi, có một số câu thành ngữ, tục ngữ quen thuộc như:

–   Lĩnh Sài nhiễu Giấy

–   Lỉnh Bưởi, lụa Nga, là sổm

–   Nhất hồ nhì hoa thứ ba dệt

–   Néo thẳng tay là thày khôn khéo

–   Lĩnh tốt xem biển người hiền xem mặt

–   The La lĩnh Bưởi chồi Bùng

–   Pháo Bình Đà, lĩnh Bưởi, lụa La, thêu hoa Ngũ Xã

Hồ Tây xưa kia nước rất sâu, giặt lụa rất tốt nên dân Tây Hô chuyên làm nghề này. Hiện nay

Nga: Làng Nga ở Hưng Yên; sốm: Ba La sốm ở Hà Tây giáp thôn Tây Hồ và Quảng Bá còn có khu hồ gọi là hồ giặt lụa.cụm làng nghề dệt

Sang thời Nguyễn, đặc biệt là dưới thời Pháp, nghề chuôi lụa không còn. Dân Tây Hồ chuyển sang nghề se chỉ, nhuộm chỉ đi bán (kèm theo cả kim). Họ thường dùng bị cói để đeo hàng kể cả nghề chuôi lụa và bán kim và phần lớn đều do phụ nữ hành nghề. Con gái làng Tây Hồ xưa kia cỏ nghề đi bán hàng xén. Do đó, mà có câu tục ngữ:

Ba tiền bỏ bị là chị Tây Hồ

Hoặc: Ca dao cũng có câu:

–       Tôi là con gái Tây Hồ

Bán kim bán chỉ những nghề vá may Hùng hoàng bồ kết trong tay

Pham lam phàm tỉm cho hay mọi nghề.

Kim thằng quỉ, chỉ Tây Hồ

Ai yêu thì lấy chẳng vồ lấy ai

Tương truyền những cô gái Tây Hồ làm nghề bán kim chỉ thường dùng câu này vừa là để giới thiệu mặt hàng, vừa để đùa cợt và chống lại những lời trêu ghẹo.

Đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự xâm nhập của các hàng vải, tơ, lụa dệt bằng máy, nghề dệt thủ công nói chung và dệt lĩnh nói riêng ngày càng tàn lụi dần, một vài cải tiến lẻ tẻ về máy móc và kỹ thuật dệt thủ công không lấn át được hàng ngoại, giá cả vừa rẻ, mẫu mã lại đa dạng. Nghề dệt lụa mai một dần. The La, lĩnh Bưởi nổi tiếng ở kinh thành Thăng Long xưa giờ không còn nữa nhưng vẫn còn lưu mãi trong ca dao, tục ngữ, thơ văn, trong lịch sử các nghề thủ công truyền thống ở nước ta. Và những câu ca điệu hò luôn thấm đượm yếu tố cảm xúc, trí tuệ, phảng phất bóng dáng những con người, nhất là những chàng trai, cô gái Hồ Tây trong tiến trình lịch sử.

Làng đúc đồng Ngũ Xã

Nghề đúc đồng của Việt Nam vốn có lịch sử nhiều ngàn năm trước đây. Từ những chiếc lưỡi cày đồng rồi các mũi tên đồng thần kỳ ở cổ Loa, toà tháp Báo Thiên 12 tầng giữa kinh thành Thăng Long thời Lý, quả chuông đồng lớn ở chùa Diên Hựu là những minh chứng rõ ràng. Khắp trên đất nước Việt Nam, các xứ Đông, Nam, Đoài, Bắc, đâu đâu cũng có những làng đúc đồng. Trong đó, làng đúc đồng Ngũ Xã ở đất Thăng Long – Hà Nội là một trong những làng đúc đồng nổi tiếng bậc nhất.

Làng Ngũ Xã nằm cạnh hồ Trúc Bạch, phía tây thành Thăng Long, nay là phố Ngũ Xã thuộc địa phận quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Tương truyền, khoảng thế kỷ XVII – XVIII, một số thợ đúc đồng ở năm xã của huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành, Bắc Ninh) và huyện Văn Lâm (Hưng Yên) là xã Đông Mai, Châu Mỹ, Lộng Thượng, Đào Viên (hay Thái Ti) và Điện Tiền (có tài liệu khác cho rằng đó là 5 xã của tổng Đề Cầu gồm An Nhuệ, Kim Tháp, Lê Xá, Thư Đôi và Đề cầu) có tên Nôm là làng Hè, làng  Me, làng Giồng, làng Dí trên và làng Dí dưới, được triều đình trưng tập về kinh thành Thăng Long để lập xưởng đúc tiền và đồ thờ theo yêu ’ cầu của nhà nước. Ban đầu, những người thợ này 1 tập trung hành nghề ở khu vực Lò Đúc, về sau, ’ do điều kiện làm việc cần đến nhiều nước và môi trường thuận tiện, những người thợ đúc đồng xin chuyển đến khu đất ở giữa hồ Trúc Bạch lập thành làng gọi tên là Ngũ Xã tràng (nơi đúc đồng của 5 xã) để ghi nhớ nghề nghiệp của quê hương bản quán.

Từ khi lập làng ở đất kinh kỳ, với cái tinh khéo của nghề nghiệp, thợ Ngũ Xã đã nổi tiếng khắp nơi, sánh vai và trở thành một trong những làng nghề có tiếng ở Hà Nội, là “gốm Bát Tràng, vàng bạc Định Công, đúc đồng Ngũ Xã”.Làng đúc đồng Ngũ Xã

Làng thờ hai vị tổ nghề là Nguyễn Minh Không và Dương Không Lộ. Hai ngài được tôn xưng là tổ nghề đúc đồng của cả nước. Tương truyền, Dương Không Lộ, quê ờ hương Giao Thuỷ, phủ Hải Thanh (nay thuộc tỉnh Nam Định), sinh năm Bính Thìn niên hiệu Thuận Thiên (1016) và mất năm Giáp Tuất niên hiệu Hội Phong (1094) thời Lý. Nguyễn Minh Không quê ở làng Đàm Xá huyện Gia Viễn (Ninh Bình). Nguyễn Minh Không và Dương Không Lộ đều là các thiền sư nổi tiếng thời Lý. Tương truyền, nhờ có chiếc túi thần, hai ngài đã mang được kho đồng ở bên Tàu (Trung Quốc) về nước ta và dạy

cho dân đúc ra An Nam tứ đại khí (tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng chùa Quỳnh Lâm). Hai ngài truyền dạy nghề đúc đồng cho các làng đúc đồng hiện nay ở Việt Nam.

Thợ đúc đồng Ngũ Xã vốn là những tay thợ giỏi được trưng tập về kinh đô hành nghề. Bởi vậy, những mặt hàng ra lò từ Ngũ Xã, nhất là tượng và chuộng đồng, rất được ưa chuộng.

Trình độ đúc đồng của thợ Ngũ Xã đã đạt được đỉnh cao. Ngoài sự thông minh sáng tạo, cái nhìn chuẩn xác, bàn tay khéo léo, người thợ thủ công còn có bí quyết nghề nghiệp và kinh nghiệm lâu đời. Sản phẩm đồ đồng Ngũ Xã nổi tiếng khắp nơi; trong đó nổi bật là pho tượng Phật Di Đà ở chùa Thần Quang nằm ngay tại làng Ngũ Xã, tượng Trấn Vũ bằng đồng đen ở đền Trấn Vũ (Hà Nội), chuông chùa Một Cột (Hà Nội)… Những pho tượng và đồ thờ bằng đồng của Ngũ Xã đã có mặt ở nhiều đình, chùa lớn ở Việt Nam.

Nguyên liệu chính của người thợ đúc Ngũ Xã là đồng, thiếc, kẽm và chì. Người thợ đúc phân chia nguyên liệu thành nhiều loại đồng khác nhau, gồm đồng nõn (đồng nguyên chất), đồng thau, đồng dở, đồng già…

Làng đúc đồng Ngũ Xã

Sau khi có nguyên liêu đúc, người thợ cần phải xây khung lò bằng gạch và thêm vào đó đất sét và một lượng trấu sống. Sau đó, người thợ bắt đầu làm khuôn đúc. Trước kia, khuôn đúc được làm bằng đất sét trộn với giấy bản về sau, thợ đúc đồng Ngũ Xã cải tiến bằng cách thay thế 1 giấy bản bằng bông phế liệu, đem trộn với đất sét 1 để làm khuôn. Đất tạo khuôn phải trộn thêm trấu đem nhào thật kỹ cho tới khi xé dọc thớ đất chạy thẳng mới đạt tiêu chuẩn. Nồi đúc đồng được làm từ nguyên liệu đất sét trộn với trấu sống và 1 một ít muối ăn tùy theo ước lượng của ngưòi thợ. Đất làm nồi bao giờ cũng kỹ hơn so với đất nặn  khuôn để tránh bị vỡ nứt hoặc rò rỉ trong khi nấu.

Đối với thợ đúc đồng, ngoài lò, khuôn hay nồi rót, họ còn phải chế ra những cái kèo dùng để đảo đồng, làm chiếc muôi để múc đồng, rồi dao chấn (công cụ thay cho cưa), bễ tay đế tạo gió quật vào lò và đưa nhiệt lên cao đun cho dong nóng chảy.

Sau khi hoàn tất khâu chuẩn bị, người thợ đổ nguyên liệu vào nồi nấu. Bằng kinh nghiệm, người thợ theo dõi quá trình nóng chảy, điều chỉnh các tỉ lệ sao cho đúng với hợp kim cần đúc, với chiếc kèo, nước đồng được khuấy đều và nhuyễn. Chỉ cần nhìn màu nước đồng và khói bốc lên từ nồi nấu, người thợ có thể biết được 1 tình trạng và tỉ lệ của hợp kim để điều chỉnh nguyên liệu cho thích hợp. Khi đồng nóng chảy, người thợ dùng kìm cặp nồi nấu để đổ nước đồng vào khuôn. Nước đồng chảy vào khuôn đúc sẽ đông đặc lại. Khi đó, người thợ sẽ phải đập khuôn để lấy phôi. Mỗi chiếc khuôn chỉ dùng được một lần, nếu muốn đúc tiếp thì người thợ lại phải làm khuôn khác. Công việc cuối cùng là làm nguội phôi để hoàn tất sản phẩm.

Trong những năm cuối thế kỷ XX, trước ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá, làng đúc đồng Ngũ Xã bị thu hẹp nhiều, nhưng vẫn duy trì được nghề đúc đồng truyền thống, tiếp tục cung cấp những sản phẩm đúc đồng kỹ thuật cao và có nhiều giá trị thẩm mỹ.

LÀNG DÁT VÀNG QUỲ KIÊU KỴ

Kiêu Kỵ là một làng Việt cổ nằm ở châu thổ sông Hồng, có tên Nôm là làng Cậy, nay thuộc xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Làng nằm ở phía bờ bắc sông Hồng, cách trung tam Hà Nội khoảng 15 km.

Xưa kia, dân làng Kiêu Kỵ là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng châu thổ sông Hồng. Cách đây khoảng 300 năm, dân làng Kiêu Kỵ học được nghề dập dát vàng bạc do ông Nguyễn Quý Trị truyền cho. Đó chính là nghề quỳ vàng bạc truyền thống của dân làng và còn được lưu truyền tới ngày nay. Tương truyền, ông Nguyễn Quý Trị, người làng Hội Xuyên, xã Liễu Trai (Hải Dương) đỗ Tiến sĩ vào năm Quý Mùi thời Lê Cảnh Hưng (1740 – 1786), làm quan đến chức Binh bộ Tả thị lang – Hàn lâm Viện trực học sĩ. Trong một lần đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc), ông học được nghề dát dập vàng bạc để sơn son thếp vàng các đồ thờ cúng và hoành phi, câu đối… Sau khi về nước, ồng đã truyền dạy nghề này cho dân làng Kiêu Kỵ. Sau khi đã truyền nghề quỳ vàng bạc cho làng Kiêu Kỵ, ông Nguyễn Quý Trị bỏ đi, không ai rõ tung tích, đó là vào ngày 17 tháng 8 âm lịch. Để tưởng nhớ công ơn của người đã truyền dạy nghề, dân làng Kiêu Kỵ đã suy tôn ông Nguyễn Quý Trị làm Tổ sư nghề quỳ vàng bạc.

Nghề quỳ vàng bạc ở Kiêu Kỵ là nghề độc ’ nhất vô nhị ở Việt Nam. Nghề được lưu truyền, gìn giữ cho đến nay có lẽ là do dân làng Kiêu Kỵ luôn giữ vững lời nguyền của Tổ sư nghề khi xưa để lại. Tại nơi cột cái của nhà Tràng, cụ Nguyễn Quý Trị đã đóng lên cột một cái đinh loại răng bừa dài 15cm và phát lời nguyền rằng “không ai được truyền nghề này ra ngoài”. Sau đó, nhà Tràng trở nơi thờ cúng Tổ nghề rất linh thiêng. Người dân trong làng muốn học nghề làm quỳ vàng thì đều phải làm lễ khấn Tổ nghề.

LÀNG DÁT VÀNG QUỲ KIÊU KỴ

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, nghề làm vàng quý khá phát đạt, cung cấp vàng quỳ cho hầu hết các công trình tín ngưỡng cung đình để dát lên các tượng Phật, ngai vàng, hoành phi, câu đối, kiệu rước, tranh sơn mài… Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nghề làm vàng quỳ gần như bị mai một. Dân làng chuyển sang làm nghề sản xuất đồ dùng bằng da và giả da. Sau ngày thống nhất đất nước, nhất là từ thời kỳ kinh tế mở cửa, các công trình văn hoá, các di tích lịch sử được khôi phục hoặc xây dựng mới rất cần đến vàng quỳ, do đó, nghề truyền thống ở Kiêu Kỵ được khôi phục và phát triển. Hiện có khoảng 50 gia đình chuyên kinh doanh vàng quỳ, nhiều hộ sản xuất với quy mô lớn, có tới 20 thợ làm việc.

Những nguyên vật liệu chủ yếu để làm quỳ gồm 2 hai nhóm là nhóm nguyên liệu làm quỳ cựu và nhóm nguyên liệu làm quỳ tân. Làm quỳ cựu phải dùng vàng thật và bạc thật, còn nguyên liệu làm quỳ tân thì dùng thiếc như các loại giấy tráng kim dùng để bao gói các loại hàng hoá, hoặc tráng kim hay mạ các loại đồ trang sức và đồ mỹ nghệ thông thường. Nhóm nguyên liệu phụ trợ gồm có nhiều loại: giấy bản (giấy dó) và những nguyên liệu để làm mực quỳ gồm nhựa thông, mùn cưa để đốt lấy bồ hóng, da trâu nấu thành keo để nhào với bồ hóng làm mực.

Dụng cụ để hành nghề quỳ vàng bạc gồm có búa cán vàng bạc nặng 1,8kg; búa đánh quỳ nặng l,5kg, mặt búa có độ vát 15 độ, cán làm bằng gỗ cây sưa. Bàn ép giấy khô được làm bằng hai miếng ván gỗ hai đầu có bu lông để vít ốc khi ép giấy cho khô kiệt nước, cối đá và chày tay để giã mực. Bàn đá hình vuông rộng 0,5-0,6m, dày35- 40cm, nặng khoảng 100kg dùng để kê đập quỳ cho hai người đánh quỳ cùng một lúc. Miếng đá nhỏ hình thang nghiêng 35°, nặng 1,5kg dùng để lướt mực vào lá giống hay lá vỡ. Đai buộc quỳ bằng loại vải dày như vải kaki. Kéo sắc nhỏ dùng để cắt dòng. Bay mỏng dùng để chạy bạc hay chạy vỡ. Bay để lấy quỳ ra xếp thành xấp quỳ. Lá vả dùng để phơi khô các lá giống khi lướt mực xong. Mâm gỗ hình chữ nhật dùng để chạy vàng hay chạy bạc. Một cái niêu đất chịu nhiệt nhỏ bằng quả chanh hoặc bằng cái chén uống nước nhỏ, dùng để nấu chảy vàng hay bạc. Bếp 1 lò và bể kéo tay dùng để sấy nóng quỳ trước khi 1 đập dát mỏng. Một bộ đe búa dùng để cán mỏng I vàng hay bạc thành dây dài.

Quy trình gia công làm quỳ vàng phải qua 8 Ị khâu chính và rất nhiều khâu phụ.

Đầu tiên là khâu chế biến mực. Nhựa thông được đem nhào với mùn cưa rồi viên to bằng 1 ngón chân cái, sau đó lấy chảo gang treo lên cao trong bếp lò để hứng bồ hóng rồi lần lượt đốt các viên nhựa thông đó cho khói đen bốc lên tập trung bám vào đáy chảo. Đốt hết 10kg nhựa thông mới được 1 lạng bồ hóng loại 1, hay còn gọi là mực cái (đọng ở vùng giữa đáy chảo), và 1 một ít bồ hóng loại 2, còn gọỉ là mực con (đọng ở xung quanh đáy chảo). Bồ hóng loại 1 dùng làm mực để lướt lá quỳ, còn bồ hóng loại 2 dùng làm mực Tàu viết chữ Nho. Một bộ da trâu được cho vào nồi to rồi nấu kỹ thành keo đặc quánh. Keo da trâu đem nhào với bồ hóng theo tỉ lệ nhất định sao cho thật nhuyễn, thật dẻo, rồi đem lọc kĩ loại bỏ cặn và cho vào nồi đun sôi cô đặc, tiếp đến cho vào cối giã thật kỹ khoảng 6-7 tiếng, sau đó lại tiếp tục nhào với keo da trâu thành loại chất lỏng màu đen sẫm đặc sánh. Loại chất lỏng này vẫn cần được lọc kỹ lại một lần nữa thì mới được mực dùng để lướt vào giấy dó làm lá giống để đánh quỳ hoặc lướt vào lá quỳ vỡ để đánh vỡ làm quỳ ở công đoạn sau.

Giấy dó trước khi lướt mực phải được pha thành từng dải nhỏ bản rộng hình vuông 5cm2  xếp thành từng chồng 500 lá, được gọi là một quỳ vàng hay quỳ bạc, sau đó ngâm nước và ép khô. Sau đó, xấp giấy này được đem đi dập tất cả 5 lần và bóc 5 lần liền, gồm “bóc ướt”, “nấm giai”, “thâm tím”, “bong chập”, “bóc cải” và “cải giấy”. Sau đó, người thợ dùng các chổi nhỏ lướt mực Tàu lên hai mặt của từng tờ giấy bản đặt trên bề mặt của hòn đá hình thang, rồi phơi lên lá vả để ở nơi thoáng cho khô. Khi giấy đã khô thì chỉ cần cầm cả chồng lá vả rũ mạnh là các tờ giấy bong ra hết. Những tờ giấy này lại được xếp thành từng quỳ 500 tờ, rồi lấy đai buộc chặt lại và tiến hành đập một hồi lâu. Tiếp đó, người thợ lại dỡ ra từng lá và lại lướt mực lên rồi phơi lên lá vả. Các công đoạn này phải thực hiện liên tiếp 3 lần mới có được giấy quỳ giống để cho miếng dòng vàng hay bạc vào đánh thành quỳ.

Những thỏi vàng, bạc thật được đập cho dài và mỏng (gọi là đập diệp) có bề ngang lcm, được cắt thành những hình vuông nhỏ lcm2 rồi đặt vào lá quỳ. Người thợ giỏi có thể đập một chỉ vàng dàn mỏng thành tấm lá vàng có diện tích hơn lm2. Sau đó, những miếng diệp đó được đem “nong” vào giữa các lá vỡ, rồi buộc thành từng vỡ và xếp hết lượt vào lồng cho lên bếp lò sấy một đêm, rồi bít đai chặt lại và tiến hành đập đều tay bằng búa kê lên phiến đá cho đến khi miếng diệp vàng nhỏ mỏng dàn kín 4 chiều cái vỡ là được. Sau khi đánh vỡ xong, miếng diệp vàng được đem gỡ ra và dùng kéo cắt nhỏ thành 9 hay 12 miếng đều nhau để nong vào giấy quỳ giống đã được chuẩn bị.

Sau khi nong những miếng dòng cắt ra từ quỳ vỡ vào giữa các giấy quỳ giống thành từng quỳ xong, người thợ đem xếp vào lồng và đặt lên bếp lò sấy nóng trong một đêm, sau đó lấy từng quỳ ra buộc đai vào cho chặt, rồi bắt đầu đập bằng búa tay kê quỳ lên bàn đá và đập đều tay cho đến khi miếng quỳ mỏng dính dàn đều ra 4 cạnh lá quỳ là được. Trung bình mỗi quỳ vàng hay quỳ bạc cựu phải đánh liên tục khoảng 1 tiếng đồng hồ mới xong.

LÀNG DÁT VÀNG QUỲ KIÊU KỴ

Giai đoạn cuối cùng là trại quỳ thu thành phẩm. Trước tiên, người thợ phải tiến hành pha cắt giấy để trại quỳ bằng loại giấy bản mỏng và nhẵn cả hai mặt, theo kích thước tương ứng với giấy quỳ có quy vuông là 5x5cm sau đó xếp giấy và buộc thành từng bó 50 tờ một. Sau khi đánh quỳ xong, những người thợ tinh mắt khéo tay dùng chiếc bay nhỏ nhẹ nhàng gỡ các lá quỳ ra, rồi lần lượt nong vào giữa các miếng giấy bản nhỏ có quy vuông là 5cm2, cho đến khi nào kết một quỳ thì niêm phong thành từng gói. Theo quy định nghề nghiệp, mỗi quỳ vàng hay quỳ bạc có 500 lá quỳ và được bỏ lại thành 10 buộc. Như vậy, mỗi buộc có 50 lá quỳ và cử 1 chỉ vàng hay bạc đánh được 22 buộc.

Các công đoạn trước đều có thể được tiến hành ở chỗ thông thoáng, mát mẻ, nhưng riêng công đoạn cuối cùng, tức là khi gỡ vàng trả khách, người thợ phải làm việc trong phòng kín, đeo khẩu trang và ngồi trong màn, vì chỉ cần vô ý thở mạnh, các quỳ vàng cũng đã bay tung ra.

Nghề làm vàng quỳ Kiêu Kỵ rất tinh xảo, tỉ mỉ, đòi hỏi nhiều thợ làm việc kiên trì, cần mẫn, lao động với những thao tác và kỹ thuật tinh vi. Ví như khi đập vàng cần phải đập mỏng đều, không rách và chỉ cần lơ đãng một chút là búa quỳ sẽ đập vào ngón tay. Có thể khoảng định rằng, với 1 chỉ vàng có thể đập mỏng thành 980 lá có tổng diện tích lớn hơn 1 m2 như ở làng Kiêu Kỵ thì chưa có ngành công nghiệp nào trên thế giới thực hiện được, kể cả công nghiệp dát vàng rất tiên tiến của Nhật Bản. Chính vì vậy, cho đến nay, Kiêu Kỵ vẫn là làng duy nhất trong cả nước làm nghề này. Hầu hết cạc làng làm nghề tạc tượng, khắc hoành phi, câu đối, hoặc làm hàng sơn mài như Sơn Đồng, Vũ Lăng, Hạ Thái (Hà Nội); Mai Động, Đồng Quang (Bắc Ninh); Liên Minh, Cát Đằng (Nam Định); Bảo Hà (Hải Phòng)…; nhiều nghệ nhân ở khắp cả nước đều là những bạn hàng thân thiết của làng nghề Kiêu Kỵ. Ngoài ra, các hoạ sĩ trang trí những công trình kiến trúc lớn cũng đã dùng vàng quỳ Kiêu Kỵ để trang trí nội thất cho những công trình kiến trúc lớn, như Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều khách sạn lớn trong toàn quốc… Các di sản văn hoá, kiến trúc được UNESCO công nhận như Kinh đô Huế, Hội An… và cả Văn Miếu – Quốc Tử Giám càng không thể thiếu vàng quỳ, bạc quỳ trong trang trí.

LÀNG CHẠM KHẮC GỖ THIẾT ÚNG

Thiết ủng là một làng cổ, tên Nôm là làng vống, thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tương truyền, dưới thời Hai Bà Trưng, làng Thiết úng có tên là Tô Áng, về sau đổi là phường Xa Lập. Trong khu vực châu thổ sông Hồng có rất nhiều làng mộc nổi tiếng, như làng Chàng (Thạch Thất, Hà Nội), làng La Xuyên (Ý Yên, Nam Định), thôn Hà cầu (Vĩnh Bảo, Hải Phòng)… trong đó, nổi danh bậc nhất ở đất Thăng Long – Kẻ Chợ là làng Thiết úng. Xưa kia, người thợ làng Thiết úng làm nghề chạm khắc gỗ tập trung bán hàng ở các phố Hàng Trống, Hàng Khay và Hàng Đàn. Hiện nay, tại làng Thiết Úng vẫn còn có khoảng gần 200 hộ gia đình làm nghề mộc.

Không giống những làng nghề khác, người làng Thiết Úng không thờ một vị tổ nghề có hành trạng và sự tích cụ thể. Người Thiết úng thờ tổ nghề cùng với thành hoàng làng mình. Theo thần tích, hai vị Thành hoàng có tên Huý là Triệu Thục và Triệu Phá, vốn người làng Phù ủng, huyện Đường Hào, Hồng Châu, đạo Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hài Dương). Các vị sống vào thời Hùng Tuấn Vương thứ 18. Từ nhỏ, các ngài đã thông minh dĩnh ngộ, văn võ hơn người. Lúc trưởng thành, Triệu Thục được phong làm đô uý, Triệu Phá được phong làm Lang trung. Sinh thời, khi đi qua phường Sa Lập, thấy phong cảnh non nước hữu tình, đất đai màu mỡ, con người thuần 1 phác, các ngài bèn chiêu dân lập ấp, dạy dỗ, giáo hoá cho dân và dựng cung sở tại đây. Khi đất nước có giặc ngoại xâm, hai anh em cầm quân đi đánh dẹp. Thắng lợi trở về, Triệu Thục được phong là Đông Phá đại vương, Triệu Phá được phong làm Bình Thục đại vương. Hai vị cùng gia thần là Gon em ở Sa Lập trở về bản phường, mở tiệc khao dân. Chẳng bao lâu sau các ngài hoá, dân làng dựng đền thờ phụng, tôn làm thành hoàng làng.

Ngay từ thời kỳ độc lập tự chủ, trải qua các 1 triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn…, nghề chạm 1 khắc gỗ Việt Nam, trong đó có nghề chạm khắc gỗ làng Thiết Úng, đã từng bước khẳng định một cách vững vàng. Sản phẩm của người thợ làng Úng có thể chia làm hai loại: một loại là trang trí điêu khắc ở đình, chùa, đền, miếu…, một loại là những đồ dân dụng như sập, tủ chè, bàn ghế…  Nhìn chung, mỗi sản phẩm đều mang đặc trưng riêng của làng nghề. Đặc biệt, nghệ nhân làng Úng rất sành khéo chạm các con giống, đường nét hoạ tiết không chằng chịt mà thưa thoáng, tạo nên vẻ đẹp trang nhã.

Công cụ của nghề chạm khắc gỗ hơi khác biệt với nghề mộc thông thường. Thợ chạm khắc Thiết Úng dùng 3 loại cưa là cưa xẻ, cưa cắt và cưa mộng. Dây chằng của các loại cưa đều làm bằng dây mây. Dường cưa xẻ được làm bằng nứa già, còn dường cưa cắt, cưa mộng và “cái” cưa được làm bằng gỗ tốt như lim, sến, táu… Bào gồm loại bào phá và bào lau. Thân bào phải là loại gỗ tốt và rắn, lưỡi bào dùng loại thép già, cứng được mài sắc bén. Chàng có nhiều loại với những kích cỡ khác nhau, được dùng để bạt mái lỗ đục sâu, bạt những mảng gỗ lớn, dặm đường thẳng, nạo lỗ đục tròn hoặc bán nguyệt. Mũi nhọn của chàng dùng để tạo góc lỗ đục cho sắc hoặc moi, tỉa, khoét những chi tiết chạm khắc. Chàng cỡ lớn gọi là chàng cựa, chàng cỡ nhỏ gọi là chàng vấu, phải làm bằng thép tốt, có độ cứng cao và sắc bén. Đục gồm đục bạt dùng để phá, dặm đường thẳng đục bạt dùng để thách những lỗ đục hẹp. Đục bạt có nhiều cỡ, hai mé được mài vát cho thật sắc. Còn đục vụm hay đục doãng lưỡi hình cánh cung, có nhiều loại to nhỏ khác nhau dùng để khoét các lỗ tròn, bán nguỵêt hoặc đường cánh cung, hay các đường uốn lượn mềm mại. Cò nền có hình giống chiếc bay nhỏ, mũi nhọn, sắc, dùng để dẫy nền các phần chạm bong. Cò kéo lưỡi giống như hình lá khế, hai bên sắc, thân gập như cán cuốc dùng để kéo dẫy các chi tiết chạm bong. Tách là loại dụng cụ có hình giống lưỡi mác nhỏ, thân cong, lưỡi vát, sắc nhọn, dùng để tách dăm đục ở những hoạ tiết chạm bong. Ve có nhiều kích cỡ và công dụng khác nhau, như ve phân, ve móng chấu, chuyên  dùng vào việc chạm khắc gỗ.LÀNG CHẠM KHẮC GỖ THIẾT ÚNG

Bằng bàn tay tinh xảo, người thợ đã sai khiến những dụng cụ, đồ nghề, lúc mạnh, lúc nhẹ, khi chạm nông khi chạm thủng, lúc chạm lộng lúc chạm bong, những khe rãnh hiện lên đan xen nhau ngang dọc làm nổi bật hình khối to nhỏ, nhiều dáng vẻ tạo nên vẻ đẹp sống động, hài hoà.

Trước khi chế tác sản phẩm, người thợ chạm khắc Thiết úng rất coi trọng khâu chọn gỗ nguyên liệu. Tuỳ theo mặt hàng, gỗ được chọn cho phù hợp, với tiêu chuẩn cao nhất là gỗ phải đảm bảo độ bền, chắc, khó cong vênh, thớ gỗ phải dẻo, mịn mới dễ chạm, đánh bóng mới đẹp.

Sau khi chọn được gỗ thích hợp, người thợ tiến hành xẻ, cắt, đẽo, bào… theo hình dáng, kích thước đồ vật định làm. Đối với thợ tay nghề hạng vừa, họ phải vẽ mẫu trên giấy bản, in vào gỗ rồi bắt đầu chạm khắc. Đối với những thợ lành nghề thì chỉ cần phác qua trong đầu các đường nét chính sao cho đăng đối, đúng kích thước rồi tiến hành thao tác. Các hoạ tiết, các lối hoa kiểu lá… lần lượt theo từng nhát chàng, nhát đục hiện dần lên. Những hoạ tiết chênh, bong, thường được chạm rời, khi ghép lại thì mồi bằng sơn ta hoặc chốt đinh tre, đinh đồng vào các lỗ mộng để đảm bảo độ mịn, chắc, đẹp.

LÀNG CHẠM KHẮC GỖ THIẾT ÚNG

Tuỳ theo loại sản phẩm và đề tài trang trí mà người thợ có cách thức làm khác nhau. Khi làm Long đình cần phải chạm bốn mặt, hương án chỉ cần chạm ba mặt… Đề tài sử dụng để chạm khắc rất phong phú, gồm long-ly-quy-phượng, tùng-cúc-trúc-mai, các tích trong kinh Phật hoặc trong sử sách… Với kinh nghiệm nhiều đời truyền lại, người thợ Thiết úng vẫn làm nghề theo kiểu truyền thống, nghĩa là từ lúc chọn gỗ đến lúc hoàn thành sản phẩm, tuyệt nhiên họ không làm từng chi tiết mà làm một cách tổng thể. Vì vậy, ở mỗi sản phẩm của những người thợ mặc dù có nhiều nét giống nhau về đại thể, nhưng ở từng chi tiết vẫn ẩn chứa dấu ấn riêng của người thợ.

Một khâu quan trọng trong nghề chạm khắc gỗ là kỹ thuật sơn gắn các bộ phận với nhau. Thợ Thiết Úng thường dùng sơn sống gắn các mảng rồi bó lại, gọi là “bả”, rồi lấy sơn sống trộn với đất sét mịn, trát vào những chỗ lồi lõm sau đó quét sơn lên miết cho thật phẳng gọi là “hom”. Sau khi bả và hom xong, người thợ mới bắt đầu sơn. Có nhiều cách sơn khác nhau như sơn lót, sơn thếp, sơn phủ, sơn cầm… Trong nghệ thuật chạm khắc gỗ, sơn thếp có vị trí đặc biệt quan trọng. Những pho tượng gỗ, những đồ thờ như hương án, bài vị, ngai, thậm chí cả đến những bức sơn mài cũng nhờ nghệ thuật và bàn tay của người thợ sơn thếp mà có thể trở nên lung linh huyền ảo và đạt trình độ thẩm mỹ cao.

Ngày nay, nghề chạm gỗ ở làng Thiết ủng vẫn tiếp nối được truyền thống của cha ông. Dù sản xuất theo quy mô hộ gia đình, công ty trách nhiệm hữu hạn hay hợp tác xã, sản phẩm đồ gỗ Thiết ủng vẫn giữ được nét đặc sắc, có mặt ở khắp nơi và được đông đảo khách hàng ưa chuộng.

LÀNG KIM HOÀN ĐỊNH CÔNG

Từ xưa, dân gian Thăng Long – Hà Nội vẫn truyền tụng câu ca:

Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng

Thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã

Và:

Làng anh đất thợ kim hoàn

Đẻ anh đảnh nhẫn cho nàng đeo tay

Xuôi theo quốc lộ 1A, cách trung tâm Hà Nội khoảng 8km về phía quận Hoàng Mai là khu vực phường Định Công. Định Công hôm nay nguyên là hai xã Định Công Thượng và Định Công Hạ của tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông trước năm 1945, sau đó là xã Định Công thuộc huyện Thanh Trì, thành phổ Hà Nội. Đây là vùng đất cổ của Hà Nội và tên gọi Định Công đã có từ rất lâu đời.

Tương truyền, vào đời Hùng Nghị Vương thứ 18, sau khi ở châu Á về, vua và bà phi ngự thuyền dọc sông Tô Lịch ngắm cảnh. Thuyền đến bến sông (sau này là trang Định Công), bà phi trở dạ sinh được một người con trai khôi ngô tuấn tú, kỳ vĩ khác thường. Dân sở tại liền dựng tạm một gian nhà để mẹ con bà phi tá túc. Vua Hùng Nghị Vương thưởng cho dân 1000 quan tiền, đặt tên cho vùng đất này là trang Định Công, đồng thời đặt tên cho hoàng tử là Tràng Sơ, đồng thời cho lập sinh từ ngay nơi hoàng tử ra đời.

Thợ kim hoàn làng Định Công nổi tiếng từ xa xưa. Tương truyền, tổ sư nghề kim hoàn làng Định Công là ba anh em họ Trần gồm Trần Hoà, Trần Điện và Trần Điền. Vào thời Lý Nam Đế (khoảng thế kỷ VI), ở vùng đất nay là phường Định Công, có ba anh em họ Trần, cha mẹ mất sớm, phải đùm bọc lẫn nhau kiếm sống, nhờ có bàn tay khéo léo, lại thêm đức tính cần cù, chịu khó, nên vẫn có thể tự chăm lo được. Sau khi Lý Nam Đế và Nhà nước Vạn Xuân thất bại trong cuộc kháng chiến chống quân Lương (Trung Quốc) xâm lược, đất nước rên xiết dưới ách thống trị hà khắc của chính quyền phương Bắc đô hộ. Ba anh em họ Trần phải đưa nhau đi chạy loạn. Khi qua huyện Quế Dương, 3 anh em lạc nhau. Người anh là Trần Hoà chạy sang phương Bắc, xin vào học nghề ở phường làm đồ nữ trang. Trần Điện và Trần Điền chạy sang nước khác, làm thuê cho một phường thợ bạc. Sau một thời gian, không hẹn mà gặp, ba anh em cùng trở về cố hương. Họ cùng nhau mở cửa hàng làm nghề vàng bạc, lấy tên là “kim hoàn” (vòng vàng). Từ đó, ba người truyền dạy cho dân làng nghề kim hoàn. Nghề vàng bạc ở Định Công truyên từ đời này sang đời khác, được khắp nơi biết tiếng. Sau khi học được nghề kim hoàn do ba cụ tổ nghề họ Trần truyền dạy, một sổ thợ thủ công làng Định Công ra phường Đông Các, nay là phố Hàng Bạc (quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội), mở cửa hiệu hành nghề. Dần dần, phố Hàng Bạc trở thành trung tâm vàng bạc mỹ nghệ lớn của cả nước.

LÀNG KIM HOÀN ĐỊNH CÔNG

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, với biết bao thế hệ cha truyền con nổi, thợ kim hoàn Định Công đã tạo nên những sản phẩm mỹ nghệ vàng bạc có giá trị thẩm mỹ cao. Từ những đôi khuyên tai bạc của phụ nữ nông thôn xưa, cho đến những kiềng vàng, xuyến vàng, nhẫn có mặt hoa chạm… của các cô gái tân thời hay những bà quyền quý nơi thị thành đô hội, đều toát lên vẻ tinh xảo, sinh động của dáng hình và đường nét hoa văn trên vật trang sức. Có những vật phẩm không cần phải chạm trổ tinh vi mà vẫn đẹp bởi đường vòng trơn bóng hay nét cong uyển chuyển ở tai khuyên. Cũng như nhiều nghề thủ công mỹ nghệ khác, người thợ kim hoàn Định Công xưa thường chạm trổ theo những mẫu mã truyền thống như long-ly-quy-phượng, hạc ngư, phúc, hạc, hổ… Ngoài ra, với tài sáng tạo và tâm huyết nghề nghiệp, người thợ Định Công vẫn thường xuyên tạo ra được những hình mẫu đặc sắc, riêng có. Đó là những con rồng dũng mãnh khắc trên bao (con rồng ngậm chữ Thọ), “lưỡng long triều nguyệt” (hai con rồng chầu mặt trăng), cá chép đùa nước… trên các mâm vàng, mâm bạc; hay hình chim phượng trên mũ miện của hoàng hậu, công chúa, trên các bộ khay chén, hòm khảm bạc, tráp bạc… cho đến các bộ xà tích bạc của các bà các cô, trên cối giã trầu của các cụ già. Trong đồ dùng và những vật trang sức tương đối thông dụng, thợ Định Công hay chạm những mẫu trang trí gần gũi với đời sống thường nhật như quả bầu trên chiếc vòng đeo cổ trẻ con, hình quả vả chạm trên hộp vàng, bạc, ống tiền và đàn tỳ bà trên các bình bạc, bát quả (đào, lựu, lê, mận…) trên mâm bồng, trên khay, chạm tùng, cúc, trúc, mai hay cảnh bốn mùa trên choé bạc…

Mặc dù độ tinh xảo và tay nghề của từng người thợ cao thấp khác nhau. Tuy nhiên, quy trình chế tác sản phẩm của thợ thủ công Định Công trải qua hai bước cơ bản là chế tạo nguyên liệu và chế tác sản phẩm.

Để chế tác nguyên liệu, đối với vàng, người thợ dùng thuật ngữ riêng của nghề là “trở vàng”, tức là nấu vàng cốm, vàng cục, vàng cũ đã qua sử dụng thành vàng tốt, vàng 10. Đây là cách làm thủ công và truyền thống của làng nghề. Trước hết, vàng nguyên liệu được nung chảy thành một hỗn hợp (gọi là đúc) trong chiếc chén bằng đất, sau đó đổ ra cán mỏng như tờ giấy theo cỡ 3×1 cm thành những “dát vàng”. Để dát vàng trên tờ giấy bản, rồi xoắn theo hình tròn ốc, người thợ dùng một hỗn hợp gồm: gạch non giã 1 nhỏ rây kỹ 4“ muối ăn giã nhỏ + lưu huỳnh và 1 nước tạo thành một thứ vữa. Vữa được nhồi kín 3 vào các khe xoáy ốc của dát vàng, rồi đắp ra bên ngoài một lớp nữa, lấy giấy bản bọc kín lại đắp thêm một lượt ra ngoài giấy bản. Lúc đó, dát vàng to bằng quả cam, người thợ tiếp tục xoa cho bề mặt se, khô thì thôi. Sau đó, người thợ chuẩn bị một lò than hồng rồi đặt quả dát vàng vào giữa ngọn lửa, tiếp tục nung khoảng 5-6 tiếng. Trong quá trình đun hỗn hợp, vữa sẽ hút hết những tạp chất chứa trong vàng xấu, bốc thành khói bay lên. Vì thế, khi “trở vàng”, lò cần phải đặt ở nơi kín gió để hạn chế bớt sự khuếch tán mùi tanh và khí độc hại trong khói. Sau khi vàng đã lọc đạt tiêu chuẩn, quả dát vàng được gắp khỏi lò, thả vào nước sạch. Lúc đó, hỗn hợp vữa rã ra, còn lại là dát vàng nguyên chất.

LÀNG KIM HOÀN ĐỊNH CÔNG

Tiếp đó, vàng nguyên chất được cho vào chiếc nồi làm bằng thứ đất nung đặc biệt, nấu cho nóng chảy rồi đổ vào thào (một loại khuôn đồng) để được loại vàng thỏi dùng để chế tác đồ trang sức. Để làm ra đồ trang sức, người thợ còn phải làm ra “vảy hàn”, trong nghề gọi là “ngả vảy”, Đây là một khâu kỹ thuật khó khăn và phức tạp, đòi hỏi tay nghề cao. Ngả vảy không tốt thi các hoạ tiết hoặc đồ vật không gắn kết được với nhau bền chắc, mịn màng. Để tạo ra vảy hàn, người thợ phải lấy vàng + bạc + đồng đỏ nguyên chất theo tỷ lệ bí truyền, đem đúc lẫn rồi đổ thành từng miếng, để nguội, sau đó, dùng dũa răng nhỏ dũa hỗn hợp vàng thành mạt cám rồi lấy nam châm đưa qua đưa lại nhằm hút hết mạt sắt của dũa lẫn vào. Tiếp đó, người thợ đem trộn mạt cám vàng với hàn the đã phi theo liều lượng nhất định. Nếu tất cả các công đoạn này đều thực hiện tốt thì sẽ cho ra đời những vảy hàn tốt.

Đôi với bạc, khâu chế tạo nguyên liệu được gọi là “chuyên bạc”. Các loại bạc xấu, bạc vụn… cùng với gạch non rây kỹ trộn với tro được nấu trong một nồi hình lòng chảo làm bằng vôi bột thật mịn để hả. Khi bạc đã nóng chảy, chì được cho vào để loại bỏ ô xít đồng và các loại tạp chất khác. Các tạp chất sẽ chìm xuống đáy nồi còn bạc sạch, nguyên chất sẽ nổi lên trên. Công đoạn “chuyên bạc” cần phải căn cứ vào váng và sao để phán đoán. Váng màu xám như bọt cơm, sao là tăm sủi lên màu đỏ lửa chuyển đồng trong nồi bạc. Chỉ khi trong nồi không còn sao và váng thì bạc mới đạt độ tinh khiết. Sau khi đã chưng được loại bạc đủ độ tinh khiết, người thợ tiến hành đúc bạc nén. Từng miếng bạc cân đủ 10 lạng ta được bỏ vào nồi nặn bằng đất thó trộn trấu nung khô. Trong quá trình đun, người thợ cho thêm một chút hàn the để khi nóng chảy, bạc sẽ có độ bóng trơn rất đẹp. Bạc lỏng được đổ vào thào (khuôn hình chữ nhật bằng sắt), lòng thào được phết một lớp dầu cây thầu dầu và bột than gỗ thông để bạc không bị dính. Khi bạc còn nóng cần phải đổ ra để sửa cho thỏi vuông thành sắc cạnh.

Sau khi đã có nguyên liệu vàng, bạc đủ tiêu chuẩn, người thợ tiến hành chế tác thành những sản phẩm theo yêu cầu khách hàng.

Trong chế tác kim hoàn, kỹ thuật đồ đậu, tức là kéo vàng, bạc thành những sợi có kích cỡ khác nhau, to bằng đầu đũa, nhỏ như sợi tóc, hoặc làm ra những hạt vàng nhỏ li ti đều nhau, rồi gắn trên các hình mẫu như hoa lá, chim muông đã định, được cho là rất cao cấp. Người thợ làm hàng “đậu” không những tay phải khéo, mắt phải tinh mà còn cần phải kiên trì, tỉ mỉ. Làm đồ đậu, thợ kim hoàn có những công đoạn và các dụng cụ đặc biệt dùng để hành nghề. Từ dát vàng, muốn kéo thành chỉ cần phải cho miếng vàng dài ra, khi “doi” phải đều tay, nhẹ nhàng, khéo léo, nếu bị chẹo khi kéo thì thành chỉ dễ bị đứt, vàng bị hao, trong nghề gọi là bị “dớp”. Dụng cụ dùng kéo chỉ gồm kìm và “mà”. “Mà” là một miếng sắt dài khoảng 50cm, rộng 5cm, dày 4cm, có đục nhiều lỗ nhỏ to khác nhau. Sợi vàng sau khi dăm tròn được kéo qua lỗ trong “mà”. Nếu vàng cứng thì cần phải nướng cho mềm rồi mới kéo cho khỏi đứt. Chỉ vàng kéo xong, xoắn hai đầu vào nhau cho thật săn rồi mới đưa vào đậu. Dụng cụ làm đậu có “nia” và thước kẻ. Nỉa là hai lá sắt ghép vào nhau như chiếc panh, dùng để gắp sợi vàng uốn theo các hình mẫu rồng, phượng, hoa… định sẵn. Thước kẻ dùng để đo hoặc đánh dấu sợi vàng theo từng khấc, theo phân, li.

Có một cách làm hàng đậu tinh xảo hơn gọi là “sòi”. Sòi là cắt sợì vàng thành những hạt nhỏ li ti, tròn và đều nhau, dùng đèn và ống thổi đúc từng vụn vàng đặt trên miếng than mài phang cho đến khi vàng nóng chảy tự tròn lại, nhỏ như đầu kim trên mặt than, như vậy là sòi xong. Gắp những hạt sòi nhúng vào nhựa dính rồi đặt lên dát vàng theo các hình mẫu, dùng lông gà cắt chéo đầu, chấm vẩy hàn, lấy đèn và ống thổi để hàn.

Khi làm hàng đậu, nhựa dính rất quan trọng. Nhựa được chế từ hột giàng giàng mài ra trộn với hàn the đã phi. Hàn the được rửa thật kỹ, cho vào chậu đồng đựng nước sạch, đun tới khi nước cạn khô, còn hàn the kết lại như những miếng xốp. Người thợ nhẹ nhàng cạy từng mảng hơ vào lửa cho hàn the nở hết cỡ, sau đó đem tán nhỏ thành bột, rồi rang bột trên lửa nhỏ đều cho tới khi thật khô, để nguội, cất vào lọ dùng dần.

Trong nghề kim hoàn, làm đồ chạm là chảm trổ các hoạ tiết, hoa văn trên những đồ trang sức, đồ trang trí hay vật dụng bằng bạc như mặt nhẫn, mặt dây chuyền, chóp nón, ống vôi…

Ngoài ra, thợ kim hoàn Định Công còn làm dồ trả, tức là nhuộm màu cho củc đỗ trang sửc như hoa tai trâm cài đầu kìm cài áo bằng vàng, sáng bóng. Những đồ vật định trả được đem nướng đỏ trên bếp than rồi nhúng vào nước muối, tiếp đó đột những đồ vàng này vào chiếc nồi đất nhỏ, cùng với một chục miếng tai chua dà chẻ dùng nước mưa hứng giữa trời cho vào xâm xấp lưng nồi, đun trong khoảng ba giờ đồng hồ rồi lấy diêm sinh vàng cho vào sau đỏ cứ tiếp tục đun cho đến khi thấy đồ vật nhuổm màu đỏ vừa ý thì vớt ra, ngâm vào nước lạnh, tiếp tục dùng bàn chải mềm sát qua cho sạch, rồi hơ khô trên lò than. Đồ ra được màu hay không tuỳ thuộc vào tay nghề của người thợ khi pha muối, ưộn diêm sinh và chế biến quá tai chua. Tai chua được chế biến thành tửng miếng dày khoảng 2 – 3cm xếp từng lớp vào vại sành rồi vắt chanh vào đem phơi nắng, mỗi khi khô thì lại vẳt chanh tiếp vào và phơi cho tới khi hết 60 quả chanh thì thôi. Hỗn hợp tai chua và chanh được bảo quàn cẩn thận, không để bị ấm mốc, để dùng dần mỗi khi cần làm đồ trá.

Trải suốt chiều dài lịch sử dân tộc, người thợ kìm hoàn Định Công không ngừng đúc kết những kinh nghiệm truyền đời, đồng thời, không ngừng sáng tạo để nghề nghiệp ngày càng hoàn thiện. Họ đã, đang và sẽ tạo ra được những vẻ đẹp thật sự, quý hơn vàng bạc để trang điểm cho đời sống thêm phần tươi dẹp.

LÀNG GỐM BÁT TRÀNG

Bát Tràng là một làng gốm cổ truyền nổi tiếng bậc nhất của Việt Nam. Tên Bát Tràng đi vào lịch sử, đi vào cuộc sống của người Việt Nam từ rất lâu đời. Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng quen thuộc đối với người dân Việt Nam trong khắp cả nước, đồng thời, được ưa chuộng ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Bát Tràng cách trung tâm Hà Nội khoảng l0km có thể đi theo đường bộ và đường thuỷ để đến với Bát Tràng. Cho đến nay, người dân Bát Tràng vẫn lưu truyền những huyền tích về nguồn gốc của nghề gốm.

Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Đại La (Hà Nội), đổi tên là Thăng Long. Thăng Long trở thành trung tâm chính trị của nước Đại Việt. Đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương nhân, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp. Sự ra đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các làng xã xung quanh, trong đó có Bát Tràng. Đặc biệt, vùng này có nhiều đất sét trắng là một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm. Tương truyền, một số thợ gốm Bồ Bát đã di cư đến đây, cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là phường Bạch Thổ (phường Đất Trắng). Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn làm nguồn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh (Trung Quốc).

Vào khoảng thế kỷ XV – XVI, chính sách của nhà Mạc đối với công thương nghiệp có nhiều cởi mở, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá. Từ đó, sản phấm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn được các thương nhân đưa đến nhiều nơi trên thế giới.gốm bát tràng

Sau nhũng phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV, nhiều nước phát triển của Tây Âu tràn sang phương Đông. Các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… thành lập công ty, xây dựng căn cứ ở phương Đông để buôn bán. Hoạt động mậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á vốn có lịch sử lâu đời càng trở nên sôi động, lôi cuốn các nước trong khu vực vào hệ thống buôn bán châu Á và mở rộng tới thị trường thế giới đang hình thành. Trong lúc đó, nhà Minh (Trung Quốc) chủ trương cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài, khiến cho việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm gốm sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế. Đốn năm 1567, nhà Minh (Trung Quốc) bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng, nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan trọng sang Nhật Bản. Năm 1644, nhà Thanh (Trung Quốc) tái lập chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài, kéo dài cho đến năm 1684. Trong thời gian đỏ, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có đồ gốm Bát Tràng, không bị hàng hóa Trung Quốc cạnh tranh nên có điều kiện phát triển mạnh. Trong đó, mối quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản đặc biệt phát triển, nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản. Chỉ trong một thời gian ngắn, đồ gốm Bát Tràng đã mở rộng thị trường ở vùng Đông Nam Á.

Với đôi tay khéo léo, nhạy cảm và tài năng, người thợ gốm Bát Tràng đã thổi sức sống vào những khối đất vô tri vô giác và biến chúng thành vàng.

Để biến đất thành đồ gốm, người thợ gốm phải trải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là “Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò”.

Yếu tố quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét để làm gốm. Lúc đầu, người thợ Bát Tràng khai thác đất sét trắng ngay tại các gò xung quanh làng. Chất liệu này đảm bảo tinh dẻo, ít bã và ít phải gia cố trước khi tạo hình. Cho đến khoảng cuối thời Lê (thế kỷ XVII – XVIII), các gò đất sét trắng đã cạn kiệt, người thợ Bát Tràng phải dùng đất lầy ở vùng Rau (thị xã Sơn Tây), cổ Điển (thị trấn Phúc Yên, huyện Mê Linh) và đặc biệt khai thác đất sét trang ở Hồ Lao, Trúc Thôn vùng Đông Triều (Quảng Ninh).

Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, cần phải xử lý. Ngoài ra, tùy theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau, người thợ có những cách pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau.

Nhìn chung, khâu xử lý đất của người thợ gốm Bát Tràng thường không qua nhiều công đoạn phức tạp. Trong quá trình xử lý, tuỳ theo từng loại đồ gốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau.

Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối “vuốt tay, be chạch” trên bàn xoay. Trước đây, công việc này thường do phụ nữ thực hiện. Người thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn, rồi dùng chân quay bàn xoay, đồng thời dùng tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Trước khi đưa vào bàn xoay, đất đã được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thỏi rồi ném (”bắt nẩy”) để thu ngắn lại. Sau đó, thỏi đất được đặt vào giữa bàn xoay, thợ gốm dùng tay vỗ cho đất dính chặt rồi lại nén và kéo cho đất thật nhuyễn dẻo rồi mới “đánh cừ” đất và “ra hương” chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải.gốm bát tràng

Sau công đoạn kéo đất bằng tay và bằng sành đạt mức cần thiết, người thợ sẽ định hình sản phẩm. Sản phẩm được “xén lợi” và “bắt lợi” xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào “bửng”. Thợ “đắp nặn” gốm là những người thợ có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao. Có khi họ đắp nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họ đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ của một sản phẩm, sau đó tiến hành chắp ghép lại. Hiện nay, theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mỹ nghệ, nghệ nhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho yêu cầu sản xuất hàng loạt.

Quá trình tạo hình sản phẩm gốm theo khuôn in (khuôn thạch cao hay khuôn gỗ) được tiến hành như sau: đặt khuôn ở giữa bàn xoay, ghim chặt lại, láng lòng khuôn rồi ném mạnh thỏi đất để in sản phẩm vào giữa lòng khuôn cho bám chắc chắn, vét đất lên lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết để tạo sản phẩm. Ngày nay, thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến kỹ thuật “đúc” hiện vật. Muốn có hiện vật gốm theo kỹ thuật đúc trước hết phải chế tạo khuôn bằng thạch cao. Khuôn có cấu tạo từ đơn giản đến phức tạp. Loại đơn giản là khuôn hai mang, loại phức tạp thì thường có nhiều mang, tuỳ theo hình dáng của sản phẩm định tạo. Với cách tạo dáng này, trong cùng một lúc có thể tạo ra hàng loạt sản phẩm giống nhau, rất nhanh và giản tiện. Ngoài ra, thợ Bát Tràng còn dùng phương pháp đổ rót: đổ “hồ thừa” hay “hồ đầy” để tạo dáng sản phẩm.

Sau khi tạo dáng hoàn thành, sản phẩm mộc được phơi sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm. Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát Tràng vẫn thương sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay, phần nhiều các lò gốm đã sử dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần.

Sản phẩm mộc đã định hình cần đem “ủ vóc” và sửa lại cho hoàn chỉnh. Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách…), khoan lỗ trên các sản phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm. Những sản phẩm sửa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là “làm hàng bộ”, phải dùng bàn xoay thì gọi là “làm hàng bàn”.

Theo yêu cầu trang trí, thợ gốm có thể đắp thêm đất vào một vài vùng nào đó trên sản phẩm rồi cắt tỉa để tạo hình (đắp phù điêu), có khi phải khắc sâu các hoạ tiết trang trí trên mặt sản phẩm…

Để trang trí, thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn hoạ tiết. Thợ vẽ gốm phải có tay nghề cao, hoa văn họa tiết phải hài hoà với dáng gốm, các trang trí hoạ tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, khiến cho mỗi sản phẩm gốm là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao. Ngoài ra, thợ gốm Bát Tràng cũng đã sử dụng nhiều hình thức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu…

Gần đây, ở Bát Tràng xuất hiện kỹ thuật vẽ trên nền xương gốm đã nung sơ lần thứ nhất hoặc kỹ thuật hấp hoa, một lối trang trí hình in sẵn trên giấy decal, nhập từ nước ngoài. Hai kiểu trang trí này tuy đẹp nhưng là kiểu loại trang trí công nghiệp, không phải là truyền thống của Bát Tràng, không được coi là nghệ thuật và sáng tạo trong di sản gốm Bát Tràng, cũng như gốm Việt Nam nói chung.

Men tro là loại men đặc sắc của gốm Bát Tràng. Từ men tro, khi cộng thêm 5% đá (hỗn hợp ôxít sắt và ôxít mangan lấy ở Phù Lãng, Bắc Ninh) sẽ được men màu nâu. Từ thế kỷ XV, thợ gốm Bát Tràng đã chế tạo được loại men lam nổi tiếng. Loại men này được chế từ đá đỏ (có chứa ôxít côban), đá thối (chứa ôxít mangan) nghiền nhỏ rồi trộn với men áo. Men lam phát màu ở nhiệt độ 1.250°C. Đầu thế kỷ XVII, người thợ Bát Tràng dùng vôi sống, tro trấu và cao lanh màu hồng nhạt khai thác từ chùa Hội (Kinh Môn, Hải Dương) để điều chế thành công một loại men mới là men rạn.

Thợ gốm Bát Tràng thường sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt, tức là cho nguyên liệu đã nghiền lọc kỹ trộn đều với nhau rồi khuấy tan trong nước, đợi đến khi hỗn hợp lắng xuống thì loại bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các “dị” lơ lửng ờ giữa, đó chính là lớp mèn bóng để phủ bên ngoài đồ vật.

Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men, hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung. Thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh. Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông. Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải cỏ một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm, đồng thời cũng phải tính toán tính năng của mỗi loại men định tráng nên từng loại xương gốm, nồng độ men, thời tiết và mức độ khó của xương gốm… Kỹ thuật tráng men bao gồm phun men, dội men lên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men (đối với loại gốm nhỏ), nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là “kìm men”, và phức tạp hơn cả là hình thức ’’quay men” và ”đúc men”. Quay men là cách tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Đây là những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kỹ thuật vừa là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng được coi là bí quyết trong nghề nghiệp ở đây.

Sau khi tráng men, người thợ gốm tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm lần cuối trước khi đưa vào lò nung. Trước hết, cần phải kiểm tra kỹ lưỡng từng sản phẩm xem có chỗ nào khuyết men thì phải bôi quệt men bổ sung vào các vị trí ấy. Sau đó, họ tiến hành “cắt dò”, tức là cạo bỏ những chỗ dư thừa men, công việc này cũng gọi là “sửa hàng men”.

Khi các công việc chuẩn bị đã hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Bời vậy, giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng, trọng đại đối với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất thắp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ đế lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.

Trước đây, thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm. Sau này, ở Bát Tràng cũng xuất hiện thêm nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong thao tác hơn.

Sản phẩm mộc sau quá trình gia công hoàn chỉnh được đem vào lò nung. Cách thức xếp sản phẩm trong lò nung tuỳ thuộc vào sản phẩm và hình dáng, kích cỡ của bao nung dựa trên nguyên tắc vừa sử dụng triệt để không gian trong lò vừa tiết kiệm được nhiên liệu mà lại đạt hiệu nhiệt cao. Dựa theo cấu tạo khác nhau của mỗi loại lò mà việc chồng lò cũng có những đặc điểm riêng.

Sau khi nung xong, các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa được bịt hết lại để làm nguội lò từ từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò. Sản phẩm ra lò được đánh giá, phân loại và sửa chữa lại các khuyết điểm (nếu có thể được) trước khi đem ra phân phối, sử dụng.

Dựa vào ý nghĩa sử dụng, đồ gốm Bát Tràng có thể được phân chia thành 3 loại, gồm:

–   Đồ gốm gia dụng;

–   Đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng;

–   Đồ trang trí.

Về phong cách trang trí, trong khoảng thế kỷ XIV – XV, hình thức trang trí trên gốm Bát Tràng bao gồm các kiểu như khắc chìm, tô men nâu theo kỹ thuật gốm hoa nâu thời Lý – Trân, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam. Sang thế kỷ XVI, cùng với sự xuất hiện những chân đèn, lư hương có kích thước lớn hơn, kỹ thuật trang trí chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trình độ tinh xảo. Đề tài trang trí phổ biến có các loại: rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn thuỷ… Ở thế kỷ XVII, kỹ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng tinh tế, cầu kỳ, gần gũi với chạm đá và gỗ. Đề tài trang trí tiếp nối thế kỷ XVI, đồng thời xuất hiện các đề tài trang trí mới: tứ linh, hổ phù, nghê, hạc… Đến thế kỷ XVIII, trang trí chạm nổi gần như chiếm chủ đạo thay thế hẳn trang trí vẽ men lam trên gốm Bát Tràng. Ngoài đề tài sen, trúc, chim và hoa lá còn thấy xuất hiện các loại văn bát quái, lá lật… Hoa văn đường diềm phát triển mạnh các nền gấm, chữ vạn, cánh sen nhọn, hoa văn, sóng nước… Trong thế kỷ XIX, gốm hoa lam Bát Tràng phục hồi và phát triển phong cách kết hợp sử dụng nhiều loại men vào trang trí. Bên cạnh các đề tài đã có, gốm Bát Tràng còn xuất hiện thêm các đề tài du nhập từ nước ngoài theo các điển tích Trung Quốc như Ngư ông đắc lợi, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá hải, Ngư ông kéo lưới…

Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện qua mỗi thời kỳ khác nhau để tạo nên những sản phẩm đặc trưng khác nhau. Men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen sẫm. Men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và được vẽ theo kỹ thuật men lam. Men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hình đồ gốm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, đặc điểm của loại men này là mỏng, màu vàng ngà, bóng, thích hợp với các trang trí nổi tỉ mỉ. Men xanh rêu được dùng kết hợp với men trắng ngà và men nâu tạo ra một dòng Tam thái rât riêng của Bát Tràng ở thế kỷ XVI – XVII. Men rạn là dòng men chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối thế kỷ XVI và phát triển liên tục qua các thế kỷ XVII – XIX. Trong xu hướng ảnh hưởng kiểu dáng, đề tài và cạnh tranh thị trường với gốm sứ Trung Quốc, đồ gốm Bát Tràng ở thế kỷ XIX còn có nhiều trường hợp dùng nhiều màu men. Ví như, để thể hiện đề tài “Bát Tiên quá hải”, thợ gốm Bát Tràng dùng men nâu và men lam tô lên các hình trang trí rồi sau đó phủ men trắng rạn. Men lam cùng với men trắng vẽ các đề tài mã liễu, tiêu tượng, tùng lộc trên lư gốm men nâu, men lam vẽ cành liễu, khóm lan, bụi cỏ trong bức tranh nổi “Tô Vũ chăn dê”; men lam cùng với mẹn nâu sắc sẫm và nhạt tạo nên chiếc đỉnh gốm men nhiều màu đồ sộ. Đó cũng là bằng chứng sinh động về bàn tay tài khéo của nhiều đời thợ gốm Bát Tràng được kế thừa và không ngừng tiến triển.

Gốm Bát Tràng nhiều trường hợp có minh văn, thể hiện bằng khắc chìm hay viết bằng men lam dưới men trắng. Một số minh văn cho biết rõ năm sản xuất, họ tên, quê quán người chế tạo cùng họ tên, có khi là cả chức tước, của người đặt hàng. Hiện có rất nhiều sản phẩm gốm Bát Tràng có ghi minh văn. Những sản phẩm này hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, các bảo tàng nước ngoài, thuộc sở hữu của các nhà sưu tầm đồ cổ, hay lưu lạc trong dân gian và một số đáng kể vẫn còn chìm sâu trong lòng đất.

Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa… kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện và nhiều sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước, được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ. Làng gốm Bát Tràng thu hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất. Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc…

Miếng trầu là đầu câu chuyện

Trong phong tục Việt Nam có câu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. miếng trầu tuy không có nhiều giá trị vật chất nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không “ăn trầu cách mặt”, nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp.

Tiện đây ăn một miếng trầu

Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là

Quý nhau mời trầu, ghét nhau theo phép lịch sự cũng mời nhau ăn trầu, nhưng: “Cau sáu bổ ra thành mười”.

Miếng trầu là đầu câu chuyện
Miếng trầu là đầu câu chuyện

Đặc biệt “Miếng trầu là đầu câu chuyện” giao duyên giữa đôi trai gái:

“Lân la điếu thuốc miếng trầu, đường ăn ở dễ chiều lòng bạn lứa”.

Trầu vàng nhá lẫn trầu xanh

Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

Mời trầu không ăn thì trách móc nhau:

Đi đâu cho đổ mồ hôi

Chiếu trải không ngồi trầu để không ăn

Thưa rằng bác mẹ tôi răn

Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Khi đã quen hơi bén tiếng, trai gái cũng mượn miếng trầu để tỏ tình, đặc biệt là các chàng trai nhờ miếng trầu mà tán tỉnh:

Từ ngày ăn phải miếng trầu

Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu

Một thương, hai nhớ, ba sầu

Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi

“Có trầu, có vỏ, không vôi” thì môi không thể nào đỏ được chẳng khác gì “có chăn, có chiếu không người nằm chung”.

Cho anh một miếng trầu vàng

Mai sau a trả cho nàng đôi mâm

Yêu nhau chẳng lấy được nhau

Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già

Miếng trầu không đắt đỏ gì: “Ba đồng một mớ trầu cay” nhưng “Miếng trầu nên dâu nhà người”.

Xem thêm:  Phong tục cưới hỏi của người Việt

Ngày nay để răng trắng nhiều người không biết ăn trầu nữa, đặc biệt là ở thành phố. Nhưng theo tục lệ nhà ai có con gái gả chồng, sau khi ăn hỏi xong cũng đem cau trầu cau biếu hàng xóm và bà con nội ngoại. Vì miếng trầu là tục lệ, là tình cảm nên ăn được hay không cũng chẳng ai chối từ.

Thời xưa, ăn trầu còn sợ bị bỏ “bùa mê”,’“bùa yêu” nên người ta có thói quen:

Ăn trầu thì mở trầu ra

Một là thuốc độc hai là mặn vôi

Các cụ càng già càng nghiện trầu, nhưng không còn răng nên “Đi đâu chỉ những cối cùng chày” (Nguyễn Khuyến). Cối chày giã trầu làm bằng đồng, chỉ bỏ vừa miếng cau, miếng trầu, miếng vỏ nhưng trạm trổ rất công phu. Ngày nay không còn thấy có trên thị trường.

Vì trầu cau là “đầu trò tiếp khách”, lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến dùng trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng… nên têm trầu cũng đòi hỏi phải có mỹ thuật, đặc biệt là lễ cưới có trầu têm cánh phượng, có cau vỏ trổ hoa, “cau già dao sắc” thì ngon. Bày trầu trên đĩa, hạt cau phải sóng hàng, trầu vào giữa, đĩa trầu bày 5 miếng hoặc 10 miếng, khi đưa mời khách phải bưng hai tay. Tế gia tiên thì trầu têm, còn tế lễ thiên thần thì phải 3 là trầu phết một chút vôi trên ngọn lá và quả cau để nguyên.

Tục “cạy cửa ngủ thăm” của người Dao Tiền – Phú Thọ

Trên đất nước Việt Nam của chúng ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống. Mỗi dân tộc đều có những phong tục, tập quán mang những nét độc đáo, đặc sắc rất riêng. Bạn đã từng nghe nói đến lễ bỏ mả (ở Tây Nguyên), Chợ tình (ở Khau Vai – Hà Giang), Cướp vợ ( người Mông),  Dưới đây giới thiệu một phong tục rất đặc trưng của người Dao Tiền ở vùng núi Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: tục “Cạy cửa ngủ thăm”.

Bản Cỏi, xã Xuân Sơn thuộc huyện vùng cao Thanh Sơn – tỉnh Phú Thọ, nằm tựa lưng vào núi. Một bên giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình), phía bên kia giáp với huyện Phù Yên (Sơn La). Bản Cỏi được bao quanh bởi suối và núi non hùng vĩ. Nơi đây tập trung các dân tộc Dao, Mường sinh sống, cả bản có 66 hộ dân với 350 nhân khẩu.

Theo sự giải thích của người dân nơi đây, “ngủ thăm” có nghĩa là con trai, con gái đến tuổi trưởng thành đều có thể “Cạy cửa ngủ thăm” nhà nhau. Tuy nhiên, theo phong tục và quy định riêng của người Dao và người Mường từ bao đời nay, chỉ có con trai người Mường mới được lấy vợ người Dao, còn con trai người Dao không được lấy gái Mường.

Các cô gái đên tuổi trưởng thành, ban ngày đi làm các công việc đồng áng, tối đến đốt một ngọn đèn, buông màn sớm và nằm trong đó. Các chàng trai có nhu cầu tìm hiểu người con gáj mình sẽ lấy làm vợ, có thể tìm đến để “ngủ thăm”. Nếu đèn 1 trong buồng cô gái còn sáng, nghĩa là chưa có ai đến ngủ thăm chàng trai phải tự cạy cửa để vào nhà. Chàng trai có thể nằm xuống bên cạnh cô gái, cô gái sẽ tắt hoặc vặn nhỏ ngọn đèn. Hai người chỉ trò chuyện, tâm sự mà không được chạm vào người nhau. Sau một thời gian tìm hiểu, cô gái có quyền quyết định cho chàng trai đó “ngủ thật” hay không. Nhưng trước khi đi đến “ngủ thật”, cả hai đều phải thưa với bố mẹ để bố mẹ xem có hợp tuổi không. Nếu hợp tuổi, hai bên gia đình sẽ cho phép đôi bạn trẻ ngủ thật với nhau.

Tục "cạy cửa ngủ thăm" của người Dao Tiền - Phú Thọ
Tục “cạy cửa ngủ thăm” của người Dao Tiền – Phú Thọ

Khi thời gian ngủ thật bắt đầu cũng là lúc chàng trai phải đến làm công cho gia đình cô gái. Chàng trai cứ ngày đi làm cùng gia đình, tối về ngủ với cô gái mình có ý định tìm hiểu. Trong thời gian này, chàng trai không được về nhà mình, muốn về phải được gia đình cô gái cho phép. Nếu cô gái không thích chàng trai nữa thì cô gái sẽ gói quần áo cùng với một gói cơm nắm cho vào địu và bảo với chàng trai rằng: “Anh cứ về thôi!”, như thế có nghĩa là cô gái đã từ chối. Hoặc cũng có khi cô gái bảo: “Hôm qua, em nằm mơ thấy ác mộng”, đó cũng là một cách từ chối.

Xem thêm: Lễ cưới hỏi của người Dao – Điện Biên

Nếu bạn là người Kinh, bạn vẫn có thể “ngủ thăm” ở bất kỳ nhà một cô gái nào bạn thích, miễn là cô gái ấy chưa có ai đến “ngủ thật” và phải nhớ là bạn không được làm một điều gì “thiếu trong sạch” khi muốn thử cái phong tục diễm tình nguyên sơ rất độc đáo này. Cũng có khi gặp phải trường hợp cô gái để cho hai người con trai đến ngủ thăm nằm ở hai bên mình. Phong tục của họ cho phép như thế! Trong trường hợp này, cả hai chàng trai cùng tâm sự với cô gái, ai nói giỏi hơn thì người đó thắng.

Cho đến thời điểm này, các hãng lữ hàng vẫn chưa có Tour đưa khách đến Bản cỏi. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều du khách tìm đến đây để khám phá thiên nhiên hoang sơ, những phong tục tập quán độc đáo và đặc sắc “có một không hai” này. Để đến được Bản Cỏi,bạn có thể mua vé xe tuyến Hà Nội — Thanh Sơn (Phú Thọ) ở bến xe Kim Mã đến thị trấn huyện Thanh Sơn. Tại chợ thị trấn Thanh Sơn có rất nhiều mặt hàng của đồng bào các dân tộc quanh vùng mang đến bán hoặc trao đổi hàng hoá như thổ cẩm, đề lưu niệm, hàng tiêu dùng, đặc biệt là các loại thuốc nam. Giá nhà nghỉ ở đây, Ịà: 25 – 50 ngàn đồng/phòng giường đôi; nhà trọ: 5 – 10 ngàn đồng/người. Trung tâm thị trấn cũng có nhiều điểm vui chơi với giá cả rất rẻ và người dân ở đây rất thật thà và mến khách.

Từ thị trấn Thanh Sơn, bạn có thể thuê xe ôm đến Bản Cỏi, khoảng 50 – 70 ngàn đồng/xe 2 người cho quãng đường đồi núi, gập ghềnh.

Tục cướp vợ của người Mông

Người Mông có tục cướp con gái về làm vợ. Khi người con trai quen biết một người con gái và muốn cô gái đó làm vợ, họ sẽ đi cướp cô gái về nhà. Để cướp được cô gái về nhà, người con trai phải chiêu đãi, mời rượu một số người bạn cùng lứa tuổi để họ đi cướp giúp.

Tục cướp vợ của người Mông
Tục cướp vợ của người Mông

Chàng trai và bạn bè của anh có thể tìm cô gái ở chợ, ở đêm chơi trăng hay lúc đi làm nương. Khi đã cướp được cô gái về nhà, chàng trai lại phải mời rượu bạn để cảm ơn. Chàng trai sẽ phải nhờ chị gái của mình (hoặc em gái) trông không cho cô gái trốn khỏi nhà mình. Chị gái của chàng trai sẽ có mặt bên cô gái được cướp về suốt cả ba ngày đêm. Khi đã cướp cô gái về nhà mình được một ngày, bố mẹ chàng trai sẽ nhờ một người đàn ông, gia đình phúc lộc đi làm mối cho con mình. Người làm mối (tua lểnh xa) còn được coi là bố mới (xí xi xu) của chàng trai nếu như đôi bạn trẻ nên vợ nên chồng. Người mối này sẽ để 11 rượu vào sừng trâu chở đi đến nhà gái với mục đích hỏi xem gia đình bên nhà gái cần những gì cho việc cưới của con. Khi người mối đến nhà không được đi vào gian giữa mà phải vào cửa phụ và ngồi ở bếp lò. Ông mối sẽ mời mọi người uống rượu đã mang sẵn từ nhà đến. Chỉ cần những cử chỉ như vậy là bố mẹ nhà gái biết được họ hỏi lấy con gái mình.

Xem thêm:

Hát trao dâu trong đám cưới người Giáy

Lễ cưới hỏi của người Dao – Điện Biên

Nhà gái đi mời một người đàn ông phúc phận tốt để thay mặt nhà gái thách cưới cho khách quan Ông mối này có quyền thách những thứ cần thiết, số lượng phù hợp như những đám cưới khác. Hai ông mối này còn mang tính chất là hai người làm chứng của hai gia đình. Nếu đôi trái gái ưng thuận lấy nhau thì lễ vật nhà trai đem đến phải đầy như ông mối của nhà gái thách cưới, không được thiếu một thứ gì. Từ lúc cướp được cô gái về đến lúc cưới trong vòng 3 tháng Đây là thời gian cần thiết để nhà trai chuẩn bị những thứ cần thiết cho lễ cưới. Nếu sau 3 ngày kể từ ngày cướp cô gái về, cô gái không đồng ý làm vợ chàng trai thì xin phép nhà trai cho hai bát rượu – cô gái sẽ bưng mời chàng trai một bát và uống cạn một bát, cảm ơn chàng trai đã yêu thương đến mình, đồng thời cô gái cũng nói lên điều trân trọng của mình với chàng trai đó và xin chỉ làm bạn. Trong trường hợp này, chàng trai sẽ nài nỉ và nói nên tâm tình của mình. Nếu cô gái thay đổi thì họ sẽ lấy nhau. Nếu cô gái không thay đổi thì cả hai bên cùng uống cạn bát rượu và cô gái xin phép ra về. Trong trường hợp cô gái đồng ý làm vợ thì tâm sự với người chị gái của chàng trai. Sau đó người chị gái sẽ nói với chàng trai và gia đình chuẩn bị những thứ cần thiết cho những việc tiếp theo. (Chị gái của chàng trai ở với cô gái không chỉ để trông nom, giúp đỡ mà còn thuyết phục cô gái đồng ý làm vợ em trai mình). Sau 3 ngày, để chuẩn bị đám cưới, nhà trai làm bánh dầy để cho em trai và em gái đưa vợ chưa cưới của chàng trai về nhà mẹ đẻ. Cô gái về nhà để báo với bố mẹ mình là đồng ý làm vợ chàng trai và xin phép bố mẹ để sang bên đó ở. Cô gái đem theo quần áo, đồ thêu của mình sang nhà trai ở. Thời gian ở bên nhà trai trước khi cưới 3 tháng cô gái đi lại cả hai bên và làm việc thêu thùa chuẩn bị cho ngày cưới. Sau 3 tháng ở nhà trai để làm quen với sinh hoạt nhà chồng và chuẩn bị xong trang phục cưới, nhà trai cũng chuản bị xong lễ cưới. Họ đưa cô gái về nhà bố mẹ đẻ và xin phép ngày tổ chức cưới. Lễ cưới được tổ chức tại nhà gái trong vòng 1 ngày đêm. Trong đám cưới diễn ra các cuộc mời rượu, hát đối giữa các thanh niên nam nữ của hai họ. Trước khi về ở hẳn nhà chồng, cô gái sẽ phải thắp hương cúng tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma cột cái… các ma tốt trong gia đình để bái về việc con gái đi ở với chồng. Khi về nhà chồng, chỉ tổ chức mâm cơm trong nội tộc và cúng tổ tiên gia đình nhà trai là xong lễ cưới. Cô dâu sẽ ở nhà chồng chính thức từ đây. Người Mông quan niệm về hôn nhân không khắt khe như các dân tộc khác. Anh em trong vòng ba đời nội tộc có thể lấy được nhau hoặc con dà, con dì cũng có thể lấy được nhau. Đây là kiểu quan niệm về hôn nhân khép kín từ xa xưa để lại nhằm bảo vệ một cách tuyệt đối về tài sản của họ cho con cháu.